Phân tích nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc: “Giải quyết vu
việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dung” đối
với quá trình giải quyết vu việc dân sự.
A. MỞ ĐẦU
Sự ra đời của pháp luật cho đến nay là bắt nguồn từ những nhu cầu
thường ngày của con người, đó là tất cả những nhu cầu vật chất và tinh thần
đơn giản nhất, thiết yếu nhất. Từ đó, pháp luật là công cụ, phương tiện để
phục vụ, bảo vệ lợi ích cho các thành viên trong xã hội của một nhà nước nói
chung và giai cấp cầm quyền nói riêng. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử
sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, đựợc nhà nước đảm bảo thực hiện
nhằm điểu chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam thực hiện
cải cách nền tư pháp để bắt kịp xu hướng của thế giới, đây cũng là thời điểm
Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015 được ban hành và đi vào thực tiễn.
Song song với đó là sự xuất hiện của những chế định mới phù hợp với quy
định của Hiến pháp cũng như đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp đề ra.
Trong đó, một quy định được xem là bước tiến bộ vượt bậc về vấn đề
bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân. Đó là nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải
quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” quy định tại
Khoản 2, Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nhận thấy đây là một vấn đề
mới mẻ, còn nhiều khúc mắc, sinh viên xin lựa chọn chủ đề “Phân tích nội
dung và ý nghĩa của nguyên tắc: “Giải quyết vụ việc dân sự trong trường
hợp chưa có điều luật để áp dụng” đối với quá trình giải quyết vụ việc dân
sự” để làm rõ về vấn đề này.
1
B. NỘI DUNG
I. Một số khái niệm cần làm ro
Thương mại 2005, tuy nhiên để phù hợp với phạm vi môn học, sinh viên xin
được nêu ra khái niệm tập quán được quy định tại khoản 1, Điều 5, Bộ luật
dân sự 2015 như sau: “Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác
định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể,
được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa
nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư
hoặc một lĩnh vực dân sự.”.
3. Tương tự pháp luật
Áp dụng tương tự pháp luật là dùng những quy phạm pháp luật đang
có hiệu lực đối với những quan hệ tương tự như quan hệ cần xử lý để điều
chỉnh quan hệ cần xử lý đó, nhưng không có quy phạm trực tiếp điều chỉnh.
Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự trong trường
hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không quy định và không có tập
quán được áp dụng.
4. Các nguyên tắc cơ bản của Luật dân sự
Nguyên tắc của Luật dân sự là những quy tắc chung được pháp luật
quy định có vai trò định hướng và chỉ đạo toàn bộ các quy phạm của Luât dân
sự. Các nguyên tắc của Luật dân sự được quy định cụ thể tại điều 3, BLDS
2015 và thể hiện ở hầu hết các điều khoản của Luật dân sự, phản ánh đặc
trưng cơ bản của Luật dân sự. Các nguyên tắc của Luật dân sự có ý nghĩa
quan trọng trong việc áp dụng đúng đắn Luật dân sự, ngoài ra chúng còn là cơ
sở để áp dụng pháp luật trong những trường hợp các quan hệ xã hội chưa có
sự điều chỉnh bằng pháp luật.
5. Án lệ
Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân
tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử2.
2 Điều 1 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngay 28/10/2015, Hội đồng thẩm phan Tòa an nhân dân tối cao
cơ quan xét xử gặp không ít khó khăn vì không có cơ sở để giải quyết, mặc dù
3 Trích Khoản 3 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sư 2015
4 Nguyễn Long, Nguyên tắc giải quyết vụ, việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng, Bao
điên tư Kiêm sat online, 18/08/2016.
4
có nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân
và tập thể, vi phạm trực tiếp đến phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Thực tiễn đã chứng minh có rất nhiều trường hợp như vậy đã xảy ra, ví
dụ: quan hệ hụi, họ ở Việt Nam đã tồn tại rất lâu nhưng đến năm 2005 Bộ luật
Dân sự mới quy định về hụi, họ, biêu, phường mặc dù các vụ việc dân sự liên
quan đến hụi, họ xảy ra trước thời điểm này rất nhiều nhưng Tòa án không có
cơ sở pháp lý để xem xét, giải quyết. Hoặc quan hệ hôn nhân cùng giới tính,
trước đây, pháp luật nước ta từng cấm quan hệ hôn nhân này, nhưng thực tế
cho thấy đây là sự thật khách quan không chỉ ở Việt Nam mà rất nhiều nước
trên thế giới đã và đang tồn tại và thậm chí rất nhiều nước tiến bộ đang dần
công nhận quan hệ hôn nhân này. Ở Việt Nam, dù pháp luật hiện hành không
công nhận quan hệ hôn nhân đồng giới nhưng thực tiễn những người cùng
giới vẫn kết hôn theo cách truyền thống, chung sống với nhau như vợ chồng,
cùng tạo lập tài sản và có con chung. Do vậy, khi có phát sinh tranh chấp về
những vấn đề mới này, quy định “Giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp
chưa có điều luật để áp dụng” đòi hỏi Tòa án phải vận dụng tập quán, tương
tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải
quyết, chứ không được từ chối thụ lý như trước đây.
Điều luật này có thể gây ra nhiều hiểu nhầm rằng nó trái với nguyên tắc
chung của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định tại Điều 3, BLTTDS
2015: “Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”5 . Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cho nên với những tranh chấp dân sự mà luật
không quy định thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác thì Tòa phải giải quyết. Trong khi công dân chấp hành pháp luật
để thực hiện các giao kết, xác lập các quan hệ xã hội được luật cho phép
nhưng khi xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn lại không được hỗ trợ từ phía Nhà
nước về giải quyết hậu quả. Mà tinh thần chung của pháp luật Việt Nam là
5 Khoản 1, Điều 102 Hiến phap 2013
6
bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bị xâm phạm, không
thể duy trì tình trạng bất hợp lý là khi công dân có quyền, lợi ích hợp pháp bị
xâm phạm nhưng không được bảo vệ. Điều đó không đúng với tinh thần của
pháp luật, không đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân.
Thứ hai, về mặt thực tiễn. Trải qua 10 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004 đã bộc lộ nhiều bất cập. Trong đó việc liệt kê những vụ việc
Tòa án thụ lý giải quyết dẫn đến nhiều lĩnh vực không được đề cập và hệ quả
là rất nhiều vụ việc người dân khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết dân sự
nhưng bị Tòa án từ chối vì lí do chưa có điều luật áp dụng. Xét về mặt pháp
lý, thì việc từ chối giải quyết trên của các Tòa án là hợp pháp, bởi lẽ Bộ luật
tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) không có quy định về việc
Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án trong trường hợp không có điều
luật áp dụng. Bên cạnh đó, những bất cập, hạn chế của Bộ luật dân sự 2005
cũng như việc áp dụng tập quán, án lệ… vẫn chưa được quy định cụ thể cũng
là những nguyên do dẫn đến việc từ chối giải quyết vụ án vì lí do không có
điều luật áp dụng. Ví dụ như việc kiện đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, hay sổ hộ khẩu, theo quy định của pháp luật thời điểm Bộ luật Dân sự
khai thác điểm đánh bắt hải sản xa bờ. Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã
xác định trong Quyết định giám đốc thẩm số 93/GDDT-DS ngày 27/5/2002
rằng đây là một yêu cầu về quyền tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án và nhận xét: đối với vùng biển xa bờ, pháp luật chưa quy định về quyền ưu
tiên khai thác nên quyền ưu tiên phải được xác định theo tập quán. Theo xác
minh ở chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn là Ban Hải sản địa
phương thì tài công là người có quyền chọn và cho người khác điểm đánh bắt;
địa điểm đã bị bỏ hơn ba tháng không khai thác thì có quyền khai thác. Việc
ông T sử dụng điểm đánh bắt hải sản hiện tranh chấp là phù hợp với tập quán,
không trái pháp luật, không vi phạm quyền lợi hợp pháp của bà L.
2. Áp dung tương tự pháp luật
“Việc áp dụng tương tự pháp luật được thực hiện như sau:
8
Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự trong
trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và
không có tập quán được áp dụng theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân
sự và khoản 1 Điều này.
Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất
pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện
hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định
quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.”6
Áp dụng tương tự pháp luật trong dân sự là một biện pháp khắc phục
những hạn chế và tình trạng chưa thật đầy đủ của những quy định pháp luật
điều chỉnh các quan hệ nhân thân và tài sản trong xã hội thuộc đối tượng điều
chỉnh của pháp luật dân sự. Việc áp dụng này nhằm giải quyết kịp thời các vụ
việc dân sự đã phát sinh nhưng chưa có quy phạm pháp luật để áp dụng một
cách trực tiếp. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định tương tự của pháp luật dân
sự phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện sau:
các quan hệ về đổi công.
3. Áp dung các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ
công bằng
“Việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ
công bằng được thực hiện như sau:
Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ
công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán,
tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật
dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được
quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.
Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự
khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.
10
Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong
xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.”7
Để đảm bảo thống nhất trong nhận thức, xây dựng và áp dụng pháp luật
dân sự, góp phần hình thành chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân,
pháp nhân, tại Điều 3, BLDS 2015 quy định 05 nguyên tắc cơ bản của pháp
luật dân sự bao gồm: Nguyên tắc bình đẳng; Nguyên tắc tự do tự nguyện cam
kết thỏa thuận; Nguyên tắc thiện chí, trung thực; Nguyên tắc tôn trọng lợi ích
của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
và Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự. Việc quán triệt các nguyên tắc này
đảm bảo tất cả quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân đều được pháp luật tôn
trọng, bảo vệ, đảm bảo thực hiện và chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của
lẽ công bằng. Điều này đòi hỏi thẩm phán cần phải có đạo đức, có lẽ công
bằng ngự trị trong nhận thức và lương tâm, ban hành những bản án, quyết
định không mang tính chất tùy tiện và thiên vị.
IV. Ý nghĩa
Thứ nhất, cần phải hiểu pháp luật được ra đời từ thực tiễn, do con
người tạo ra và được tổng kết từ thực tiễn. Tuy nhiên, pháp luật cũng không
thể dự liệu hết tất cả các trường hợp xảy ra trong cuộc sống. Việc tuân thủ
pháp luật là cần thiết, nhưng với những trường hợp chưa có điều luật điều
chỉnh, thì cũng cần linh hoạt trong việc xét xử.
Thứ hai, đây là quy định về việc tòa án không từ chối trong trường hợp
không có điều luật, chứ không phải là không có pháp luật. Việc xét xử vẫn
phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, tập quán pháp hay
quy định tương tự của pháp luật, chứ không phải xét xử một cách tùy tiện.
Thứ ba, quy định này góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của công dân. Đây là căn cứ để Tòa án nhận đơn, thụ lý vụ việc,
tiến hành giải quyết những tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội mà
pháp luật chưa thể dự liệu.
Thứ tư, quy định này góp phần đảm bảo trật tự, an ninh xã hội. Thông
thường khi các bên tranh chấp không thể thỏa thuận với nhau, họ mới tìm đến
12
Tòa án như một phương án giải quyết cuối cùng. Tuy nhiên Tòa án lại từ chối
việc giải quyết do không có điều luật điều chỉnh, khiến các bên phải tự giải
quyết với nhau. Điều này không tránh khỏi những hệ lụy như “cá lớn nuốt cá
bé”, tùy tiện xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của các bên, cũng
như của bên thứ ba và đồng thời xâm hại đến an ninh quốc gia, an toàn xã hội.
Thứ năm, quy định này góp phần mở đường cho việc hình thành án lệ,
nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc xét xử, từ đó hình thành nên những
lý. Đồng thời, luật cần xây dựng chế tài kèm theo buộc đương sự phải chịu án
phí trong trường hợp tòa bác đơn kiện.
Thứ ba, mỗi thẩm phán có một cách hiểu khác nhau, cách vận dụng
khác nhau dẫn đến cách xét xử khác nhau, kết cục người thắng kiện thì phấn
khởi, người thua kiện thì không chịu, từ đó dẫn đến việc khiếu kiện kéo dài.
Nên cần phải có sự phối hợp chặt chẽ từ tư tưởng lẫn cách giải quyết giữa
những cơ quan với nhau và những người có chức năng xét xử với nhau
Thứ tư, giao cho thẩm phán để có quyền vận dụng lẽ phải, tức là đã ủy
quyền cho thẩm phán làm luật, xác định lẽ công bằng để giải quyết vụ án,
trong khi hiện nay Luật là thể hiện ý chí của nhân dân thông qua các vị đại
biểu Quốc hội, chỉ Quốc hội mới có thể làm luật. Trường hợp này có thể dùng
nghị quyết Ủy ban Thường vụ Quốc hội để giải quyết.
C. KẾT LUẬN
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, với ý nghĩa và
giá trị đã được thừa nhận của tập quán, tương tự pháp luật, án lệ theo kinh
nghiệm quốc tế thì việc cho phép áp dụng chúng là phương thức hiệu quả để
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp
dân sự, thương mại, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài, bảo
đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong xét xử, tạo lập tính ổn định,
minh bạch và tiên liệu được trong các phán quyết của Tòa án.
Mặc dù còn tồn tại một vài hạn chế chưa khắc phục được ngay lập tức
nhưng rõ ràng chúng ta không thể phủ nhận tính hợp lý của quy định này, cả
về mặt lý luận và thực tiễn. Thực tế cũng đã chứng minh những bước chuyển
14
biến tích cực trong việc áp dụng quy định này, từ việc áp dụng tập quán đến
áp dụng án lệ, lẽ công bằng. Và thực tiễn này cũng là cơ sở để chúng ta tin
vào một hệ thống pháp luật Việt Nam hoàn thiện hơn, công bằng rộng rãi và
17