MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN................................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN.........................................................................................ii
MỤC LỤC...................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...............................................................v
DANH MỤC BẢNG BIỂU.........................................................................vi
A. PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................1
2. Tổng quan về vấn đề hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động......2
3. Mục tiêu nghiên cứu..................................................................................4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................4
5. Khách thể nghiên cứu................................................................................5
6. Đối tượng nghiên cứu................................................................................5
7. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................5
8. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................5
9. Kết cấu của khóa luận...............................................................................6
B. NỘI DUNG...............................................................................................7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ
TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI XÃ
NAM GIANG, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA......................7
1.1. Cơ sở lý luận về người khuyết tật vận động...........................................7
1.1.1 Khái niệm khuyết tật, người khuyết tật vận động, việc làm................7
1.1.2. Đặc điểm của Người khuyết tật vận động...........................................7
1.2. Cơ sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người
khuyết tật vận động.......................................................................................9
1.2.1. Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật vận động.....................9
1.2.2. Các hình thức hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động.........14
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
vận động......................................................................................................19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1:.............................................................................22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO
3.1. Kết luận................................................................................................55
3.2. Giải pháp..............................................................................................55
3.3. Khuyến nghị.........................................................................................56
3.3.1. Đối với Nhà nước..............................................................................56
3.3.3. Đối với địa phương...........................................................................57
3.3.4. Đối với bản thân người khuyết tật vận động.....................................57
TIẾU KẾT CHƯƠNG 3..............................................................................59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................60
BẢNG HỎI ĐIỀU TRA
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH
GTSX
NKT
NVXH
UBND
Công tác xã hội
Giá trị sản xuất
Người khuyết tật
Nhân viên xã hội
Uỷ ban nhân dân
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
bất cứ ai. Những chủ trương chính sách phát triển xã hội thông qua các
chính sách đảm bảo đời sống an sinh xã hội của người dân ngày càng được
chủ trọng. có rất nhiều lĩnh vực mà những chương trình chính sách an sinh
hướng tới như : xóa đói giảm nghèo, các vấn đề liên quan tới gia đình, trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt… và một trong những lĩnh vực mà ngành công
tác xã hội rất cần được quan tâm là lĩnh vực khuyết tật. Để bảo đảm cho
người khuyết tật thực hiện quyền bình đẳng và tham gia cộng đồng xã hội,
tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 12 ngày 17-6-2010, Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật Người khuyết tật. Luật quy
định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, trách nhiệm của nhà nước,
gia đình và xã hội đối với người khuyết tật. Tại Điều 125 của Bộ Luật Lao
động cũng nêu rõ: “Hàng năm, nhà nước dành một khoản ngân sách để
giúp người khuyết tật phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng lao động, học
nghề và có chính sách cho vay với lãi suất thấp để họ tự tạo việc làm, ổn
định đời sống”. Tuy nhiên, chỉ có rất ít người khuyết tật vận động được tiếp
cận với việc học nghề vì nhận thức của bản thân người khuyết tật và gia
đình về đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động còn chưa cao, dẫn đến
nhu cầu học nghề của người khuyết tật rất thấp. Tỷ lệ người khuyết tật sau
đào tạo nghề tìm được việc làm còn rất thấp và chủ yếu là tự tạo việc làm,
số có thể tìm được việc làm trong các doanh nghiệp lớn hầu như không
đáng kể. Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó
khăn. Đa số người khuyết tật phải sống với gia đình, nhận trợ cấp xã hội
thường xuyên, có mức sống nghèo hoặc trung bình, bởi chính họ khó có thể
1
lao động, làm việc với năng suất như người khác nếu không được đào tạo
một cách bài bản. Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội hiện nay, xã Nam
Giang tiếp tục đẩy mạnh các mục tiêu phát triển về giáo dục, đào tạo và dạy
nghề để hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật điều này không chỉ tạo điều
cần phải đạo tạo nghề trong giai đoạn hiện nay, không chỉ đào tạo nghề đòi
hỏi lượng chất xám cao mà còn phải đào tạo những nghề đơn giản nhằm
đáp ứng xu thế hội nhập với khu vực và quốc tế, để tạo ra những sản phẩm
2
tốt nhất đề đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học “ Người khuyết tật ở Việt Nam, sinh kế,
việc làm và bảo trợ xã hội” diễn ra ngày 27/9/2007 do Trung tâm nghiên
cứu Châu Á – Thái Bình Dương ( Trường đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) phối hợp với trung tâm hợp tác Quốc tế
( Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản) tổ chức tại trung tâm
thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn bao gồm nhiều
tham luận liên quan tới người khuyết tật. 20 tham luận của các nhà khoa
học, nhà hoạt động từ thiện xã hội trong và ngoài nước đã trình bày tại hội
thảo đều hướng vào vấn đề tìm giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho người khuyết
tật hòa nhập cộng đồng, đào tạo việc làm và hỗ trợ việc làm ổn định để
đóng góp cho xã hội, lý giải cho cách dùng khái niệm “ Người khuyết tật”
thay cho khái niệm “ Người tàn tật”.
- Mai Thị Phương( 2014), Đề tài “ Vấn đề CTXH với NKT”. Đề tài
đã nêu lên vai trò của CTXH đối với Người khuyết tật trên tất cả các
phương diện, đặc biệt là vấn đề dạy nghề và tìm việc làm. Đề tài viết về
những tồn tại yếu kém trong công tác dạy nghề cho NKT ở nước ta. Nội
dung, chương trình, nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu,
quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình và các
thiết bị dạy nghề dành riêng cho NKT, đội ngũ giáo viên dạy nghề cho
NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực sư
phạm và quản lý. Đồng thời việc thực hiện chính sách về việc làm với NKT
chưa nghiêm, hoạt động kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, vì vậy NKT
chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận dạy nghề và việc làm.
luật trong và ngoài nước, đặc biệt báo cáo nêu cao vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong quá trình biện hộ. Từ đó nêu ra những phương án tốt
nhất để biện hộ cho người khuyết tật.
- Đề tài “ Pháp luật về giải quyết vấn đề việc làm cho lao động
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, Trần Thị Tú Anh( 2014). Đề tài phân tích
làm rõ những quy định pháp luật hiện hành, tìm ra một số giải pháp nhằm
khắc phục những hạn chế, bất cập trong chính sách pháp luật hiện nay về
giải quyết việc làm cho người khuyết tật. Trên cơ sở đó, góp phần hoàn
thiện hệ thống pháp luật về giải quyết việc làm cho người khuyết tật, giúp
người lao động khuyết tật có thể tiếp cận, nắm bắt cơ hội việc làm.
- Đề tài “ Dạy nghề và giải quyết việc làm cho người khuyết tật:
Thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Th.S Nguyễn Ngọc Toản. Đề tài đã
cho thấy công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT được biệt quan
tâm, tạo điều kiện thuận từ phát triển hạ tầng cơ sở cho đến chính sách trợ
giúp đối tượng tham gia học nghề cũng như giáo viên dạy nghề. Bên cạnh
đó vẫn còn những tồn tại những hạn chế trong quá trình tìm được việc làm
sau đào tạo nghề còn rất thấp và chủ yếu là tự tạo việc làm, số có thể tìm
được việc làm trong các doanh nghiệp lớn hầu như không đáng kể.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động từ
đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc hỗ trợ việc làm cho
người khuyết tật thông qua phương pháp công tác xã hội cá nhân.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về người khuyết tật vận động và công tác
xã hội cá nhân với người khuyết tật vận động.
- Nghiên cứu thực trạng công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ
việc làm cho người khuyết tật vận động tại xã Nam Giang, huyện Thọ
khuyết tật vận động( 3 nam, 3 nữ), 1 cán bộ, 3 hộ gia đình có người khuyết
tật.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
5
+ Người nghiên cứu sử dụng hệ thống các câu hỏi được sắp xếp một
cách khoa học phù hợp với tâm lý người trả lời nhằm thu thập thông tin phụ
vụ cho mục đích nghiên cứu.
+ Người nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 60 người khuyết tật vận động
ở trong xã và đang trong độ tuổi lao động( 18- 60 tuổi) để tham gia khảo
sát.
- Phương pháp quan sát: Được hiểu như là chụp ảnh trong quá trình
thu thập thông tin nhằm đánh giá mức độ tin cậy của thông tin đã thu thập
bằng việc quan sát hành vi, cử chỉ thái độ của người được phỏng vấn.
9. Kết cấu của khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho
người khuyết tật vận động tại xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh
Hóa.
Chương 2: Thực trạng về việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
vận động và Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật vận động tại xã
Nam Giang.
Chương 3: Kết luận, giải pháp, kiến nghị
6
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI
- Mức độ khuyết tật:
Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam, người khuyết tật nói chung và
7
người khuyết tật vận động được chia ra làm 3 mức độ:
+ Mức độ khuyết tật vận động đặc biệt nặng: Được Hội đồng giám
định y khoa kết luận không còn khả năng tự phục vụ hoặc bị suy giảm khả
năng lao động từ 81% trở lên. Ở mức độ này người bị khuyết tật vận động
không có khả năng tự đi lại, không có khả năng tự phục vụ và do đó cần
nhiều tới sự giúp đỡ của người khác.
+ Mức độ khuyết tật vận động nặng: biểu hiện ở việc đi lại khó khăn
trong đó có kèm theo sự giúp đỡ của người khác hoặc các phương tiện hỗ
trợ và được Hội đồng giám định y khoa kết luận bị suy giảm khả năng lao
động từ 61- 80%.
+ Mức độ khuyết tật vận động nhẹ: là những người khuyết tật vẫn có
khả năng tự mình đi lại và tự phục vụ mà không cần đến sự trợ giúp của các
phương tiện hay người khác.
- Theo Bộ Lao động thương binh – xã hội, có nhiều nguyên nhân dẫn
đến khuyết tật, tuy nhiên có thể đề cập tới các nguyên nhân sau:
+ Do bẩm sinh hoặc trong khi sinh:
. Do di truyền từ bố, mẹ hoặc1 trong 2 có tật di truyền sang thế hệ
sau như điếc bẩm sinh, mù bẩm sinh và xuất hiện tật trong quá trình phát
triển.
. Sự đột biến về nhiễm sắc thể làm cấu trúc gen bị sai lệch dẫn đến
một số hiện tượng hội chứng Down.
. Nhiễm độc thai nhi do người mẹ mang thai mắc một số bệnh như
cúm, sởi, Rubela… do hút thuốc, sử dụng ma túy trong khi mang thai.
. Do các bệnh xã hội của người mẹ như lậu, giang mai, AIDS.
. Đẻ non, thiếu tháng.
viên xã hội với thân chủ và nhân viên công tác xã hội với đối tác có liên
quan để thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ xã hội, dịch vụ tâm lý, kinh tế,…
giúp cho các thân chủ thoát khỏi khó khăn về vật chất và tinh thần,giúp cho
việc chữa trị phục hồi và vận hành bình thường các chức năng xã hội của
họ,giúp cho họ tự nhận thức được bản thân.
- Giúp cho họ tự chủ trong việc giải quyết các vấn đề bằng chính khả
năng của họ.
1.2.1.2. Khái niệm việc làm:
Theo điều 13- Bộ Luật Lao động: “ Mọi hoạt động tạo ra thu nhập,
không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Trên thực tế việc
làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức:
- Một là, làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện
vật cho công việc đó.
- Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có
quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu ( một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất
để tiến hành công việc đó.
- Ba là, làm các công việc cho gia đình mình nhưng không được trả
thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
( vanban.chinhphu.vn)
1.2.1.3. Các nguyên tắc Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật vận
động
Trong CTXH cá nhân, NVXH cần tuân thủ đầy đủ và nghiêm túc 7
9
nguyên tắc hành động nghề nghiệp đó là:
+ Chấp nhận đối tượng: Bất kể đối tượng là ai, đến từ những hoàn
cảnh nào. Việc chấp nhận những quan điểm, hành vi và giá trị của đối
tượng để đối tượng hiểu nhân viên công tác xã hội hiểu và không phán xét
đối tượng. Việc này không đồng nhất với việc đồng tình với những quan
hội với nhân viên xã hội cũng như giữa nhân viên xã hội với đối tượng cần
đảm bảo bình đẳng, tôn trọng, khách quan và nguyên tắc nghề nghiệp.
10
1.2.1.4 Về tiến trình Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật vận
động
Gồm có 6 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tiếp nhận đối tượng
- Việc tiếp nhận đối tượng được tính từ lúc nhân viên CTXH nhận
được hồ sơ và có buổi đón tiếp đầu tiên. Hoạt động này diễn ra rất đa dạng
có thể là do nhân viên xã hội phát hiện và tiếp nhận đối tượng, cũng có thể
là do đối tượng trực tiếp đến gặp nhân viên xã hội tìm sự giúp đỡ hoặc có
theẻ do sự giới thiệu hay chuyển giao từ tổ chức, cá nhân.
- Tuy nhiên trong một số trường hợp đối tượng có thể được chuyển
giao tới trung tâm cho nhân viên xã hội, do chưa tìm hiểu kỹ về chức năng
và nhiệm vụ của các trung tâm nên có thể đối tượng đến sai địa chỉ thì
chúng ta nên chuyển họ đến trung tâm có chức năng phù hợp hơn.
- Đánh giá nhu cầu hỗ trợ khẩn cấp, thông báo về vai trò và mục tiêu
hỗ trợ, đánh giá ban đầu về vấn đề của đối tượng, ghi những thông tin ban
đầu về đối tượng. Tuy nhiên, nhân viên xã hội cũng cần lưu ý không được
lạm dụng những dự đoán trước của mình và áp đặt lên hoàn cảnh thực tiễn.
Giai đoạn 2: Thu thập thông tin
- Là hoạt động thu thập thông tin dữ liệu về đối tượng và những vấn
đề có liên quan đến đối tượng.
- Mục đích giúp NVXH dựa trên những thông tin có được xác định
chính xác vấn đề của cá nhân đối tượng và trên cơ sở đó lên kế hoạch hỗ
trợ trị liệu. Thông tin thu được càng đầy đủ, chính xác giúp nhân viên xã
hội có bức tranh toàn cảnh đầy đủ về đối tượng và từ đó đưa ra những gợi
mở hỗ trợ hữu hiệu và phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh của đối tượng.
thực hiện.
+ Yếu tố mang tính tổ chức các hoạt động hỗ trợ trong kế hoạch có
phạm vi chức năng của tổ chức xã hội.
Giai đoạn 5: Triển khai thực hiện kế hoạch
- Để triển khai kế hoạch can thiệp/ hỗ trợ NVXH cần lưu ý giúp đối
tượng chuẩn bị các điều kiện cần thiết như: tâm thế sẵn sàng thực hiện kế
hoạch, các điều kiện hỗ trợ nguồn lực con người và vật chất.
- NVXH cần thể hiện mình là người hỗ trợ can thiệp chuyên môn và
giúo đối tượng có được những điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện kế
hoạch. Nhân viên xã hội không phải là người làm thay, làm hộ đối tượng.
- Những cản trở, khó khăn thực sự nổi lên trong giai đoạn này do vậy
đòi hỏi nhân viên xã hội phải sử dụng và phát huy kỹ năng chuyên môn của
mình để hỗ trợ đối tượng tiếp tục hay tìm một hướng đi khác.
Giai đoạn 6: Lượng giá, chuyển giao
- Lượng giá là công việc đo lường và thẩm định các thay đổi tiến bộ
của đối tượng, nhằm xác định xem sự can thiệp của nhân viên xã hội hay trị
liệu có đem lại kết quả hay không, xem mức độ đạt được để kịp thời bổ
sung điều chỉnh.
- Kết thúc/ đóng hồ sơ là kết thúc quá trình can thiệp hỗ trợ của nhân
viên xã hội với đối tượng khi vấn đề của đối tượng đã được đối tượng giải
quyết và họ sẵn sàng hòa nhập cộng đồng.
12
- Chuyển giao được thực hiện khi đối tượng có nhu cầu cần dịch vụ
khác hoặc trong quá trình can thiệp không mang lại nhiều lợi ích cho đối
tượng. Nhân viên xã hội cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đối tượng, những nhận
định, nhận xét trong quá trình giúp đỡ để có thể chuyển giao tốt.
1.2.1.5. Về kỹ năng Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật vận động
- Kỹ năng giao tiếp
quan tâm chia sẻ.
13
Kỹ năng lắng nghe tích cực sẽ đem lại nhiều kết quả tích cực như:
đem lại cho đối tượng xác định được vị trí của chính mình; làm cho đối
tượng cảm thấy nhân viên xã hội không cố làm thay đổi họ; động viện đối
tượng tiếp tục giao tiếp, chia sẻ cảm giác của họ; làm cho việc tự định
hướng, tự có trách nhiệm trở nên dễ dàng hơn; giúp đối tượng giải tỏa và
giải phóng được mình khỏi sự kiềm tỏa của người khác.
- Kỹ năng quan sát
Kỹ năng quan sát là “ khả năng quan sát các hành vi, cử chỉ, nét mặt,
điệu bộ… để nhận biết những diễn biến tâm lý, những suy nghĩ của đối
tượng giao tiếp nhằm thu thập thông tin, so sánh chúng với thông tin qua
ngôn ngữ để khẳng định tính sát thực của thông tin hiểu chính xác đối
tượng” ( Tiêu Thị Minh Hường, Lý Thị Hàm, Bùi Thị Xuân Mai, 2007, giáo
trình tâm lý học xã hội ( tập 2), Nhà xuất bản Lao động – Xã hội).
Trong hoạt động nghề nghiệp của mình thì không chỉ lời nói đem lại
cho nhân viên xã hội những thông tin về đối tượng, mà ngay cả những cử
chỉ không lời của đối tượng cũng có thể mang lại cho nhân viên xã hội
những manh mối quan trọng về nội dung chuyển tải của đối tượng. Vì vậy
để kỹ năng quan sát được thực hiện tốt thì người nhân viên xã hội phải có
khả năng nhận thức tinh tế về các vấn đề của đối tượng, phải biết cách quan
sát từ tổng thể về hành vi, diện mạo bên ngàoi của đối tượng, đến những
đặc điểm tâm lý, đặc biệt là những sắc thái tình cảm xảy ra giữa đối tượng
và người khác và với chính nhân viên xã hội.
- Kỹ năng phản hồi
Kỹ năng phản hồi là khả năng phản hòi lại cho đối tượng những
thông tin, suy nghĩ, tâm trạng, cảm xúc của nhân viên xã hội và đối tượng
trong quá trình giao tiếp. ( Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai, Công
hợp. Để làm được tất cả những điều này không chỉ đòi hỏi chủ doanh
nghiệp phải có tấm lòng cảm thông với hoàn cảnh của người khuyết tật, về
năng lực làm việc của người khuyết tật mà cần phải có tiềm lực kinh tế nếu
muốn tạo việc làm cho người khuyết tật vận động, đây cũng là lý do mà
làm hạn chế cơ hội được làm việc của người khuyết tật bị thu hẹp. Vì vậy
mà Đảng và Nhà nước đã và đang cố gắng làm tốt công tác chăm sóc người
khuyết tật nói chung, dạy nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật vận động
nói riêng. Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng người khuyết tật vận động được
tham gia học nghề còn chưa cao, hiệu quả tạo việc làm vẫn còn nhiều hạn
chế, chưa tổ chức được một lớp dạy nghề nào cho người khuyết tật. Không
có nghề và việc làm nên hầu hết người khuyết tật sống dựa vào gia đình, do
vậy, phần lớn hộ gia đình có người khuyết tật có mức sống thấp. Sở dĩ chưa
có nhiều người khuyết tật tham gia học nghề là do nhận thức của người
khuyết tật về vai trò, tác dụng của việc học nghề còn hạn chế. Phần lớn
người khuyết tật có tâm lý mặc cảm, tự ti và sống dựa vào sự hỗ trợ của gia
đình. Mặt khác, trình độ học vấn của người khuyết tật trên địa bàn còn
thấp. Bởi vậy, việc lựa chọn nghề học phù hợp với trình độ, sức khỏe của
người khuyết tật cũng rất khó khăn. Trong khi đó, theo quy định, những
nghề lựa chọn dạy cho người khuyết tật cũng nằm trong danh mục nghề
chung của lao động nông thôn. Hiện nay, trong danh mục nghề chỉ có nghề
thủ công mỹ nghệ là phù hợp hơn với người khuyết tật. Một khó khăn nữa
15
trong công tác dạy nghề cho người khuyết tật hiện nay là do hầu hết các địa
phương vẫn chưa có cơ sở dạy nghề, dạy chữ chuyên nghiệp, còn thiếu các
cơ sở đảm bảo vừa dạy nghề vừa tạo việc làm cho người khuyết tật. Cơ sở
vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy nghề và tạo việc làm cho
người khuyết tật còn yếu và thiếu nghiêm trọng.
- Các hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động:
Được học nghề, tạo việc làm là nhu cầu cần thiết của mỗi người
16
khuyết tật còn khả năng lao động và khao khát được sống bằng chính sức
lao động của mình. Cùng với sự chung tay giúp đỡ của cộng đồng, xã hội,
số người khuyết tật được tạo việc làm trong các tổ chức, doanh nghiệp, tự
tạo việc làm cho mình và cho những người cùng cảnh ngộ. Tuy nhiên, để
thực sự tự lập cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, người khuyết tật vận động
cũng gặp không ít khó khăn đặc biệt trong tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để
phát triển sản xuất, kinh doanh. Với người khuyết tật vận động, việc tham
gia sinh hoạt thường ngày gặp không ít khó khăn, nói gì tới việc làm kinh
tế, quan niệm này vẫn tồn tại ở không ít người. Tuy nhiên, bên cạnh nghị
lực bản thân, sự động viên, đồng hành của người thân, nhiều người khuyết
tật vận động đã học hỏi nhiều kỹ thuật và mô hình hiệu quả để áp dụng vào
thực tế lao động, sản xuất tại gia đình, gặt hái được nhiều thành công đáng
nể. Đặc biệt trong điều kiện khó khăn về kinh tế, phương pháp tiếp cận, các
tổ chức Hội, nhóm của người khuyết tật vẫn nổ lực để các hội viên có thể
tranh thủ mọi nguồn lực, đặc biệt gần đây với nguồn vốn vay ưu đãi từ
Ngân hàng chính sách xã hội, Qũy quốc gia giải quyết việc làm… để sản
xuất, tự lập, vươn lên nên người khuyết tật vận động có thêm nguồn trợ lực
phát triển kinh tế hiệu quả. Nhờ những nguồn vốn được vay, nhiều người
khuyết tật đã vươn lên thoát nghèo. Bên cạnh đó, việc tạo điều kiện cho
người khuyết tật nói chung và người khuyết tật vận động nói riêng được
tham gia các lớp tập huấn về tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi giúp người
khuyết tật vận động có cơ hội tìm hiểu điều kiện, thủ tục vay vốn ưu đãi
của Ngân hàng chính sách xã hội để sản xuất, kinh doan tìm hiểu Luật
doanh nghiệp, các điều kiện và thủ tục để thành lập các cơ sở sản xuất kinh
doanh của người khuyết tật vận động có đủ tư cách pháp nhân và giúp
người khuyết tật vận động tìm hiểu việc thành lập các nhóm kinh doanh,
người khuyết tật nói chung, người khuyết tật vận động nói riêng. Bên cạnh
đó, xác định mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
hàng năm.
- Các chính sách hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động:
+ Ở Việt Nam, bên cạnh hình thức, hoạt động trợ giúp người khuyết
tật vận động thì chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật vận động cũng
được quan tâm đúng mức. Luật Dạy nghề năm 2012 đã dành toàn bộ
chương VII quy định dạy nghề cho người khuyết tật với mục tiêu giúp đối
tượng có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình
để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm, ổn định đời sống. Đồng thời
Nhà nước cũng khẳng định hỗ trợ về các chính sách ưu đãi khác như cấp
kinh phí đào tạo, miễn giảm thuế, được vay vốn với lãi suất thấp, bản thân
người khuyết tật vận động học nghề được xem xét cấp học bổng và trợ cấp
xã hội, được miễn giảm học phí căn cứ vào mức độ khuyết tật và suy giảm
khả năng lao động.
+ Bên cạnh đó còn có rất nhiều chính sách và hoạt động hỗ trợ cụ thể
mà Nhà nước đang thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính và các ưu đãi đối
với các cơ sở dạy nghề cho NKT, nhằm thúc đẩy công tác dạy nghề và tạo
việc làm cho đối tượng này. Các cơ sở dạy nghề dành riêng cho NKT được
ưu tiên cấp địa điểm thuận lợi, được hỗ trợ vay bốn, cấp kinh phí đào tạo,
miễn giảm thuế, được vay vốn với lãi suất thấp, ưu tiên đầu tư, bảo đảm
18
định mức kinh phí… Hệ thống các chính sách ngày càng hoàn thiện, nhất là
việc ban hành Luật Người khuyết tật đã tạo hành lang pháp lý tăng cường
các điều kiện để người khuyết tật vận động hòa nhập cộng đồng. Đối với
các cơ sở sản xuất kinh doanh của người khuyết tật, Thủ tướng Chính phủ
đã có quyết định số 51/2008/QĐ- TTg về chính sách hỗ trợ của Nhà nước
đối với cở sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người lao động là người
cầu được hỗ trợ vốn để làm ăn, thế nhưng thực tế số người khuyết tật vận
19
động được vay vốn rất thấp hoặc nếu có thì mức vay dành cho họ cũng nhỏ
giọt và vụn vặt. Hiện tại, Ngân hàng chính sách xã hội vẫn duy trì hiệu quả
11 chương trình cho vay tín dụng đối với các đối tượng như: hộ nghèo, lao
động không có việc làm, đồng bào dân tộc thiểu số… nhưng tỷ lệ người
khuyết tật vận động được tham gia vào các nguồn vốn vay lại rất hạn chế,
thường chỉ tập trung ở thành phố lớn và hiện vẫn chưa có nguồn vốn vay
dành riêng cho cá nhân người khuyết tật vận động mà việc vay vốn phải
thông qua một Hội/ tổ chức/ nhóm có tư cách pháp nhân đứng ra bảo lãnh.
1.2.3.2. Bản thân người khuyết tật vận động
Khi bị khuyết tật vì lý do gì đi nữa thì người khuyết tật vận động vẫn
không thể tránh khỏi trạng thái sốc tinh thần gây ra. Đến giai đoạn trưởng
thành người khuyết tật vận động cũng gặp phải những băn khoăn trong việc
lập gia đình, học nghề và tìm kiếm việc làm. Đây chính là những khó khăn
lớn nhất mà người khuyết tật vận động gặp phải. Đa số người khuyết tật
vận động đều cảm thấy tự ti, mặc cảm về những khiếm khuyết trên cơ thể
của mình vì vậy mà nó ảnh hưởng tới quá trình tìm kiếm việc làm của họ.
Có người thì bỏ cuộc sớm trong quá trình tìm kiếm việc làm hoặc có người
đi làm được một thời gian ngắn rồi bỏ. Nhiều người khuyết tật vận động rất
nhạy cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người khác. Họ
chú trọng quá mức về khiếm khuyết trên cơ thể của mình đến nỗi không
muốn vươn lên, vượt qua và hòa nhập cộng đồng, tìm kiếm việc làm phù
hợp với khả năng của mình. Họ sống phụ thuộc vào quá nhiều vào gia đình,
những khoản tiền trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn rất
nhiều người khuyết tật vận động nỗ lực tồn tại vươn lên, vượt qua, hòa
nhập, giao lưu, lập gia đình và tìm được cho mình một công việc tốt giống
như một người lành lặn. Họ coi khuyết tật như một tai nạn đẻ rồi biết vượt
thừa nhận nguyên nhân chính của những bất lợi mà người khuyết tật vận
động đang phải đối mặt cũng như họ bị tách biệt ra khỏi xã hội không phải
do tình trạng khuyết tật của từng cá nhân mà là chính hậu quả của những
phản ứng tiêu cực từ xã hội đối với người khuyết tật vận động. Thực tế cho
thấy, NKT vận động luôn bị từ chối các cơ hội tìm kiếm việc làm, đây là
một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, do nhận thức thiếu tích
cực từ xã hội, bị đối xử trên thị trường lao động đã tạo thêm rào cản đối với
việc thực hiện chủ trương đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm cho người
khuyết tật vận động. Ngay cả khi họ có việc làm thì đó cũng thường là
những việc không thuộc thị trường lao động chính thức với đồng lương rẻ
mạt và những vị trí đòi hỏi kỹ năng thấp.
1.2.3.5. Cán bộ chính sách
Cán bộ chính sách là những người quản lý hồ sơ của các đối
tượng trong đó có người khuyết tật vận động, vì vậy cán bộ chính sách là
người kết nối việc làm tới người khuyết tật vận động, là người tạo điều kiện
tốt nất giúp người khuyết tật vận động tiếp cận được với các chương trình
an sinh xã hội, các buổi hội thảo, lớp dạy nghề dành cho người khuyết tật
vận động. Từ đó giúp người khuyết tật vận động tiếp cận dễ dàng hơn với
việc làm để họ tham gia vào thị trường lao động một cách tốt nhất.
21