TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------
NGUYỄN THỊ CHUYỀN
VẬN DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
NÊU VẤN ĐỀ VÀO VIỆC DẠY HỌC BÀI
PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo –
TS Phạm Kiều Anh – ngƣời đã trực tiếp tạo điều kiện hƣớng dẫn, giúp đỡ, chỉ
bảo tận tình để tôi hoàn thành khoá luận này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Ngữ Văn,
đặc biệt là các Thầy, Cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ Văn và các
bạn sinh viên trong nhóm khoá luận đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28tháng4năm 2017
Sinh viên thực hiện
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
NNSH
: Ngôn ngữ sinh hoạt
NXB
: Nhà xuất bản
PPDH
: Phƣơng pháp dạy học
PC
: Phong cách
PCCNNN
: Phong cách chức năng ngôn ngữ
PCNNSH
1.1. Phong cách chức năng ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ....... 6
1.1.1. Giới thiệu chung về phong cách chức năng ngôn ngữ ....................... 6
1.1.2. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ......................................................... 7
1.2. Dạy học nêu vấn đề ............................................................................ 11
1.2.1. Dạy học nêu vấn đề trong giáo dục................................................ 11
1.2.2. Các mức độ của dạy học nêu vấn đề................................................. 12
1.2.3. Câu hỏi nêu vấn đề.......................................................................... 14
1.3. Cơ sở thực tiễn ................................................................................... 17
1.3.1. Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường THPT.... 17
1.3.2. Điều tra, khảo sát thực trạng học Tiếng Việt ở trường THPT ............ 18
1.3.3. Đánh giá chung ............................................................................... 19
Chƣơng 2: DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT” CÓ
SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ.................................... 21
2.1. Mục đích của việc dạy bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt”.............. 21
2.2. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề khi dạy học bài “Phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt” ................................................................................. 21
2.2.1. Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh................. 21
2.2.2. Nguyên tắc khoa học ....................................................................... 22
2.2.3. Nguyên tắc rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh........................... 22
2.3. Xác định cơ sở khoa học của hệ thống câu hỏi nêu vấn đề khi dạy bài
“Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” ............................................................ 23
2.3.1. Nội dung bài dạy ............................................................................. 23
2.3.2. Xác định nội dung vận dụng câu hỏi dạy học nêu vấn đề................... 24
2.3.3. Xác định mức độ các câu hỏi dạy học nêu vấn đề.............................. 27
2.3.4. Xác định các phương pháp dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ sinh
hoạt” có sử dụng câu hỏi nêu vấn đề ......................................................... 31
2.4. Quy trình dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” (Ngữ văn 10) có
sử dụng câu hỏi nêu vấn đề ....................................................................... 36
giáo dục, DHNVĐ đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm, nhiều giáo viên (GV) đã
và đang từng bƣớc vận dụng vào tổ chức quá trình dạy học.Việc dạy học Ngữ
văn ở nhiều trƣờng THPT cũng đã và đang có sự ứng dụng mô hình dạy học
này. Có thực tế trên là bởi mô hình dạy học này phù hợp với quan điểm đặt ra
trong quá trình dạy học là lấy ngƣời học làm trung tâm. Theo mô hình đó,GV
sẽ là ngƣời tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức điều khiển để HS phát hiện
vấn đề thông qua đó mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng nhằm đạt đƣợc mục tiêu dạy
học. Việc nghiên cứu cách vận dụng mô hình này, cùng với việc sử dụng tình
1
huống, câu hỏi nêu vấn đề (CHNVĐ) vào những bài học cụ thể sẽ giúp cho
GV tìm ra những cách thức tổ chức dạy học hiệu quả.
Hiện nay, cùng với sự đổi mới về phƣơng pháp dạy học, nội dung
chƣơng trình SGK Ngữ văn, phần tiếng Việt cũng có những thay đổi nhất
định so với trƣớc đây. Bởi vậy, dạy học tiếng Việt cũng có những thay đổi
cho phù hợp với yêu cầu đổi mới của giáo dục. Dạy học tiếng Việt trên cơ sở
nêu vấn đề là một kiểu dạy học mới, nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo
của HS.
“Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” là một trong những bài dạy về phong
cách chức năng ngôn ngữ. Mục đích của nó là giúp HS biết sử dụng ngôn
ngữ, theo đúng phong cách, đúng lĩnh vực và mục đích giao tiếp. Theo đó,
việc tìm và đề ra cách vận dụng CHNVĐ trong bài “Phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt” là một gợi ý để tìm ra hình thức tổ chức giờ học tiếng Việt nhằm
tạo ra hứng thú học tập cho các em.
Từ những căn cứ trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Vận dụng hệ
thống câu hỏi nêu vấn đề vào dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt”.
2. Lịch sử vấn đề
Vào những năm 70 của thế kỉ XIX, thuật ngữ DHNVĐ đƣợc sử dụng
dạy một bài học cụ thể trong chƣơng trình giáo dục phổ thông. Với nhận thức
đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra những cách thức tổ
chức dạy học từng nội dung kiến thứcđể hoạt động dạy học đạt hiệu quả.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm xác định đƣợc khả năng ứng dụng
DHNVĐ vào giờ dạy học tiếng Việt thông qua việc sử dụng CHNVĐ, từ đó
tìm ra những cách thức tổ chức dạy học tiếng Việt nói chung, dạy học bài
“Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” nói riêng đạt hiệu quả.
3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài: Vận dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề vào việc
dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt”, chúng tôi xác định những
nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
- Tổng hợp hệ thốngcơ sở khoa học về DHNVĐ và CHNVĐ vào dạy
bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” ở trƣờng THPT.
- Nghiên cứu khả năng và tác dụng của việc sử dụng CHNVĐ vào dạy
học bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt”.
- Đề xuất cách thức sử dụng CHNVĐ vào thiết kế dạy học bài “Phong
cách ngôn ngữ sinh hoạt” ở trƣờng THPT.
- Bƣớc đầu đánh giá tính hiệu quả và khả năng thực thi của việc sử
dụng CHNVĐ bằng dạy học thực nghiệm.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra trên đây, khóa luận tập trung
vào tìm hiểu hệ thống CHNVĐ nhằm tìm ra những cách thức tổ chức hoạt
động dạy học theo hƣớng phát huy tính tích cực độc lập của HS.
5
NỘI DUNG
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Phong cách chức năng ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
1.1.1. Giới thiệu chung về phong cách chức năng ngôn ngữ
Theo Saclo Bali – ngƣời đề xƣớng quan điểm nghiên cứu phong cách
họcvà coi đối tƣợng của phong cách học là các yếu tố biểu cảm của ngôn ngữ
thì:“Phong cách học nghiên cứu tính biểu cảm –gợi cảm ở các yếu tố của hệ
thống ngôn ngữ, đồng thời nghiên cứu sự phối hợp của các sự kiện lời nói có
khả năng tạo nên các hệ thống, các phương tiện biểu cảm – gợi cảm của ngôn
ngữ”. Còn nhà nghiên cứu Cù Đình Tú thì: “Phong cách học”là một bộ phận
của ngôn ngữ học nghiên cứu nguyên tắc, quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa
chọn; sử dụng toàn bộ các phƣơng tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội
dung tƣ tƣởng, tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng nhất
định”[10, 17].
Với các quan niệm nhƣ trên, chúng ta có thểkhẳng định phong cách học
là một lĩnh vực của ngôn ngữ học mà trong đó các nhà khoa họcquan tâm tới
việc nghiêncứu vai trò của các yếu tố biểu cảm – cảm xúc trong quá trình sử
dụng ngôn ngữ. Tuy nhiên, nói nhƣ vậy không có nghĩa là phong cách học chỉ
khai thác mặt biểu cảm mà nó cònnghiên cứu nhiểu vấn đề khác nhau trong
ngôn ngữ. Và phong cách chức năng ngôn ngữ (PCCNNN) là một trong
những nội dung cơ bản nhất của nghiên cứu phong cách học.
Việc phân loại các phong cách chức năng (PCCN) là một vấn đề đã
đƣợc đặt ra từ thời Mĩ từ pháp cổ đại với lƣợc đồ bánh xe phong cách của
Virgile. Riêng ở Việt Nam vấn đề này chỉ mới thực sự quan tâm từ khi có các
giáo trình về phong cách học. Cụ thể là trong quyển Giáo trình Việt ngữ, tập 3
của Ðinh Trọng Lạc xuất bản năm 1964. Từ đó đến nay đã có rất nhiều quan
7
nhƣ vậy đã tạo nên một PCCNNN riêng – PPNNSH. Nhƣ vậy, có thể hiểu
PCNNSH là cách sử dụng ngôn ngữ thích hợp để xây dựng lớp phát ngôn
(văn bản) trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và nó tạo ra những đặc trƣng cơ
bản cho PCNN này. Chúng ta có thể xem xét PCNN này qua ngữ liệu dƣới đây:
“Bác Phô gái, dịu dàng, đặt cành cau lên bàn, ngồi xổm ở xó cửa, gãi
tai, nói với ông lí:
- Lạy thầy, nhà con thì chưa cất cơn, mấy lại sợ thầy mắng chửi, nên
không dám đến kêu. Lạy thầy, quyền phép trong tay thầy, thầy tha cho nhà
con, đừng bắt nhà con đi xem đá bóng vội.
- Ồ, việc quan không phải thứ chuyện đàn bà của các chị!
- Thì lạy thầy, thế này, làng nhà ta thì đông, thầy cắt ai không được.
Tại nhà con ốm yếu, nên xin thầy hoãn cho đến lượt sau.
- Ốm gần chết cũng phải đi. Lệnh quan như thế. Ai cũng lấy cớ ốm yếu
mà không đi, thì người ta đá bóng cho chó xem à?
- Thưa thầy, giá nhà con khoẻ khoắn, thì nhà con chả dám kêu. Nhưng,
thưa thầy, từ đây lên huyện, những chín cây lô mếch, sợ nhà con đi nắng thì
cảm, rồi lại phải thì oan gia.
- Đây không biết, mà đây cũng không nghe đâu. Vợ chồng thu xếp với
nhau thế nào, đây mặc kệ!” [8, 174].
Nói tới PCNNSH, ngƣời ta thƣờng nhắc tớiba đặc trƣng cơ bản là:
Tính cụ thể là đặc trưng đầu tiên của PCNNSH. Nó có đặc trƣng này là
bởiđặc điểm nổi bật của PCNNSH là tránh lối nói trừu tƣợng, chung chung,
thích lối nói cụ thể, nổi bật làm cho sự vật không phải chỉ đƣợc gọi tên mà
còn đƣợc hiện lên với những hình ảnh, âm thanh rõ rệt. Tính cụ thể đã làm
cho sự giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày trở nên dễ dàng, nhanh chóng,
ngay cả trong những trƣờng hợp phải đề cập đến vấn đề trừu tƣợng. Đặc trƣng
qua xem xét ngữ liệu sau:
9
(Cuộc trò chuyện giữa Lan, Nga, Long trong lớp học.)
- Ê! Chiều đến sinh nhật mình nhé! (Lan mời Nga)
- Tiếc nhỉ! Chiều đi học rồi! (tiếng Nga nhỏ nhẹ)
- Lắm chuyện! Nghỉ buổi có sao? Bạn bè thế đấy!(giọng Lan trách móc,
giận dỗi)
- Thông cảm cho nó! Nó phải đi học mà!(tiếng Long tiếp lời)
- Chuyện của cậu à!(tiếng Lan bực tức)
Nhƣ vậy, thông qua đoạn hội thoại, chúng ta thấy rằng việc sử dụng
ngôn ngữ sinh hoạt trong đời sống thể hiện rõ những tƣ tƣởng, tình cảm, thái
độ của ngƣời nói và ngƣời nghe. Đó là một trong những yếu tố quan trọng
giúp ngƣời nghe, ngƣời đọc hiểu rõ đƣợc nội dung hội thoại. Không có một
lời nói nào nói ra lại không mang tính cảm xúc.
Đặc trưng thứ ba của PCNNSH là tính cá thể. Tính cá thể của
PCNNSH thể hiện ở vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi khi trao đổi, chuyện trò, tâm
sự với ngƣời khác. Ngôn ngữ là công cụ chung dùng để giao tiếp trong một
cộng đồng nhƣng ở mọi ngƣời có sự vận dụng và thể hiện không giống nhau
do nhiều nguyên nhân nhƣ: nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, tâm lí, tính cách,
trình độ học vấn, văn hoá... Ðặc trƣng này khiến cho sự thể hiện của PCNN
này cực kì phong phú, phức tạp, đa dạng. Chẳng hạn nhƣ:
“Ông Năm Hên đáp:
- Sáng mai sớm, đi cũng không muộn. Tôi cần một người dẫn đường
đến ao cá sấu đó. Có vậy thôi! Chừng một giờ đồng hồ sau là xong chuyện!
Sấu ở ao giữa rừng, tôi bắt nhiều lần rồi. Bà con cứ tin tôi. Xưa nay, bị sấu
bắt là người đi ghe xuồng hoặc ngồi rửa chén dưới bến, có bao giờ sâu rượt
người ta giữa rừng mà ăn thịt? Tôi đây không tài giỏi gì hết, chẳng qua là
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu DHNVĐ là sự tổ chức quá trình
dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích ở
HS nhu cầu giải quyết những vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động
11
nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển
tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và
lĩnh hội thông tin khoa học mới. Chúng ta có thể khẳng định thực chất của
việc DHNVĐ là việc GV tạo ra những tình huống học tập có vấn đề, sau đó
đặt câu hỏi nêu vấn đề (CHNVĐ) để định hƣớng cho chủ thể học tập tham gia
tìm hiểu, khám phá và xây dựng nội dung bài học. Từ đó HS suy nghĩ, thảo
luận, giải đáp dƣới sự định hƣớng của GV. Trong quá trình đó GV vừa là
ngƣời cung cấp thông tin vừa truyền đạt kiến thức bằng cách nêu vấn đề để
HS lĩnh hội; tích cực suy nghĩ trong học tập; đồng thời tạo không khí trong
lớp học để giờ học đạt hiệu quả cao nhất.
DHNVĐ là một kiểu dạy học hiện đại đáp ứng yêu cầu đổi mới phƣơng
pháp dạy học hiện nay trong nhà trƣờng. DHNVĐ không chỉ truyền thụ cho
HS một lƣợng kiến thức khoa học cần thiết mà còn đạt đến mức giáo dục, xây
dựng cho HS cách học tập khoa học. Các nhà nghiên cứu đều khẳng định
DHNVĐ là một kiểu dạy học sáng tạo khác với dạy học truyền thống về bản
chất, mục đích cũng nhƣ phƣơng tiện thực hiện. Kiểu dạy học này đƣợc thực
hiện dựa trên nguyên tắc tích cực, tự giác,độc lập nhận thức của ngƣời học
trong giáo dục bởi vì nó khêu gợi đƣợc động cơ học tập của HS.
1.2.2. Các mức độ của dạy học nêu vấn đề
Từ bản chất của DHNVĐ, có thể xác địnhkiểu dạy học này thành ba
mức theo tính tự lực học tập, tìm tòi tăng dần là: Trình bày tính có vấn đề; tìm
tòi từng phần (ơrictic); mức độ nghiên cứu.
Thứ nhất, trình bày tính có vấn đề. Đƣợc thể hiện quan hoạt động GV
ra không đủ những dữ liệu cần thiết. Nhắc tới DHNVĐ là ngƣời ta nhắc tới
tình huống có vấn đề và CHNVĐ. Xét riêng về tình huống có vấn đề, có
thể khẳng định:
Tình huống có vấn đề là tình huống mà ở đó gợi cho ngƣời học những
khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết phải vƣợt qua và có khả
13
năng vƣợt qua nhƣng không phải là ngay tức thời nhờ một thuật giải mà cần
phải có quá trình tƣ duy tích cực, vận dụng, liên hệ những tri thức cũ liên
quan. Bởi vậy, theo M.I.Macmutop tình huống có vấn đề là sự trở ngại về trí
tuệ của con ngƣời, xuất hiện khi ngƣời đó chƣa biết cách giải thích hiện
tƣợng, sự kiện của quá trình thực tại. Tình huống có vấn đề phải bộc lộ đƣợc
sự mâu thuẫn giữa thực tiễn và trình độ nhận thức, chủ thể phải ý thức đƣợc
một khó khăn trong tƣ duy hoặc hành động mà vốn hiểu biết sẵn có chƣa đủ
để vƣợt qua. Tình huống phải bộc lộ đƣợc sự khiếm khuyết về nhận thức và kĩ
năng của HS, để các em thấy cần thiết phải bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện tri
thức, bằng cách tham gia vào hoạt động giải quyết vấn đề. HS trong quá trình
nhận thức vốn tri thức chung của nhân loại, đã gặp phải những tình huống
vƣợt qua vốn hiểu biết của bản thân từ đó sẽ xuất hiện vấn đề học tập. Trong
quá trình dạy học, GV phải tạo ra những tình huống phù hợp với khả năng của
từng HS, có tỷ lệ hợp lí giữa cái chƣa biết và cái đã biết. Vấn đề đƣợc đặt ra
phải vừa sức với HS, nếu vấn đề đặt ra quá dễ hoặc quá khó thì sẽ không
mang lại hiệu quả.
1.2.3. Câu hỏi nêu vấn đề
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề. Theo I.IA.Lec – Nhe:
“Vấn đề là một câu hỏi nảy ra hay đặt ra cho chủ thể, mà chủ thể chưa biết
lời giải từ trước và phải tìm tòi sáng tạo lời giải, nhưng chủ thể đã có sẵn một
số phương tiện ban đầu sử dụng vào việc tích hợp tìm tòi đó”. Vấn đề vừa là
tuổi . . . Việc trả lời những CH này cho thấy HS có khả năng diễn tả bằng lời
nói, nêu ra đƣợc các yếu tố cơ bản trong nội dung bài học.
Thứ ba: CH vận dụng. Đây là loại CH không thể thiếu trong quá trình
dạy học. Loại CH này đƣợc xây dựng trên mức độ “vận dụng”. Mục tiêu của
loại CH này là để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các khái niệm, các
quy luật. . . Thông qua các câu trả lời của HS, GV có thể đánh giá khả năng
15
hiểu vấn đề của HS. Khi đặt CH cần tạo ra những tình huống mới, kích thích
tƣ duy của HS.
Thứ tư: Loại CH phân tích. Loại CH này ứng với mức độ lĩnh hội 4
“phân tích” trong thang nhận thức. CH này nhằm kiểm tra khả năng phân tích
nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh
một luận điểm. Khi trả lời CH này cho thấy HS đã hiểu đƣợc vấn đề, có khả
năng tìm hiểu và đi đến kết luận. Các CH phân tích đòi hỏi HS phải giải thích
đƣợc các nguyên nhân từ thực tế.
Tiếp đó là loại CH không thể không nhắc tới là CH tổng hợp. Loại CH
này ứng với mức độ lĩnh hội “tổng hợp”. Mục tiêu của CH loại này là để kiểm
tra xem HS có thể đƣa ra những dự đoán, giải quyết vấn đề, đề xuất CH có
tính sáng tạo. Để trả lời CH tổng hợp, HS phải dự đoán, giải quyết vấn đề để
đƣa ra các câu trả lời sáng tạo. GV cần lƣu ý rằng loại CH này đòi hỏi một
thời gian chuẩn bị khá dài vì vậy cần phân bố thời gian hợp lí để HS tìm ra
câu trả lời.
Thứ năm: CH đánh giá. Đây là loại CH đƣợc phân loại trên mức độ lĩnh
hội “đánh giá”. Khi sử dụng loại CH này, GV có thể kiểm tra xem HS có thể
đóng góp ý kiến và đánh giá các ý tƣởng, giải pháp trên những tiêu chuẩn đã
đề ra.
Bởi vậy, trong quá trình dạy học, CHNVĐ là một trong những yếu tố
pháp dạy học truyền thống, GV truyền tải kiến thức đến HS một chiều, cách
dạy khô khan, chƣa áp dụng những đổi mới trong quá trình dạy học, không
thu hút đƣợc sự chú ý của các em. Từ đó nhiều GV đã nhận thức đƣợc vai trò
và tầm quan trọng của việc sử dụng CHNVĐ trong giờ học, nhận thấy ƣu
điểm rõ rệt của kiểu DHNVĐ nhằm phát huy khả năng học tập, tính tích cực,
chủ động sáng tạo của HS đồng thời gây đƣợc hứng thú học tập trong bản
thân mỗi ngƣời học.
17
“Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” là một trong những phong cách ngôn
ngữ đƣợc đƣa vào chƣơng trình dạy học. Trong giờ dạy học lý thuyết về
phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, nhiều GV mới chỉ thực hiện theo định hƣớng
trong SGK, SGV, các nội dung lý thuyết và thực hành gắn liền với SGK.
Trong giờ dạy học, thông thƣờng GV đƣa ra hệ thống CH gợi ý, hƣớng dẫn
HS phân tích ngữ liệu từ đó hình thành kiến thức cơ bản của bài học. Bên
cạnh đó, GV hƣớng dẫn HS vận dụng kiến thức đã học để giải quyết bài tập
và nắm chắc kiến thức đã học.
Khi khảo sát chƣơng trình nhận thấy thời gian dành cho bài dạy theo
phân phối chƣơng trình gồm hai tiết, các tiết dạy kết hợp giữa lí thuyết và bài
tập thực hành. Tuy nhiên, trong quá trình dạy học GV chƣa có điều kiện để
mở rộng, việc vận dụng bài học vào trong thực tế còn hạn chế.
1.3.2. Điều tra, khảo sát thực trạng học Tiếng Việt ở trường THPT
Bên cạnh việc khảo sát ý kiến của GV, chúng tôi tiến hành điều tra,
thăm dò HS của 2 lớp 10A2 và 10A5 trƣờng THPT Phúc Yên. Khi tiến hành
điều tra chúng tôi đã lập phiếu điều tra HS với 5 CH và 50 HS về tình hình
học tập, điều kiện học tập, phƣơng pháp học tập và thái độ của HS trong giờ
học. Phiếu điều tra và kết quả đƣợc thể hiện trong phần phụ lục.
Từ những điều tra đó chúng tôi có những nhận định rằng: Đa số HS coi
nghe và chữa bài. Đó là một trong những vấn đề cần phải khắc phục ở HS
hiện nay.
1.3.3. Đánh giá chung
Qua quá trình khảo sát điều tra vận dụng DHNVĐ vào bài “Phong
cách ngôn ngữ sinh hoạt”chúng ta thấy đƣợc hiệu quả của việc sử dụng
CHNVĐvào quá trình dạy học Tiếng Việt. Đó là giúp các em HS tiếp thu kiến
thức, kĩ năng khi sử dụng ngôn ngữ đƣợc hiệu quả hơn.
Từ thực trạng dạy và học của GV và HS nhƣ trên ta thấy: Để việc dạy
học Tiếng Việt thực sự đạt hiệu quả, HS chủ động, sáng tạo trong học tập, HS
19