KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA MỘT SỐ DÒNG NẤM PAECILOMYCES SPP. VÀ TRICHODERMA SPP VỚI TUYẾN TRÙNG BƯỚU RỄ (MELOIDOGYNE SPP.) TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO VÀ NHÀ LƯỚI - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA MỘT SỐ DÒNG NẤM
PAECILOMYCES SPP. VÀ TRICHODERMA SPP VỚI TUYẾN
TRÙNG BƯỚU RỄ (MELOIDOGYNE SPP.) TRONG ĐIỀU KIỆN
IN VITRO VÀ NHÀ LƯỚI

Họ và tên sinh viên: TRẦN THỊ KIỀU LÂM
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Niên khóa: 2006 - 2010

Tháng 8 năm 2010
i


KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA MỘT SỐ DÒNG NẤM
PAECILOMYCES SPP. VÀ TRICHODERMA SPP. VỚI TUYẾN TRÙNG
BƯỚU RỄ (MELOIDOGYNE SPP.) TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO VÀ
NHÀ LƯỚI

Tác giả

TRẦN THỊ KIỀU LÂM

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Nông học ngành
Bảo vệ thực vật

Giáo viên hướng dẫn:

TÓM TẮT
Đề tài “ Khảo sát khả năng đối kháng của một số dòng nấm Paecilomyces spp.
và Trichoderma spp. với tuyến trùng bướu rễ (Meloidogyne spp.) trong điều kiện in
vitro và nhà lưới ” được tiến hành tại phòng nghiên cứu Bộ môn Bảo vệ thực vật, Viện
Cây Ăn Quả Miền Nam thời gian từ ngày 12 tháng 01 năm 2010 đến ngày 12 tháng 7
năm 2010.
Mục đích nghiên cứu tiềm năng sử dụng nấm Paecilomyces spp. và
Trichoderma spp. trong phòng trừ sinh học tuyến trùng gây bướu rễ Meloidogyne spp.
Kết quả nghiên cứu
Dịch trích của bốn dòng nấm Paecilomyces lilacinus, Paecilomyces sp. (2),
Paecilomyces sp. TH, Paecilomyces sp. (1) có hiệu quả nhanh làm chết 50% ấu trùng
tuổi 2 Meloidogyne spp. sau 6 giờ thí nghiệm, 99% ấu trùng tuổi 2 sau 48 giờ thí
nghiệm. Nấm Trichoderma spp. có tác dụng chậm, tỷ lệ chết của ấu trùng tuổi 2 sau 24
giờ thí nghiệm là 25% (Trichoderma sp. (1)), 35% (Trichoderma sp. (2)) và 99% sau
72 giờ thí nghiệm.
Sau 21 ngày nuôi cấy, bốn dòng nấm Paecilomyces spp. trên môi trường PDA
mọc đầy đĩa, khuẩn lạc màu tím hồng, mật số bào tử cao nhất là dòng Paecilomyces
sp. (1) 42,72 bào tử/ml. Tốc độ phát triển của đường kính khuẩn lạc cao nhất ở hai
dòng Paecilomyces sp. TH (7,9cm), Paecilomyces sp. (1) (7,9cm).
Sau 60 ngày nhân sinh khối. Bốn dòng nấm Paecilomyces spp. đều phát triển
tốt trên cả hai vật liệu, trong đó nấm được cấy trên cám Balong cho mật số cao hơn
trên bột gạo. Dòng nấm Paecilomyces lilacinus có mật số bào tử cao nhất 7,65 x1016
(cám Balong). Dòng nấm Paecilomyces sp. (2) có mật số bào tử thấp nhất 1,23 x109
(cám Balong).
Cả bốn dòng nấm Paecilomyces spp. đều không ảnh hưởng đến khả năng nảy
mầm và sự sinh trưởng của cây cà chua.

iv



2.4 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước. ................................................................ 9
2.4.1 Nghiên cứu trong nước. .................................................................................... 9
2.4.2 Nghiên cứu ngoài nước. .................................................................................10
2.4.3 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ tuyến trùng Meloidogyne spp..............11
Chương 3 .......................................................................................................................13
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP .............................................................................13
3.1 Vật liệu thí nghiệm ...............................................................................................13
3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm, phân tích thống kê và xử lí số liệu ....................22
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu ................. Error! Bookmark not defined.
3.3.1 Xác định khả năng đối kháng với tuyến trùng Meloidogyne spp. của một số
dòng nấm Paecilomyces spp. và Trichoderma spp .................................................13
3.3.2 Khảo sát khả năng phát triển của 4 dòng nấm Paecilomyces spp. trên môi
trường PDA .............................................................................................................16
3.3.3 Chọn môi trường nhân sinh khối nấm ............ Error! Bookmark not defined.
3.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của một số chế phẩm nấm Paecilomyces spp. đến khả
năng nảy mầm, sự sinh trưởng của cây cà chua trong điều kiện in vitro và nhà luới
................................................................................. Error! Bookmark not defined.

vi


3.3.4.1 Đánh giá khả năng gây bệnh, gây độc của một số chế phẩm nấm
Paecilomyces spp. đến khả năng nảy mầm của cây cà chua trong điều kiện in vitro
.................................................................................................................................18
3.3.4.2 Đánh giá khả năng gây bệnh, gây độc của một số chế phẩm nấm
Paecilomyces spp. đến sự sinh trưởng của cây cà chua trong điều kiện nhà lưới...19
3.3.5 Đánh giá hiệu quả quản lý tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. của các chế
phẩm nấm Paecilomyces spp. trên cây cà chua trong điều kiện nhà lưới ...............20
Chương 4 .......................................................................................................................23
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .....................................................................................23

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của dịch trích từ một số dòng nấm (Paecilomyces spp. và
Trichoderma spp.) đối kháng đến tỷ lệ chết ATJ2 ở 36 giờ sau chủng
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của dịch trích từ một số dòng nấm (Paecilomyces spp. và
Trichoderma spp.) đối kháng đến tỷ lệ chết ATJ2 ở 48 giờ sau chủng
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của dịch trích từ một số dòng nấm (Paecilomyces spp. và
Trichoderma spp.) đối kháng đến tỷ lệ chết ATJ2 ở 60 giờ sau chủng
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của dịch trích từ một số dòng nấm (Paecilomyces spp. và
Trichoderma spp.) đối kháng đến tỷ lệ chết ATJ2 ở 72 giờ sau chủng
Bảng 4.9: Mật số bào tử các dòng nấm Paecilomyces spp. trên môi trường PDA 21
NSC
Bảng 4.10: Mật số bào tử nấm Paecilomyces spp trong bột gạo và cám Balong ở 21
NSC

viii


Bảng 4.11: Mật số bào tử nấm Paecilomyces spp. trong bột gạo và cám Balong ở 60
NSC
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của các dòng chế phẩm Paecilomyces spp. đến khả năng nảy
mầm của cà chua trong điều kiện in vitro
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của một số dòng chế phẩm Paecilomyces spp. đến sự sinh
trưởng của cây cà chua trong điều kiện nhà lưới
Bảng 4.14: Sự sinh trưởng của thân cây cà chua sau 40 ngày chủng ATJ2
Bảng 4.15: Sự sinh trưởng của rễ cây cà chua sau 40 ngày chủng ATJ2
Bảng 4.16: Chỉ số bướu rễ trên cây cà chua sau khi xử lý chế phẩm Paecilomyces spp.
Bảng 4.17: Mật số tuyến trùng trong đất sau khi xử lý chế phẩm Paecilomyces spp.
trong 200ml đất ở 5 tuần sau chủng ATJ2

ix


CDT: Chiều dài thân
SL: Số lá
TLTT: Trọng lượng tươi thân
TLKT: Trọng lượng khô thân
TLTR: Trọng lượng tươi rễ
TLKR: Trọng lượng khô rễ

xii


Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Đặt vấn đề
Tuyến trùng ký sinh thực vật là nhóm vi sinh vật gây hại nguy hiểm và mức độ
gây hại rất lớn. Trong đó tuyến trùng gây bướu rễ (Meloidogyne spp.) được xem là loài
tuyến trùng gây hại nghiêm trọng nhất, đây là loài phân bố rộng rãi trên thế giới và ký
sinh rất nhiều cây trồng có giá trị kinh tế quan trọng. Năng suất cây rau bị thất thu do
tuyến trùng gây bướu rễ thay đổi từ 29-90% tùy thuộc vào giống, mùa vụ và hệ thống
cây trồng. Tuyến trùng gây bướu rễ là nguyên nhân thất thu năng suất hàng năm ở
vùng nhiệt đới đến 29% ở cà chua, 23% ở cà nâu, 22% ở đậu bắp, 28% ở đậu, 15% ở
ớt, 26% ở cải bắp và 24 % ớ khoai tây (Đặng Thùy Linh và Nguyễn Huy Cường,
2009). Các phương pháp phòng trị tuyến trùng ký sinh thực vật cổ điển, thường dùng
các loại hóa chất tổng hợp nên dễ đưa đến hiện tượng kháng thuốc và khó phòng trị
hiệu quả với các mầm bệnh có trong đất. Do các loài vi sinh vật gây bệnh có khả năng
phân bố khá sâu trong đất. Việc sử dụng nông dược cũng để lại dư lượng độc chất trên
nông sản, dễ gây hại cho người tiêu dùng đồng thời cũng gây ô nhiễm môi trường,
nhất là khi được xử lý vào đất. Vì vậy, việc sử dụng các tác nhân phòng trừ sinh học
để phòng trị bệnh cây là hướng bền vững nhằm hạn chế tác hại của các nông dược đến
con người và môi trường.
Vì vậy, đề tài “ Khảo sát khả năng đối kháng của một số dòng nấm

2.1 Sơ lược về nấm Paecilomyces
Paecilomyces là loài nấm ký sinh đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới.
Nấm này có thể được tìm thấy ở nhiều môi trường, đất canh tác, đất bỏ hoang, rừng,
trên các đồng cỏ, trong các bể trầm tích hoặc ngay cả ở bùn cống. Một số loài được
phân lập từ côn trùng, có thể tìm thấy trong trứng của một số loại trứng tuyến trùng.
Paecilomyces là loài nấm thường xuyên được phát hiện trên các đồng ruộng, ở chỗ đất
bao quanh rễ của cây, nơi mà đất trồng, vi sinh vật và rễ cây có mối quan hệ gắn bó.
Giới hạn nhiệt của loài này rất rộng, từ 8°C đến 38°C , vùng cực thuận là từ 26°C đến
30°C. Paecilomyces cũng có phổ pH rất rộng, vì vậy Paecilomyces có thể sống trong
nhiều loại môi trường khác nhau.
Một số dòng nấm Paecilomyces spp. được đánh giá là có ích trong phòng trừ
một số loài côn trùng gây hại và cả trên tuyến trùng. Paecilomyces fumosoroseus được
ghi nhận là loài gây bệnh cho một số côn trùng gây hại, trong khi đó Paecilomyces
lilacinus là loài có khả năng ký sinh trên tuyến trùng. Morgan Jones và ctv, (1984) ghi
nhận Paecilomyces lilacinus là một trong những tác nhân sinh học, rất hiệu quả trong
phòng trừ tuyến trùng ký sinh cây trồng. Theo Jatala (1980) và Dunn (1982)
Paecilomyces lilacinus có khả năng ký sinh trứng tuyến trùng

gây bướu rễ

(Meloidogyne spp.) (Nguyễn Thị Hài, 2008).
Đặc điểm nấm của Paecilomyces
Paecilomyces đã được phân loại vào nhóm nấm bất toàn Deuteromycetes,
Paecilomyces cũng được phân vào chi Isarioidea, là chi bao gồm các loài nấm có quá
trình sinh trưởng và phát triển còn sơ khai, kém hoàn thiện. Hình dạng của
Paecilomyces là một sợi nấm dài và phức tạp, trên đó có nhiều sợi nấm. Sợi nấm là
cấu trúc một chùm sợi tỏa ra từ một nhánh. Sợi nấm có khả năng sinh sản gọi là
conidiophores. Từ điểm cuối của một nhánh, ngay vị trí bào tử, sản sinh ra nhiều
nhánh, từ nhánh mới bào tử mọc và sẽ phát triển khi gặp môi trường thích hợp, có đủ
3

tiêu diệt các tác nhân gây bệnh. (iii) Cải thiện sức khỏe của cây trồng (plant health).
(iv) Kích thích sự phát triển của rễ nhờ tiết ra các chất điều hòa sinh trưởng
(phytohormones) (Harman 2000).
Đặc điểm phân loại và hình thái học của nấm Trichoderma

4


Nấm Trichoderma thuộc ngành nấm Mycota, lớp nấm Bất Toàn
(Deuteromycetes), bộ nấm Bông (Moniliales), họ Moniliaceae và chi Trichoderma
(Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998). Nấm này có giai đoạn sinh sản hữu tính thuộc
lớp Ascomycetes, bộ Hyporcaelos và chi Hypocrea (Agrios, 1997).
Ở giai đoạn phát triển đầu, khuẩn lạc của Trichoderma có màu trắng nếu được
nuôi cấy trên môi trường giàu dinh dưỡng như PDA và trong suốt nếu được nuôi trên
môi trường CMA (Corn Meal dextrose Agar). Trong quá trình phát triển nấm thường
tiết sắc tố vàng vào môi trường nuôi cấy, nhất là khi được nuôi cấy trên môi trường
PDA. ( Nguyễn Ngọc Châu, 2000)
Bào tử của nấm Trichoderma thường mọc thành chùm, ban đầu có màu trắng sau
chuyển thành màu xanh (Cook và Baker, 1989). Bào tử nấm thường có hình bầu dục,
kích thước (3 - 5) x (2 - 4) μm (dài/ngang EMBED Equation.3 1,3), vách trơn láng
hoặc sù sì (McCray, 2002). Tất cả các loài Trichoderma đều có khả năng sinh bào tử
áo (chlamydospore). Bào tử áo có hình cầu méo và đa số tồn tại ở dạng đơn bào.
.( Nguyễn Ngọc Châu, 2000)
Đa số các dòng nấm Trichoderma được ứng dụng trong nông nghiệp đều có khả
năng phân cắt các carbohydrates, chlorophenols và các loại nông dược chứa
xenobiotic.( Nguyễn Ngọc Châu, 2000)
Cơ chế tác động chính của nấm Trichoderma sp. là ký sinh và tiết ra các kháng
sinh trên các loài nấm gây bệnh. .( Nguyễn Ngọc Châu, 2000)
2.3 Sơ lược về tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
Bệnh bướu rễ được phát hiện đầu tiên ở Arkansas thuộc Hoa Kỳ (Tullis, 1934),

Filipjev, 1934

Giống Meloidogyne

Goeldi, 1887

2.3.2 Đặc điểm tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
Đặc điểm hình dạng của tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
Tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. là giống tuyến trùng nội ký sinh, hình
dạng thay đổi tùy giai đoạn sinh trưởng. Ấu trùng các tuổi J1, J2, J3 có hình dạng
giống nhau. Con trưởng thành có kích thước lớn dạng lãi, con cái có dạng quả lê hay
dạng tròn, màu trắng (Lamberti và Taylor, 1979).
(1) Meloidogyne incognita (Kofoid White, 1919) Chitwood, 1949.
Con cái dài 0,73 mm (0,57 – 0,85), rộng 0,54 mm (0,36 – 0,66), kim chích hút 14 – 15
µm. Con đực dài 1,78 mm (1,70 – 1,90), kim chích hút dài 22,8 µm (22,2 – 23,6).
Tuyến trùng tuổi 2 dài 0,37 mm (0,35 – 0,40), kim chích dài 10 µm. Trứng dài 97 µm
(92 – 103), rộng 38,2 µm (37,8 – 42,8).
(2) Meloidogyne arenaria (Neal, 1889) Chitwood, 1949.
Con cái dài 0,78 mm (0,66 – 0,82), rộng 0,58 mm (0,35 – 0,80), kim chích dài 14 – 16
µm. Con đực dài 1,35 mm (1,18 – 1,45), kim chích dài 21,5 µm (19,6 – 21,6). Tuyến
trùng tuổi 2 dài 0,44 mm (0,38 – 0,47), kim chích dài 10,4 µm. Trứng dài 96,7 µm
(95,6 – 104,4), rộng 37,4 µm (36,1 – 42,8).
(3) Meloidogyne javanica (Treub, 1885) Chitwood, 1949.
Con cái dài 0,65 mm (0,47 – 0,71), rộng 0,44 mm (0,32 – 0,52), kim chích dài
14,8 µm. Con đực dài 0,98 – 1,42 mm, kim chích dài 20,9 µm. Tuyến trùng tuổi 2 dài
0,43 mm (0,36 – 0,47), kim chích dài 10,8 µm. Trứng dài 85,5 µm (74 – 96,5), rộng
31, 8 µm (28 – 34). (Lê Lương Tề, 2007).
Đặc tính sinh học của tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
Theo Phạm Ngọc Tuấn (1990) thì Birchfield (1964) quan sát thấy trên
Echinochloa colorum, con cái tuyến trùng bướu rễ M. graminicola nằm bên trong

diệt vì loài tuyến trùng này (Đặng Thùy Linh và Nguyễn Huy Cường, 2009).
2.3.4 Khả năng gây hại của tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
Theo Rao (1969) và Rey (1975) thì M. graminicola được xem là tác nhân gây
hại quan trọng, có khả năng lưu tồn trên lúa hay trong đất tại Ấn Độ. Ở Lào tuyến
trùng ký sinh thực vật thường gây hại nặng trên lúa ở giai đoạn mạ, làm mạ vàng và

7


khô đi, nếu bị nhiễm nặng mạ có thể chết (Maner,1968). (Nguyễn Thị Thu (2) và Prot,
1997 dẫn nhập).
Theo Trịnh Thị Thu Thủy và ctv (2005) khi nghiên cứu biến động số lượng
quần thể tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. hại cây Hồ tiêu ở Miền Trung và miền
Tây Nguyên, đã phát hiện được 29 loài tuyến trùng ký sinh thực vật, thuộc 10 họ khác
nhau trên các vườn trồng cây Hồ tiêu ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đắc Lắc,
Gia Lai, Kon Tum. Trong đó, 8 loài tuyến trùng đã được thêm vào danh mục thành
phần tuyến trùng ký sinh gây hại cây hồ tiêu đã biết trước đây. Trong 29 loài tuyến
trùng đã phát hiện, loài tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. là chủ yếu nhất và phổ
biến.( Vũ Triệu Mân, 2007 dẫn nhập).
Ở Việt Nam, M. javanica là tuyến trùng ký sinh tương đối phổ biến sau loài M.
incognita, gây hại chính trên cây lạc và cây chuối (Nguyễn Ngọc Châu, 2003).
Có 3 loài tuyến trùng tấn công trên đậu nành là M. incognita, M. javanica, M.
arenaria (Ibrahaim và El-Seady, 1982).
Theo Appel và Lewis (1982) thì M. incognita tấn công sẽ làm giảm trọng
lượng hạt, chiều cao cây và số lượng các nốt sần trên rễ của cây đậu nành. Cây có triệu
chứng cằn cỗi, vàng úa và có khuynh hướng héo vào mùa khô (Franklin, 1982).
Theo Đặng Ngọc Kính (1982) nếu một cây mạ khi chủng 10 bướu rễ có thể làm
giảm 30 – 50 % chiều cao và 65% năng suất.
Theo Patnaik (1969) với mức độ nhiễm nặng vào khoảng 12.000 ấu trùng M.
graminicola trên một cây, cây mạ sẽ mất màu và lá sẽ bắt đầu khô héo. Rao và Biswas

thấy ở các tỉnh phía Nam, quan trọng nhất là tuyến trùng nốt sưng như M. incognita,
M. javanica, M. Arenaria.
Nguyễn Thị Thu (2) (1988) đã dẫn chứng tài liệu của Wallace (1969) tỷ lệ sinh
sản của tuyến trùng bướu rễ M. graminicola tốt nhất ở đất cát thô, trong khi đó sự xâm
nhập tốt nhất ở đất cát thường. M. graminicola cũng được tìm thấy hầu hết ở các loại
đất của Đồng Bằng Sông Cửu Long, trừ vùng đất phèn nhiễm mặn của Cà Mau.
Meloidogyne spp. là nhóm tuyến trùng ký sinh quan trọng nhất và có số lượng
thành phần loài rất lớn khoảng 88 loài khác nhau (Vũ Triệu Luân vả Lê Lương Tề,
1998). Theo Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh (2000), đến nay có 5 loài
Meloidogyne hiện diện ở Việt Nam. Meloidogyne arenaria phân bố ở Sơn La (thị xã
Sơn La), Hải Phòng (Minh Đức), Nam Hà (Lý Nhân), Thái Bình (Quỳnh Dao).
Meloidogyne cynariensis phân bố ở Lâm Đồng (Đà Lạt). Meloidogyne
graminicola phân bố ở Nghệ An (Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu, Nam Đàn).
Meloidogyne incognita phân bố ở khắp mọi nơi. Meloidogyne javanica phân bố ở Cao
Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định, Ninh
Bình, Quảng Bình, Lâm Đồng.
Theo Trần Vũ Phến (1987) dẫn chứng tài liệu của Yik và Brichfield (1978) cho
biết tuyến trùng cái M. graminicola đẻ khoảng 260 đến 325 trứng, tuyến trùng trưởng
thành với tỷ lệ con đực trên con cái 1/12.
9


Theo Hollis (1966) và Panik (1969) quan sát thấy rằng M. graminicola đòi hỏi
41 giờ để ấu trùng có thể cố định trong mô phân sinh rễ. Bướu rễ sẽ được thành lập sau
4 giờ xâm nhiễm. Trong rễ, con đực hình giun, con cái phình to ra.
Theo Lê Lương Tề (1977), tuyến trùng bướu rễ sẽ kéo dài vòng đời ở điều kiện
nhiệt độ thấp, và theo Corinek (1965), tuyến trùng bướu rễ chỉ đẻ trứng khi nhiệt độ
lớn hơn hay bằng 14 0C, tuyến trùng bướu rễ sẽ chết nếu như nhiệt độ lớn hơn 400C.
Trứng tuyến trùng M. graminicola nở tốt nhất ở 25 – 30 0C. Ở nhiệt độ khoảng
21 – 23,50C, mật số tuyến trùng trong đất và số bướu hình thành sẽ cao nhất (Võ

trong điều kiện đất bảo hòa (Tandingan, 1993), hoặc trên lúa mọc trong điều kiện đất
rẫy (Plowright và Bridge, 1990) và không ghi nhận gây hại trên đất ngập nước (Prot và
Matias, 1994), nhưng mật số ATJ2 lại hiện diện rất cao trong điều kiện ngập nước so
với điều kiện lúa rẫy (Prot và Matias, 1994).
2.4.3 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
Việc đánh giá thiệt hại do tuyến trùng gây ra đã được tiến hành nhưng để có
đầy đủ cơ sở dữ liệu và kỹ thuật cho việc đánh giá thì khó khăn hơn nhiều so với côn
trùng ( Bhatti và Singh, 1992).
Trichoderma được sử dụng như là một tác nhân để kiểm soát sinh học bệnh
bướu rễ do Meloidogyne spp. gây ra (Windham, 1993).
Sự kết hợp của Trichoderma harzianum và chế phẩm Neem trong việc phòng
trừ tuyến trùng gây bướu rễ trên cây cà chua cho kết quả tốt hơn so với khi chỉ sử dụng
Trichoderma harzianum ( Kumar và Kana, 2006).
Năm 1989, Windham và cộng sự đã báo cáo khả năng sinh sản của loài tuyến
trùng gây bướu rễ Melodoigyne arenaria giảm xuống khi đất được xử lý trước bằng
Trichoderma harzianum và Trichoderma koningii. Khi phối hợp T.harzianum với sản
phẩm cây Neem (Azadirachta indica) bón vào đất thì quần thể tuyến trùng Tylenchulus
semipenetrans trên cây ăn trái giảm xuống rõ rệt. Một số công thức khác của T.
harzianum cũng có khả năng kiểm soát tuyến trùng M. javanica rất tốt. Trên cây cà
chua bị nhiễm tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne, và nếu đất được xử lý bằng T.
harzianum, thì số lượng bướu rễ giảm đi.
Một vài kết quả nghiên cứu đã cho thấy khả năng quản lý sự phát triển của
tuyến trùng bằng nấm Paecilomyces lilacinus trong thực tế là rất cao (Stirling,
Mankau, 1978, Stirling và ctv, 1979 và Al-Hazmi và ctv, 1982). Sử dụng bào tử nấm
Paecilomyces lilacinus để kiểm soát tuyến trùng M. incognita (Davide và Batino,
1985) trên bông vải có hiệu quả.
Cabanillas và Barber (1986) đã công bố kiểm soát thành công khả năng phá
hoại của tuyến trùng Meloidogyne spp. trên ruộng cà chua thông qua quá trình ký sinh
trên trứng của tuyến trùng bằng nấm P. lilacinus.
Tại Peru, Jatala và ctv (1979 ) đã sử dụng nấm P. lilacinus để quản lý sinh học


Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 1/2010 đến tháng 7/2010.
Địa điểm thực hiện đề tài: Tại Viện Cây Ăn Quả Miền Nam.
3.2 Nội dung nghiên cứu
Xác định khả năng đối kháng với tuyến trùng buớu rễ Meloidogyne spp. của
một số dòng nấm Paecilomyces spp. và Trichoderma spp điều kiện in vitro.
Khảo sát khả năng phát triển của 4 dòng nấm Paecilomyces spp. trên môi
trường PDA và chọn lọc vật liệu nhân nhanh sinh khối nấm Paecilomyces spp.
Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm nấm Paecilomyces spp. đến khả năng nảy
mầm, sự sinh trưởng của cây cà chua trong điều kiện in vitro và nhà luới.
Đánh giá hiệu quả quản lý tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. của các chế
phẩm nấm Paecilomyces spp. trên cây cà chua trong điều kiện nhà lưới.
3.3 Vật liệu thí nghiệm
Bốn dòng nấm

Paecilomyces

spp.:

Paecilomyces

lilacinus

(Nhật),

Paecilomyces sp. phân lập từ rệp sáp vú sữa ((1)), Paecilomyces sp. phân lập từ (2)
((2)), Paecilomyces sp. phân lập từ rầy chồng cánh (TH).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status