Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động tại xã nam giang, huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa - Pdf 47

MỤC LỤC

11


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH
GTSX
NKT
NVXH
UBND

Công tác xã hội
Giá trị sản xuất
Người khuyết tật
Nhân viên xã hội
Uỷ ban nhân dân

22


DANH MỤC BẢNG BIỂU

33


A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển việc coi trọng cuộc sống
của con người đã và đang là mục tiêu, động lực để phát triển nền kinh tế,



thường xuyên, có mức sống nghèo hoặc trung bình, bởi chính họ khó có thể
lao động, làm việc với năng suất như người khác nếu không được đào tạo
một cách bài bản. Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội hiện nay, xã Nam
Giang tiếp tục đẩy mạnh các mục tiêu phát triển về giáo dục, đào tạo và dạy
nghề để hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật điều này không chỉ tạo điều
kiện cho người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng, mà còn có nhiệm vụ to
lớn giúp giảm bớt gánh nặng an sinh xã hội.
Xuất phát từ nhu cầu đó, em xin chọn tên đề tài khóa luận của mình:
“ Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
vận động tại xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa” .
2. Tổng quan về vấn đề hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động
- Trong “ Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người
khuyết tật tại Việt Nam” theo đặt hàng của Tổ chức Lao động quốc tế tháng
8 năm 2008. Báo cáo này cung cấp một cách nhìn tổng thể về các tổ chức
của người khuyết tật, các tổ chức đại diện cho người khuyết tật và các dịch
cụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển các doanh nghiệp cho người khuyết
tật. Kết quả phân tích báo cáo này cho biết tại Việt Nam người khuyết tật
rất ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như phát triển doanh
nghiệp.
- Khoa Công tác xã hội, Trường Đại học Lao động – xã hội phối hợp
với Hội Trợ giúp Người khuyết tật Việt Nam ( VNAH) cùng với sự hỗ trợ
tài chính của cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ ( USAID) đã biên soạn ra
cuốn tài liệu hướng dẫn tập huấn ngắn hạn với tiêu đề “ Giáo trình Công tác
xã hội với Người khuyết tật”. trọng tâm của cuốn tài liệu này nhằm cung
cấp những kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, nhân viên làm việc với người
khuyết tật tại các trung tâm, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật.
Cuốn tài liệu đã khái quát những vấn đề cơ bản về người khuyết tật và nêu
lên các loại hình chăm sóc trợ giúp người khuyết tật và vai trò của nhân

dung, chương trình, nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu,
quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình và các
thiết bị dạy nghề dành riêng cho NKT, đội ngũ giáo viên dạy nghề cho
NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực sư
phạm và quản lý. Đồng thời việc thực hiện chính sách về việc làm với NKT
chưa nghiêm, hoạt động kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, vì vậy NKT
chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận dạy nghề và việc làm.
- Bài viết “ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
nghề cho NKT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Nguyễn Thị Thanh Tâm
( 2012). Tuyển tập báo cáo Hội sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 8,
Đại học Đà Nẵng năm 2012. Báo cáo đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo nghề cho Người khuyết tật trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng.
- Nghiên cứu của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội với đề tài “
Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách,
chương trình quốc gia về dạy nghề và việc làm cho NKT của Bộ Lao động
Thương Binh và Xã Hội( 1993 -75tr). Nghiên cứu này nói về việc xây dựng
66


các chương trình, chính sách và thực hiện các chính sách cho NKT để
người khuyết tật có thể tìm được việc làm cho chính mình. Người khuyết
tật sẽ được tư vấn hỗ trợ về dạy nghề, những nghề phù hợp với khả năng và
sở thích của mình. Qua quá trình tư vấn NKT tìm được những nơi có thể
nhận mình vào làm việc, để có thể tìm được công việc phù hợp với bản
thân mình.
- Báo cáo khoa học của nhóm sinh viên Vũ Trung Hiền, Nguyễn Thị
Kim Nga, Trần Vũ Mạnh Trường, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn về đề tài “ Biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình
phúc lợi công cộng phù hợp với NKT vận động dựa vào cộng đồng”.

đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc hỗ trợ việc làm cho
người khuyết tật thông qua phương pháp công tác xã hội cá nhân.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về người khuyết tật vận động và công tác
xã hội cá nhân với người khuyết tật vận động.
- Nghiên cứu thực trạng công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ
việc làm cho người khuyết tật vận động tại xã Nam Giang, huyện Thọ
Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy hoạt động công tác xã hội cá
nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động nhằm nâng cao
khả năng tiếp cận cộng đồng cho họ.
5. Khách thể nghiên cứu
- Người khuyết tật vận động
- Gia đình
- Cán bộ
6. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
vận động tại xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
7. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: tại xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian: Thu thập số liệu, dữ liệu để phân tích, đánh giá về việc
hỗ trợ người việc làm cho người khuyết tật vận động từ 1/5 – 4/6/2017.
- Nội dung: Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người
khuyết tật vận động tại xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
8. Phương pháp nghiên cứu
88


- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Là phương pháp thu thập thông
tin từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu có sẵn của các tác giả.


99


1010


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI
XÃ NAM GIANG, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA.
1.1. Cơ sở lý luận về người khuyết tật vận động
1.1.1 Khái niệm khuyết tật, người khuyết tật vận động, việc làm
1.1.1.1.Khái niệm khuyết tật
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra cách phân loại quốc tế về
suy giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật (The Internation Classification of
Impairments, Disabilities, and Handicaps - ICIDH) đã là một hệ thống tiên
phong trong quá trình hiểu và đưa ra định nghĩa về khuyết tật. Theo cách
hiểu của ICIDH, khuyết tật là những hạn chế trong hoạt động theo chức
năng hay trong phạm vi bình thường của con người, những hạn chế này do
suy giảm chức năng gây nên. .( Giáo trình công tác xã hội với người
khuyết tật, Nguyễn Thị Thanh Hương và các tác giả, trường ĐH Lao động
Xã Hội).
1.1.1.2. Khái niệm người khuyết tật vận động
Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động
đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
( Giáo trình công tác xã hội với người khuyết tật, Nguyễn Thị Thanh
Hương và các tác giả, trường ĐH Lao động Xã Hội).
1.1.2. Đặc điểm của Người khuyết tật vận động
- Biểu hiện thường thấy của người khuyết tật vận động:

+ Do bẩm sinh hoặc trong khi sinh:
. Do di truyền từ bố, mẹ hoặc1 trong 2 có tật di truyền sang thế hệ
sau như điếc bẩm sinh, mù bẩm sinh và xuất hiện tật trong quá trình phát
triển.
. Sự đột biến về nhiễm sắc thể làm cấu trúc gen bị sai lệch dẫn đến
một số hiện tượng hội chứng Down.
. Nhiễm độc thai nhi do người mẹ mang thai mắc một số bệnh như
cúm, sởi, Rubela… do hút thuốc, sử dụng ma túy trong khi mang thai.
. Do các bệnh xã hội của người mẹ như lậu, giang mai, AIDS.
. Đẻ non, thiếu tháng.
. Do mệt mỏi, căng thẳng của người mẹ.
. Nguyên nhân trong khi sinh do tai biến khi sinh phải dùng dụng cụ
hỗ trợ không đảm bảo an toàn cho trẻ.
+ Nguyên nhân bệnh tật:
. Hậu quả của một số bệnh viêm màng não, cúm, sởi, đậu mùa, đột
quỵ…
. Sử dụng thuốc sai hoặc không đúng chỉ định.
+ Nguyên nhân do tai nạn:
. Tai nạn sinh hoạt như bị ngã cầu thang, bị điện giật…
1212


. Tai nạn thương tích giao thông, trong lao động, trong gia đình và
trong thể thao. Hiện nay, tỷ lệ người khuyết tật vận động do các loại tai nạn
gây ra ngày càng có xu hướng gia tăng.
. Theo thống kê của Chính phủ thì 1/4 người khuyết tật vận động là
do hậu quả của chiến tranh như bom mìn còn sót lại.
1.2. Cơ sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người
khuyết tật vận động.
1.2.1. Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật vận động

thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
( vanban.chinhphu.vn)
1.2.1.3. Các nguyên tắc Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật vận
động
Trong CTXH cá nhân, NVXH cần tuân thủ đầy đủ và nghiêm túc 7
nguyên tắc hành động nghề nghiệp đó là:
+ Chấp nhận đối tượng: Bất kể đối tượng là ai, đến từ những hoàn
cảnh nào. Việc chấp nhận những quan điểm, hành vi và giá trị của đối
tượng để đối tượng hiểu nhân viên công tác xã hội hiểu và không phán xét
đối tượng. Việc này không đồng nhất với việc đồng tình với những quan
điểm, hành vi và giá trị sai lệch với xã hội.
+ Để đối tượng tham gia vào giải quyết vấn đề: Đây là nguyên tắc
đảm bảo đối tượng tham gia giải quyết vấn đề của họ từ giai đoạn đầu cho
tới giai đoạn kết thúc. Vì hơn ai hết đối tượng là người có vấn đề nên hiểu
về hoàn cảnh cũng như mong muốn của mình nên vấn đề chỉ được giải
quyết hiệu quả khi đối tượng được tham gia.
+ Tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng: Nguyên tắc được hiểu là
đối tượng chính là giải quyết vấn đề của họ như thế nào. Nhân viên xã hội
chỉ đóng vai trò là người xúc tác, cung cấp thông tin và giúp đối tượng tự
đưa ra quyết định của mình một cách đúng đắn và phù hợp.Tuy nhiên trong
một số trường hợp khi quyết định của đối tượng có ảnh hưởng đến sự an
nguy của họ, gia đình và những người xung quanh, nhân viên công tác xã
hội cần can thiệp.
+ Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp: Do mỗi đối tượng( cá
nhân, gia đình hay cộng đồng) đều có những đặc điểm riêng biệt về bản
thân, hoàn cảnh gia đình và môi trường sống, khi giúp đối tượng giải quyết
vấn đề nhân viên công tác xã hội cần tôn trọng tính cá biệt của từng trường
hợp mà đưa ra phương pháp tiếp cận và hỗ trợ giải quyết vấn đề hiệu quả.
Ngay cả khi cũng là một vấn đề nhưng mỗi đối tượng họ lại cần có cách
tiếp cận khác nhau.

đầu về đối tượng. Tuy nhiên, nhân viên xã hội cũng cần lưu ý không được
lạm dụng những dự đoán trước của mình và áp đặt lên hoàn cảnh thực tiễn.
Giai đoạn 2: Thu thập thông tin
- Là hoạt động thu thập thông tin dữ liệu về đối tượng và những vấn
đề có liên quan đến đối tượng.
- Mục đích giúp NVXH dựa trên những thông tin có được xác định
chính xác vấn đề của cá nhân đối tượng và trên cơ sở đó lên kế hoạch hỗ
trợ trị liệu. Thông tin thu được càng đầy đủ, chính xác giúp nhân viên xã
hội có bức tranh toàn cảnh đầy đủ về đối tượng và từ đó đưa ra những gợi
mở hỗ trợ hữu hiệu và phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh của đối tượng.
- Nội dung: Thông tin về đối tượng ( tâm lý, tình cảm, điểm mạnh
điểm yếu); thông tin về môi trường của đối tượng, những nguồn lực từ gia
đình ( các thành viên trong gia đình, điều kiện sống, mối quan hệ, tương tác
trong gia đình); thông tin về luật pháp, chính sách, chương trình, dịch vụ
liên quan.
- Phương pháp thu thập thông tin: vãng gia, phỏng vấn, quan sát…
1515


Giai đoạn 3: Đánh giá, xác định vấn đề
- Là giai đoạn nhân viên xã hội cùng đối tượng đánh giá và xác định
vấn đề, nhân viên xã hội đánh giá, kiểm tra lại những thông tin, dữ liệu đã
thu thập được để có những thông tin xác định về đối tượng.
- Nhân viên xã hội sử dụng các công cụ như: cậy vấn đề, biểu đồ sinh
thái, bảng phân tích điểm mạnh, điểm yếu để tìm ra vấn đề mà thân chủ
đang gặp phải sau đó xác định vấn đề ưu tiên cho từng vấn đề cụ thể.
Giai đoạn 4: Lập kế hoạch can thiệp/ hỗ trợ
- Là việc xác định các hoạt động dự kiến để tiến hành giúp đỡ đối
tượng dựa trên nhu cầu của đối tượn và những nguồn lực thực tiễn hiện có.
- Đây là giai đoạn NVXH cần biết huy động sự tham gia tối đa của

sung điều chỉnh.
- Kết thúc/ đóng hồ sơ là kết thúc quá trình can thiệp hỗ trợ của nhân
viên xã hội với đối tượng khi vấn đề của đối tượng đã được đối tượng giải
quyết và họ sẵn sàng hòa nhập cộng đồng.
- Chuyển giao được thực hiện khi đối tượng có nhu cầu cần dịch vụ
khác hoặc trong quá trình can thiệp không mang lại nhiều lợi ích cho đối
tượng. Nhân viên xã hội cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đối tượng, những nhận
định, nhận xét trong quá trình giúp đỡ để có thể chuyển giao tốt.
1.2.1.5. Về kỹ năng Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật vận động
- Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức,
hiểu biết về quá trình giao tiếp, các yếu tố tham gia và ảnh hưởng tới quá
trình giao tiếp cũng như sử dụng có hiệuq ủa các phương tiện giao tiếpm
phối hợp hài hào toàn bộ hành vi, ứng xử, hành vi, cử chỉ… để giúp chủ thể
đạt được mục đích nhất định của hoạt động giao tiếp đó. ( Hà Thị Thư, Đại
học Lao động Xã hội)
Việc sử dụng giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ là một phần rất
quan trọng trong quá trình làm việc với cá nhân. Nhân viên xã hội cần quan
tâm và lưu ý trong quá trình chuẩn bị và tiếp xúc với đối tượng làm thế nào
tạo cho đối tượng thấy được sự tôn trọng, đồng cảm, gần gũi và an toàn;
phải nhận thức được vấn đề mà mình đang giao tiếp, giao tiếp được thực
hiện trên cơ sở kế hoạch đó định trước, luôn có những định hướng cho mỗi
cuộc giao tiếp. Để thực hiện được kỹ năng này nhân viên xã hội phải có
khả năng thiết lập các mối quan hệ, biết cách lắng nghe tích cực, biết phản
hồi cảm xúc và nội dung của đối tượng giao tiếp và biết cách thu thập và xử
lý thông tin qua việc đặt câu hỏi.
- Kỹ năng lắng nghe tích cực
Lắng nghe là hoạt động mang tính tích cực vì nó là nghe có chủ định,
đòi hỏi có sự chú ý để có thể nghe thấy. Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng
Phê: “ Lắng nghe là sự thể hiện sự chủ ý để hiểu những gì mà chúng ta

những manh mối quan trọng về nội dung chuyển tải của đối tượng. Vì vậy
để kỹ năng quan sát được thực hiện tốt thì người nhân viên xã hội phải có
khả năng nhận thức tinh tế về các vấn đề của đối tượng, phải biết cách quan
sát từ tổng thể về hành vi, diện mạo bên ngàoi của đối tượng, đến những
đặc điểm tâm lý, đặc biệt là những sắc thái tình cảm xảy ra giữa đối tượng
và người khác và với chính nhân viên xã hội.
- Kỹ năng phản hồi
Kỹ năng phản hồi là khả năng phản hòi lại cho đối tượng những
thông tin, suy nghĩ, tâm trạng, cảm xúc của nhân viên xã hội và đối tượng
trong quá trình giao tiếp. ( Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai, Công
tác xã hội cá nhân, 2011, Nhà xuất bản Lao động Xã hội).
Phản hồi trong công tác xã hội cá nân được đề cập tới hai loại chủ
yếu đó là phản hồi nội dung thông tin, phản hồi cảm xúc, tình cảm và phản
hồi suy nghĩ và hành vi. Phản hồi là một kỹ năng quan trọng và là kỹ năng
khó trong quá trình giúp đỡ cá nhân. Nếu nhân viên xã hội biết sử dụng tốt
kỹ năng phản hồi sẽ nhận được sự cộng tác, tham gia của đối tượng. Phản
1818


hồi sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy sự gần gũi, thấu cảm với đối tượng làm cho
quá trình hợp tác trong giải quyết vấn đề diễn ra thuận lợi hơn.
1.2.2. Các hình thức hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã không ngừng quan tâm
tới vấn đề hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động song số lượng
người được học nghề còn quá ít, tỷ lệ tìm được việc làm sau đào tạo nghề
còn rất thấp và chủ yếu là tự tạo việc làm, số lượng người khuyết tật có thể
tìm được việc làm trong các doanh nghiệp hầu như không đáng kể. Trên
thực tế, nhu cầu việc làm của người khuyết tật là rất lớn và hiện nay mới
chỉ đáp ứng được một phần nhỏ, phần lớn những người khuyết tật vận động
có việc làm những không ổn định, làm các công việc tạm thời. Bên cạnh

người khuyết tật cũng rất khó khăn. Trong khi đó, theo quy định, những
nghề lựa chọn dạy cho người khuyết tật cũng nằm trong danh mục nghề
chung của lao động nông thôn. Hiện nay, trong danh mục nghề chỉ có nghề
thủ công mỹ nghệ là phù hợp hơn với người khuyết tật. Một khó khăn nữa
trong công tác dạy nghề cho người khuyết tật hiện nay là do hầu hết các địa
phương vẫn chưa có cơ sở dạy nghề, dạy chữ chuyên nghiệp, còn thiếu các
cơ sở đảm bảo vừa dạy nghề vừa tạo việc làm cho người khuyết tật. Cơ sở
vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy nghề và tạo việc làm cho
người khuyết tật còn yếu và thiếu nghiêm trọng.
- Các hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động:
+ Dạy nghề cho NKT vận động
Trong những năm gần đây, việc dạy nghề, đào tạo việc làm cho NKT
đã nhận được sự quam tâm của Nhà nước thông qua nhiều chính sách ưu
tiên, hỗ trợ khác nhau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp người khuyết tật
vận động vẫn còn rất khó khăn để có thể tìm được việc làm. Nguyên nhân
là do họ chưa được đào tạo nghề hoặc chưa được đào tạo nghề đúng khả
năng của bản thân. Để người khuyết tật vận động có thể tìm được niềm vui
từ công việc, rất cần có những chính sách ưu đãi cho việc dạy nghề và tạo
việc làm cho đối tượng chịu nhiều thiệt thòi này. Có rất nhiều người khuyết
tật cho rằng, họ mong muốn mình là những người “ tàn nhưng không phế”,
và thực sự họ không muốn mình được trở thành gánh nặng cho người thân,
gia đình và xã hội. những để làm được điều tưởng chừng đơn giản đó đối
với người khuyết tật vận động không phải là vấn đề đơn giản. Hiện nay,
nhiều cơ sở đào tạo nghề cũng được thành lập với những nghề phù hợp với
người khuyết tật vận động như: công nghệ thông tin, điện – điện tử; kế
toán, may, giày da, thủ công mỹ nghệ… nhằm giúp đỡ những người khuyết
tật vận động còn sức khỏe, vẫn có thể làm việc và có mong muốn tìm việc
làm để có thu nhập nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình và hòa nhập với
cộng đồng. Ngoài ra, nhiều mô hình dạy nghề, đào tạo nghề cho người
khuyết tật vận động trong cả nước được xây dựng và đã gặt hái được nhiều

xuất, tự lập, vươn lên nên người khuyết tật vận động có thêm nguồn trợ lực
phát triển kinh tế hiệu quả. Nhờ những nguồn vốn được vay, nhiều người
khuyết tật đã vươn lên thoát nghèo. Bên cạnh đó, việc tạo điều kiện cho
người khuyết tật nói chung và người khuyết tật vận động nói riêng được
tham gia các lớp tập huấn về tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi giúp người
khuyết tật vận động có cơ hội tìm hiểu điều kiện, thủ tục vay vốn ưu đãi
của Ngân hàng chính sách xã hội để sản xuất, kinh doan tìm hiểu Luật
doanh nghiệp, các điều kiện và thủ tục để thành lập các cơ sở sản xuất kinh
doanh của người khuyết tật vận động có đủ tư cách pháp nhân và giúp
người khuyết tật vận động tìm hiểu việc thành lập các nhóm kinh doanh,
thiết lập mạng lưới kinh doanh để giúp để nhau trong quá trình sản xuất và
kinh doan . Dù gặp không ít khó khăn trong sinh hoạt, học tập và lao động
nhưng nhiều người khuyết tật vận động vẫn không ngừng phấn đấu, vươn
lên. Cùng với việc xây dựng mô hình kinh tế phù hợp, có tehem nguồn vốn
2121


vay ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội, chắc chắn người khuyết tật vận
động sẽ gặt hái được nhiều thành công đóng góp vào thành quả phát triển
kinh tế chung của xã hội.
+ Tư vấn, giới thiệu việc làm
Bên cạnh các hình thức hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận
động như dạy nghề, cho vay vốn thì giới thiệu, tư vấn việc làm cũng ngày
càng đáp ứng được kỳ vọng của người khuyết tật vận động. Nắm bắt được
tâm tư, nguyện vọng của người khuyết tật nói chung và người khuyết tật
vận động nói riêng các trung tâm dịch vụ việc làm, các Hội người khuyết
tật, trường dạy nghề đã xây dựng đề án, kế hoạch, phối hợp với các đơn vị
có liên quan tổ chức các hoạt động thiết thực như tổ chức các hội chợ việc
làm, ngày hội việc làm, phiên giao dịch việc làm lồng ghép với tư vấn, tìm
kiếm việc làm, trong đó có khu vực dành riêng cho đối tượng là người

với các cơ sở dạy nghề cho NKT, nhằm thúc đẩy công tác dạy nghề và tạo
việc làm cho đối tượng này. Các cơ sở dạy nghề dành riêng cho NKT được
ưu tiên cấp địa điểm thuận lợi, được hỗ trợ vay bốn, cấp kinh phí đào tạo,
miễn giảm thuế, được vay vốn với lãi suất thấp, ưu tiên đầu tư, bảo đảm
định mức kinh phí… Hệ thống các chính sách ngày càng hoàn thiện, nhất là
việc ban hành Luật Người khuyết tật đã tạo hành lang pháp lý tăng cường
các điều kiện để người khuyết tật vận động hòa nhập cộng đồng. Đối với
các cơ sở sản xuất kinh doanh của người khuyết tật, Thủ tướng Chính phủ
đã có quyết định số 51/2008/QĐ- TTg về chính sách hỗ trợ của Nhà nước
đối với cở sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người lao động là người
khuyết tật. Theo đó, các cơ sở kinh doanh có nhu cầu cần vay vốn để đầu tư
sản xuất kinh doanh nhằm ổn định việc làm cho người khuyết tật về thu hút
thêm người khuyết tật vào làm việc sẽ được xem xét cho vay vốn ưu đãi từ
Ngân hàng Chính sách xã hội. Lãi suất cho vay vốn bằng 50% mức lãi suất
cho vay đối với các đối tượng khác vay vốn giải quyết việc làm của Ngân
hàng chính sách xã hội. Ngoài chính sách ưu đãi trên, cơ sở kinh doanh của
người khuyết tật, người sử dụng lao động là người khuyết tật còn được Nhà
nước hỗ trợ Qũy quốc gia về việc làm để phát triển kinh tế sản xuất, kinh
doanh.
+ Công tác hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vận động được quan
tâm rõ rệt. Nếu người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc
làm cho người khuyết tật sẽ được vay vốn với lãi suất ưu đãi, được hướng
dẫn về sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ
sản phẩm. Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số
lao động là người khuyết tật trở lên sẽ được hỗ trợ kinh phí cải tạo điều
kiện, môi trường làm việc phù hợp với người khuyết tật, được miễn thuế
thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
vận động
1.2.3.1. Về các chính sách

Có người thì bỏ cuộc sớm trong quá trình tìm kiếm việc làm hoặc có người
đi làm được một thời gian ngắn rồi bỏ. Nhiều người khuyết tật vận động rất
nhạy cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người khác. Họ
chú trọng quá mức về khiếm khuyết trên cơ thể của mình đến nỗi không
muốn vươn lên, vượt qua và hòa nhập cộng đồng, tìm kiếm việc làm phù
hợp với khả năng của mình. Họ sống phụ thuộc vào quá nhiều vào gia đình,
những khoản tiền trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn rất
nhiều người khuyết tật vận động nỗ lực tồn tại vươn lên, vượt qua, hòa
nhập, giao lưu, lập gia đình và tìm được cho mình một công việc tốt giống
như một người lành lặn. Họ coi khuyết tật như một tai nạn đẻ rồi biết vượt
lên chính mình, trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, giúp đỡ những
người có cùng cảnh ngộ giống như mình.
2424


1.2.3.3. Gia đình người khuyết tật vận động
Gia đình cũng là nơi tiếp thêm sức mạnh cho người khuyết tật vận
động tham gia vào tìm kiếm việc làm, là một trong những yếu tố ảnh hưởng
lớn tới người khuyết tật vận động. Sự chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ từ
phía gia đình sẽ là nguồn động lực lớn lao để người khuyết tật vận động
sớm hòa nhập cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên, một trong những khó khăn lớn
nhất cản trở việc người khuyết tật vận động tìm kiếm việc làm đó chính là
một phần do sự bao bọc của gia đình. Rất nhiều gia đình người khuyết tật
hay có tâm lý sợ con em của họ bị tổn thương nên nhiều khi không dám
cho tiếp xúc với bên ngoài, từ đó người khuyết tật vận động bị cô lập, chỉ
quanh quẩn trong nhà, không có cơ hội được tiếp xúc với bên ngoài, từ đó
NKT vận động bị cô lập, chỉ quanh quẩn trong nhà, không có cơ hội được
tiếp xúc với việc làm. Chính vì vậy họ ít được trải nghiệm cuộc sống bên
ngoài xã hội, họ dễ bị tổn thương, gặp sự cố gì họ khó tự giải quyết và lại
lui về phía gia đình. Để người khuyết tật vận động sớm được tham gia vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status