Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng My - Pdf 47

Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay công tác kế toán tiền lương tại các doanh nghiệp tại các doanh
nghiệp sử dụng nhiều phương pháp tính lương khác nhau sao cho phù hợp với
đặc điểm của công ty của mình. Rất nhiều doanh nghiệp sử dụng thành công
những phương pháp tính lương rất khoa học(ebay, vatgia.com…). Bên cạnh đó
còn có các doanh nghiệp chưa gắn liền công tác kế toán tiền lương với kế hoạch
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần xã hội . Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu
quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Lao động là một trong
ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là yếu tố quyết định nhất. Chi phí về
lao động là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do
doanh nghiệp sản xuất ra. Sử dụng hợp lý lao động trong quá trình sản xuất kinh
doanh là tiết kiệm chi phí về lao động sống góp phần hạ thấp giá thành sản
phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện nâng cao đời
sống vật chất tinh thần cho CNV, người lao động trong doanh nghiệp.
Tiền lương (hay tiền công) là một phần sản phẩm xã hội được Nhà nước
phân phối cho người lao động một cách có kế hoạch, căn cứ vào kết quả lao
động mà mỗi người cống hiến cho xã hội biểu hiện bằng tiền nó là phần thù lao
lao động để tái sản xuất sức lao động bù đắp hao phí lao động của công nhân
viên đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tiền lương gắn liền với thời
gian và kết quả lao động mà công nhân viên đã thực hiện, tiền lương là phần thu
nhập chính của công nhân viên. Trong các doanh nghiệp hiện nay việc trả lương
SVTH : Hà Văn Ngà 1
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
cho công nhân viên có nhiều hình thức khác nhau, nhưng chế độ tiền lương tính
theo sản phẩm đang được thực hiện ở một số doanh nghiệp là được quan tâm hơn
cả. Trong nội dung làm chủ của người lao động về mặt kinh tế, vấn đề cơ bản là
làm chủ trong việc phân phối sản phẩm xã hội nhằm thực hiện đúng nguyên tắc

Vấn đề tiền lương, các khoản phải trích theo lương và cách hạch toán
lương của nhà máy trong tháng 10 năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, ghi chép: bằng việc sử dụng phương
pháp phỏng vấn trực tiếp và nghiên cứu, tìm hiểu các sổ sách, báo cáo kế toán từ
phòng Tài vụ và phòng tổ chức hành chính của công ty để thu thập những số liệu
cần thiết cho đề tài.
- Phương pháp phân tích: trên cơ sở hệ thống số liệu thu thập được, thông qua
sàng lọc xử lý số liệu để từ đó là cơ sở cho việc phân tích thực tế hoạt động của
đơn vị.
- Phương pháp tổng hợp: thông qua việc tổng hợp những số liệu, chứng từ làm
cơ sở để tiến hành nghiên cứu.
5. Kết cấu chuyên đề:
Chuyên đề tiến hành nghiên cứu có 3 chương:
SVTH : Hà Văn Ngà 3
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
Chương I : Lý luận về tổ chức lao động tiền lương và các khoản trích theo lương
trong các doanh nghiệp.
Chương II : Thực trạng tổ chức kế toán lao động tiền lương và các khoản trích
theo lương tại công ty TNHH Thương mại Hoàng My.
Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán lao động
tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương mại Hoàng
My
SVTH : Hà Văn Ngà 4
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TIỀN
LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP.

Tiền lương là bộ phận cơ bản (hay duy nhất) trong thu nhập của người lao
động, đồng thời là một trong các chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của xí
nghiệp.
Vậy có thể hiểu: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động,
là giá cả yếu tố của sức lao động mà người sử dụng (Nhà nước, chủ doanh
nghiệp) phải trả cho người cung ứng sức lao động, tuân theo nguyên tắc cung -
cầu, giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước.
Cùng với khả năng tiền lương, tiền công là một biểu hiện, một tên gọi
khác của tiền lương. Tiền công gắn với các quan hệ thoả thuận mua bán sức lao
động và thường sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các hợp đồng thuê
lao động có thời hạn. Tiền công còn được hiểu là tiền trả cho một đơn vị thời
gian lao động cung ứng, tiền trả theo khối lượng công việc được thực hiện phổ
biến trung những thoả thuận thuê nhân công trên thị trường tự do. Trong nền
kinh tế thị trường phát triển khái niệm tiền lương và tiền công được xem là đồng
nhất cả về bản chất kinh tế phạm vi và đối tượng áp dụng.
1.1.1.2 Bản chất của tiền lương, chức năng của tiền lương:
- Bản chất của tiền lương:
a. Các quan điểm cơ bản về tiền lương:
SVTH : Hà Văn Ngà 6
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
Quan điểm chung về tiền lương:
Lịch sử xã hội loài người trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau,
phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Một
trong những đặc điểm của quan hệ sản xuất xã hội là hình thức phân phối. Phân
phối là một trong những khâu quan trọng của tái sản xuất và trao đổi. Như vậy
trong các hoạt động kinh tế thì sản xuất đóng vai trò quyết định, phân phối và
các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất và do sản xuất quyết định nhưng có ảnh
hưởng trực tiếp, tích cực trở lại sản xuất.
Tổng sản phẩm xã hội là do người lao động tạo ra phải được đem phân
phối cho tiêu dùng cá nhân, tích luỹ tái sản xuất mở rộng và tiêu dùng công

Trong nhiều năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn. Song tình hình thực tế cho thấy rằng sự đổi mới một số
lĩnh vực xã hội còn chưa kịp với công cuộc đổi mới chung nhất của đất nước.
Vấn đề tiền lương cũng chưa tạo được động lực phát triển kinh tế xã hội.
Hiện nay có nhiều ý thức khác nhau về tiền lương, song quan niệm thống
nhất đều coi sức lao động là hàng hoá. Mặc dù trước đây không được công nhận
chính thức, thị trường sức lao động đã được hình thành từ lâu ở nước ta và hiện
nay vẫn đang tồn tại khá phổ biến ở nhiều vùng đất nước. Sức lao động là một
trong các yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản, của quá trình sản xuất, nên
tiền lương, tiền công là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là giá cả sức lao
động. Vì vậy việc trả công lao động được tính toán một cách chi tiết trong hạch
toán kinh doanh của các đơn vị cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế. Để xác định
tiền lương hợp lí cần tìm ra cơ sở để tính đúng ,tính đủ giá trị của sức lao
SVTH : Hà Văn Ngà 8
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
động .Người lao động sau khi bỏ ra sức lao động,tạo ra sản phẩm thì được một
số tiền công nhất định.Vậy có thể coi sức lao động là một loại hàng hoá,một loại
hàng hoá đặc biệt.Tiền lương chính là giá cả hàng hoá đặc biệt đó - hàng hoá sức
lao động. Hàng hoá sức lao động cũng có mặt giống như mọi hàng hoá khác là
có giá trị. Người ta định giá trị ấy là số lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản
xuất ra nó. Sức lao động gắn liền với con người nên giá trị sức lao động được đo
bằng giá trị các tư liệu sinh hoạt đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống (ăn, ở,
học hành,đi lại ...) và những nhu cầu cao hơn nữa.Song nó cũng phải chịu tác
động của các quy luật kinh tế thị trường .
Vì vậy, về bản chất tiền công, tiền lương là giá cả của hàng hoá sức lao
động, là động lực quyết định hành vi cung ứng sức lao động. Tiền lương là một
phạm trù của kinh tế hàng hoá và chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách
quan. Tiền lương cũng tác động đến quyết định của các chủ doanh nghiệp để
hình thành các thoả thuận hợp đồng thuê lao động.
-Chức năng của tiền lương:

người.
Một quá trình sản xuất xã hội bao giờ cũng bao gồm 3 yếu tố đó là: Lao
động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong ba yếu tố đó thì lao động
của con người là yếu tố quan trọng nhất. Sản xuất sẽ không thể tiến hành được
nếu thiếu tư liệu lao động và đối tượng lao động, nhưng nếu không có lao động
của con người thì tư liệu lao động và đối tượng lao động chỉ là những vật vô
dụng và không thể phát huy được tác dụng.
SVTH : Hà Văn Ngà 10
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
Như ta đã biết, chi phí về lao động là một trong ba yếu tố cấu thành nên
giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Chi phí về lao động cao hay thấp sẽ ảnh
hưởng đến giá thành sản phẩm. Vì vậy, muốn quản lý tốt chi phí sản xuất thì
trước hết cần phải quản lý chặt chẽ các khoản chi cho lao động và phải quản lý
từ lao động thông qua hai chỉ tiêu cơ bản đó là số lượng và chất lượng lao động.
- Quản lý số lượng lao động là quản lý về số lượng người lao động trên các mặt:
Giới tính, độ tuổi, chuyên môn...
- Quản lý chất lượng lao động là quản lý năng lực mọi mặt của từng người lao
động trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm như: Sức khoẻ lao động, trình độ
kỹ năng – kỹ xảo, ý thức kỷ luật...
Chỉ có trên cơ sở nắm chắc số lượng, chất lượng lao động thì việc tổ chức,
sắp xếp, bố trí các lao động mới hợp lý làm cho quá trình sản xuất của doanh
nghiệp hoạt động nhịp nhàng có hiệu quả cao. Ngược lại, không quan tâm đúng
mức việc quản lý lao động thì dẫn tới sức sản xuất của doanh nghiệp bị trì trệ,
kém hiệu quả.
Đồng thời, quản lý lao động tốt là cơ sở cho việc đánh giá trả thù lao cho
từng lao động đúng, việc trả thù lao đúng sẽ kích thích được toàn bộ lao động
trong doanh nghiệp lao động sáng tạo, nâng cao kỹ năng - kỹ xảo, tiết kiệm
nguyên vật liệu, tăng năng suất lao động góp phần tăng lợi nhuận
1.2.1.2 Ý nghĩa của tiền lương
- Tiền lương là công cụ để thực hiện các chức năng phân phối thu nhập quốc

+ Lương thời gian giản đơn được chia thành:
• Lương tháng: Tiền lương trả cho người lao động theo thang bậc quy định gồm
tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp(nếu có). Lương tháng thường được áp
dụng trả lương nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các
nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất.
• Lương ngày : Được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày làm việc
theo chế độ. Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả CNV, tính
trả lương cho CNV trong những ngày hội họp, học tập, trả lương theo hợp đồng.
• Lương giờ : Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làm việc
trong ngày chế độ. Lương giờ thường được làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm
giờ.
+ Lương thời gian có thưởng : Là hình thức tiền lường thời gian giản đơn kết
hợp với chế độ tiền lương trong sản xuất.
Hình thức tiền lương thời gian mặc dù đã tính đến thời gian làm việc thực tế, tuy
nhiên nó vẫn còn hạn chế nhất định đó là chưa gắn tiền lương với chất lượng và
kết quả lao động, vì vậy các doanh nghiệp cần kết hợp với các biện pháp khuyến
khích vật chất, kiểm tra chấp hành chấp hành kỉ luật lao động nhằm tạo người
lao động tự giác làm việc, làm việc có kỉ luật và năng suất cao.
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm : Hình thức trả lương theo sản phẩm là tiền
lương trả cho người lao động được tính theo số lượng, chất lượng của sản phẩm
hoàn thành hoặc khối lượng công việc đã làm xong được nghiệm thu. Để tiến
hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng được định mức lao động, đơn
giá lương hợp lý trả cho từng loại sản phẩm, công việc được cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt, phải kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ.
SVTH : Hà Văn Ngà 13
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
- Theo sản phẩm trực tiếp: Là hình thức tiền lương trả cho người lao động được
tính theo số lượng sản lượng hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá
lương sản phẩm. Đây là hình thức được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để
tính lương phải trả cho CNV trực tiếp sản xuất hàng loạt sản phẩm.

khoản phụ cấp thường xuyên như phụ cấp làm đêm, thêm giờ, Phụ cấp khu
vực…
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất, do những
nguyên nhân khách quan, thời gian nghỉ phép.
- Các khoản phụ cấp thường xuyên: Phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ
cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp dạy
nghề, phụ cấp công tác lưu động, phụ cấp cho những người làm công tác khoa
học kỹ thật có tài năng
- Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của doanh nghiệp được chia
thành 2 loại: tiền lương chính, tiền lương phụ.
+ Tiền lương chính : Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ
thực hiện nhiệm vụ chính. Gồm tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp
+ Tiền lương chính : Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ
thực hiện nhiệm vụ chính của họ, thời gian người lao động nghỉ phép, nghỉ lễ tết,
ngừng sản xuất được hưởng lương theo chế độ.
SVTH : Hà Văn Ngà 15
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
Trong công tác hạch toán kế toán tiền lương chính của công nhân sản xuất
được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền lương phụ
của công nhân sản xuất được hạch toán và phân bổ gián tiếp vào chi phí sản xuất
các loại sản phẩm có liên quan theo tiêu thức phân bổ thích hợp.
1.2.2.3 Quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội ( BHXH) được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ
quy định trên tổng số quỹ tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp ( chức vụ,
khu vực, đắt đỏ, thâm niên) của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong
tháng. Theo chế độ hiện hành tỷ lệ trích bảo hiểm xã hội là 23% trong đó 16% do
đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động nộp được tính vào chi phí kinh doanh; 6%
còn lại do người lao động đóng góp và được trừ vào lương tháng.
Quỹ BHXH được trích lập nhằm hỗ trợ cấp công nhân viên có tham gia đóng
góp trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động, cụ thể:

tháng. Muốn làm tốt tất cả các vấn đề trên các doanh nghiệp phải lập kế hoạch
quản lý nguồn vốn tạm thời này. Nếu thực hiện tốt sẽ tạo ra khả năng sử dụng có
hiệu quả đồng vốn, nâng cao hơn nữa kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị
mình.
Trong điều kiện kinh tế thị trường quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp luôn chịu sự tác động của các quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị. Cơ chế
thị trường khắc nghiệt sẵn sàng đào thải những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
không có hiệu quả. Trong điều kiện đó chất lượng sản phẩm và giá cả là những
nhân tố quan trọng giúp cho sự đứng vững và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
SVTH : Hà Văn Ngà 17
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
Để công nhân gắn bó với doanh nghiệp, phát huy hết khả năng sáng tạo tinh
thần, trách nhiệm trong sản xuất, luôn tìm ra cách cải tiến mẫu mã, chất lượng
sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu và hạ giá thành. Các doanh nghiệp phải có
phương pháp quản lý hiệu quả tiền lương nói riêng và quỹ tiền lương nói chung.
- Nhiệm vụ kế toán:
Tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ là vấn đề quan tâm
riêng của công nhân viên mà còn là vấn đề doanh nghiệp đặc biệt chú ý. Vì vậy,
kế toán lao động tiền lương cần phải thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Phản ánh đầy đủ chính xác thời gian và kết quả lao động của công nhân viên.
Tính toán đúng, thanh toán đầy đủ kịp thời tiền lương và các khoản trích theo
lương cho công nhân viên. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng, chi tiêu quỹ lương.
- Tính toán phân bổ hợp lý chính xác chi phí về tiền lương (tiền công) và trích
BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tượng sử dụng liên quan.
1.3 Kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương theo chế độ
kế toán hiện hành
Kế toán lao động tiền lương:
Chu kỳ tiền lương và lao động được bắt đầu từ thời điểm tiếp nhận nhân sự,
đến việc theo dõi thời gian làm việc hoặc sản phẩm hoàn thành; tính lương phải
trả cho công nhân viên và các khoản trích theo lương, cuối cùng là thanh toán

dầu sử dụng các mẫu chứng từ khác nhau nhưng các chứng từ này đều mang các
nội dung cần thiết như tên công nhân, tên công việc hoặc sản phẩm, thời gian lao
động, số lượng sản phẩm hoàn thành nghiệm thu, kỳ hạn và chất lượng công việc
hoàn thành... Đó chính là các báo cáo về kết quả như “phiếu giao, nhận sản
SVTH : Hà Văn Ngà 19
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
phẩm”, “Phiếu khoán”, “Hợp đồng giao khoán”, “Phiếu báo làm thêm giờ”,
“Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành”, “bảng kê sản lượng từng
người”.
Chứng từ hạch toán lao động phải do người lập (tổ trưởng) kí, cán bộ kiểm
tra kỹ thuật xác nhận, được lãnh đạo duyệt y (quản đốc phân xưởng, trưởng bộ
phận). Sau đó các chứng từ này được chuyển cho nhân viên hạch toán phân
xưởng để tổng hợp kết quả lao động toàn đơn vị, rồi chuyển về phòng lao động
tiền lương xác nhận. Cuối cùng chuyển về phòng kế toán doanh nghiệp để làm
căn cứ tính lương, tính thưởng. Để tổng hợp kết quả lao động tại mỗi phân
xưởng, bộ phận sản xuất, nhân viên hạch toán phân xưởng phải mở sổ tổng hợp
do các tổ gửi đến, hàng ngày (hoặc định kỳ), nhân viên hạch toán phân xưởng
ghi kết quả lao động của từng người, từng bộ phận vào sổ và cộng sổ, lập báo
cáo kết quả lao động gửi cho các bộ phận quản lý liên quan. Phòng kế toán
doanh nghiệp cũng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động để tổng hợp kết quả
chung toàn doanh nghiệp.
1.3.1 . Kế toán tổng hợp tiền lương:
a. Chứng từ lao động
Muốn tổ chức tốt kế toán tiền lương, BHXH chính xác thì phải hạch toán
lao động chính xác là điều kiện để hạch toán tiền lương và bảo hiểm chính xác
theo quy định hiện nay, chứng từ lao động tiền lương bao gồm:
- Bảng chấm công
- Bảng thanh toán lương
- Phiếu nghỉ BHXH
- Bảng thanh toán BHXH

Cách tính như sau:
Tổng số tiền lương nghỉ phép của
Mức trích trước CNSX theo kế hoạch năm Tiền lương thực tế
tiền lương nghỉ = x phải trả cho CNSX
phép của CNSX Tổng số tiền lương chính phải
trả theo kế hoạch của CNSX năm
Tỷ lệ trích trước tiền Tổng số tiền lương nghỉ phép KH năm CNSX
Lương nghỉ phép (%) = x 100
Tổng số tiền lương theo KH năm CNSX
Mức tiền
lương nghỉ
phép
=
Tiền lương
thực tế
phải trả
x Tỷ lệ % trích tiền
lương nghĩ phép
- Hạch toán
Khi trích trước tiền lương nghỉ phép CNSX sản phẩm
Nợ TK622 (chi phí CN trực tiếp)
Có TK335 (chi phí phải trả)
SVTH : Hà Văn Ngà 22
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
Khi tính lương thực tế phải trả cho CNSX nghỉ phép
Nợ TK335 chi phí phải trả
Có TK334 phải trả công nhân viên
Để phục vụ yêu cầu hạch toán thì tiền lương được chia ra làm 2 loại:
- Tiền lương chính:
Là tiền lương trả cho CNV trong thời gian CNV thực hiện nhiệm vụ chính

chức khoản khác còn phải trả CNV chức
- TK 338: “Phải trả và phải nộp khác”: Dùng để phản ánh các khoản phải
trả và phải nộp cho cơ quan pháp luật, cho các tổ chức, đoàn thể xã hội, cho cấp
trên về kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các khoản khấu trừ
vào lương theo quyết định của toà án (tiền nuôi con khi li dị, nuôi con ngoài giá
thú, án phí,...) giá trị tài sản thừa chờ xử lý, các khoản vay mượn tạm thời, nhận
ký quỹ, ký cược ngắn hạn, các khoản thu hộ, giữ hộ...
Kết cấu và nội dung phản ánh TK338
TK 338
SVTH : Hà Văn Ngà 24
Chuyên đề thực tập GVHD : Ths Lê Thị Hải Lý
- Các khoản đã nộp cho cơ quan - Trích KPCĐ, BHXH, BHYT
quả lý theo tỷ lệ quy định
- Các khoản đã chi về kinh phí công - Tổng số doanh thu nhận trước phát
đoàn sinh trong kì
- Xử lý giá trị tài sản thừa - Các khoản phải nộp, phải trả hay thu
hộ
- Kết chuyển doanh thu nhận trước - Giá trị tài sản thừa chờ xử lý
vào doanh thu bán hàng tương ứng
từng kỳ
- Các khoản đã trả đã nộp khác - Số đã nộp, đã trả lớn hơn số phải nộp,
phải trả được hoàn lại.
Dư nợ (Nếu có):Số trả thừa, nộp thừa Dư có: Số tiền còn phải trả, phải nộp
Vượt chi chưa được thanh toán và giá trị tài sản thừa chờ xử lý
Tài khoản 338 chi tiết làm 6 khoản:
3381 Tài sản thừa chờ giải quyết
3382 Kinh phí công đoàn
3383 Bảo hiểm xã hội
3384 Bảo hiểm y tế
3387 Doanh thu nhận trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status