ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRưỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
NGUYỄN THỊ TUYẾT
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỚI NGưỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trường hợp tại Thị trấn
Neo, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRưỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
NGUYỄN THỊ TUYẾT
VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trường hợp tại Thị trấn
Neo, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
trong Hội Người cao tuổi Thị trấn Neo, đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình
điều tra, phỏng vấn để thu thập thông tin hoàn thiện luận văn, và lời cảm ơn
đến các cơ quan đoàn thể Thị trấn Neo, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè thân hữu và
đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tinh thần và tạo điều kiện trong suốt quá
trình nghiên cứu.
Do trình độ bản thân vẫn còn nhiều hạn chế nên luận văn khó tránh
khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự quan tâm, đánh giá, góp ý của
các thầy cô giáo, bạn bè và những người quan tâm đến vấn đề này để tôi có
thể rút kinh nghiệm và hoàn thiện tốt hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày 08 tháng 07 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Tuyết
MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.......................................................................4
3. Ý nghĩa của nghiên cứu...............................................................................17
4. Câu hỏi nghiên cứu......................................................................................18
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................19
6. Giả thuyết nghiên cứu.................................................................................20
7. Đối tượng và khách thể nghiên cứu............................................................20
8. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................21
9. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................23
Phần 2. NỘI DUNG CHÍNH........................................................................24
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN
2.2. Đánh giá thực trạng chất lượng chăm sóc và nhu cầu hỗ trợ của người cao
tuổi tại Thị trấn Neo – huyện Yên Dũng – tỉnh Bắc Giang.............................49
2.2.1. Sức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi................49
2.2.2. Hoạt động lao động và nhu cầu lao động của người cao tuổi..............60
2.2.3. Quan hệ xã hội và nhu cầu được quan tâm, tôn trọng..........................67
2.2.4. Hoạt động văn hóa – xã hội và nhu cầu tham gia của người cao tuổi 77
2.2.5. Hỗ trợ người cao tuổi của cán bộ xã hội và chính quyền địa phương 82
2.2.6. Phát huy vị trí, vai trò của người cao tuổi............................................91
2.2.7. Mong muốn, nguyện vọng của người cao tuổi......................................96
Tiểu kết chương 2..........................................................................................100
Chương 3: ĐỀ XUẤT VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
VÀ VẬN DỤNG PHưƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
TRONG TRỢ GIÖP NGưỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG 102
3.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội......................................................102
3.1.1. Người giáo dục....................................................................................103
3.1.2. Người tạo khả năng.............................................................................103
3.1.3. Người điều phối - kết nối dịch vụ........................................................104
3.1.4. Người biện hộ......................................................................................105
3.1.5. Người tạo môi trường thuận lợi..........................................................107
3.1.6. Người đánh giá và giám sát................................................................108
3.2. Vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp người cao
tuổi tại cộng đồng..........................................................................................108
3.2.1. Hồ sơ thân chủ....................................................................................109
3.2.2. Kế hoạch tác nghiệp............................................................................112
3.2.3. Tiến trình trợ giúp...............................................................................113
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.....................................................................124
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................134
PHỤC LỤC..................................................................................................141
Bảng 2.2. Số lần khám sức khỏe định kỳ trong một năm của NCT................52
Bảng 2.3. Việc thường làm của NCT khi ốm/đau bệnh tật............................. 53
Bảng 2.4. Hình thức chăm sóc khi ốm đau của NCT......................................55
Bảng 2.5. Mức độ hài lòng của NCT về sự quan tâm đến sức khỏe của các
thành viên trong gia đình.................................................................................59
Bảng 2.6. Hoạt động kinh tế của NCT............................................................60
Bảng 2.7. Mục đích tham gia hoạt động kinh tế của NCT..............................62
Bảng 2.8. Thời gian dành cho công việc của NCT......................................... 63
Bảng 2.9. Nguồn thu nhập chính của NCT.....................................................64
Bảng 2.10. Mức thu nhập trung bình/tháng.....................................................66
Bảng 2.11. Thời gian NCT dành thăm hỏi họ hàng/bạn bè/hàng xóm và được
họ hàng/bạn bè/hàng xóm tới thăm................................................................. 68
Bảng 2.12. Số lượng bạn tri ân, tri kỷ của NCT..............................................70
Bảng 2.13. Đối tượng trò chuyện tâm sự của NCT.........................................71
Bảng 2.14. Tâm trạng hàng ngày của NCT.....................................................75
Bảng 2.15. Các công việc thường làm lúc rảnh của NCT...............................78
Bảng 2.16. Số lượng hội/ đoàn thể/câu lạc bộ NCT tham gia.........................79
Bảng 2.17. Lợi ích tham gia các hoạt động xã hội..........................................82
Bảng 2.18. Hỗ trợ của chính quyền địa phương..............................................83
Bảng 2.19. Hỗ trợ của cán bộ xã hội về chăm sóc sức khỏe...........................85
Bảng 2.20. Hỗ trợ tâm lý của cán bộ xã hội....................................................87
Bảng 2.21. Hỗ trợ kinh tế của cán bộ xã hội...................................................88
Bảng 2.22. Mức độ hỗ trợ của cán bộ xã hội, chính quyền địa phương..........89
Bảng 2.23. Đánh giá của NCT về vai trò hỗ trợ của cán bộ xã hội, chính
quyền địa phương............................................................................................90
Bảng 2.24. Vị trí, vai trò của NCT trong gia đình...........................................91
Bảng 2.25. Hoạt động xã hội của NCT...........................................................95
Bảng 2.26. Mong muốn/nguyện vọng của NCT............................................. 97
tiếp tục trong thế kỷ XXI với mức độ ngày càng gia tăng. Già hóa dân số phản
ánh thành công trong quá trình phát triển con người, là thước đo quan trọng
của trình độ phát triển kinh tế - xã hội và là thành tựu quan trọng của nhân
loại. Tuy nhiên, già hóa dân số có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi phương diện
của cuộc sống con người. “Trong lĩnh vực kinh tế, già hóa dân số tác động
đến tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, thị trường lao động,
1
lương hưu, tiền thuế và sự chuyển giao giữa các thế hệ. Trong lĩnh vực xã
hội, già hóa dân số ảnh hưởng đến y tế và chăm sóc sức khỏe, cấu trúc gia
đình và thu xếp cuộc sống, nhà ở và di cư. Về mặt chính trị, già hóa dân số có
thể tác động đến việc bầu cử và người đại diện” [31, tr.17 – tr.18]. Chương
trình hành động quốc tế về NCT được thông qua tại Đại hội đồng thế giới về
NCT lần đầu tiên tại Vienna năm 1992. Chương trình tập trung chủ yếu vào
tình trạng già hóa dân số ở các nước phát triển dưới góc độ phúc lợi xã hội.
Tháng 4/2002 tại Madrid, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã triệu tập Hội nghị
thế giới lần thứ 2 về già hóa dân số. Đại hội đồng đã xem xét kết quả đạt được
20 năm qua, 159 quốc gia đã ký vào Chương trình hành động quốc tế về NCT
nhằm hướng dẫn các hoạt động chính sách về NCT trong thế kỷ XXI. Cam
kết sẽ lồng ghép vấn đề già hóa dân số vào chương trình phát triển kinh tế - xã
hội và cũng cam kết giảm một nửa tỷ lệ nghèo của NCT. Tại nhiều quốc gia
trên thế giới, dân số cao tuổi đã được hoạch định trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội theo cam kết đã ký trong chương trình hành động quốc tế về
NCT, phù hợp với mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, nhưng tháng 4/2007, Tổ
chức NCT Quốc tế (HAI) đã đưa ra cảnh báo “Các chính phủ không chuẩn bị
cho vấn đề già hóa dân số”. Cảnh báo cũng nêu rõ “...NCT là những người
nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất trong nhiều xã hội, bởi vì Chính phủ
không chuẩn bị cho sự già hóa dân số nhanh trên toàn cầu” [21, tr.1 – tr.2]
khoa học thấp,... đời sống NCT còn nhiều khó khăn, mức trợ cấp của Nhà
nước còn thấp, nhất là Việt Nam mới bắt đầu chuyển sang cơ cấu “Già hóa
dân số” do đó các chương trình, dự án liên quan đến NCT còn nhiều hạn chế,
hướng dẫn cho NCT và gia đình có NCT đang được thực hiện bước đầu và
còn hạn chế; CTXH về NCT chưa được đào tạo và còn nhiều hạn chế về ý
thức, nhận thức của xã hội....[21, tr.3].
Từ thực tế xã hội Việt Nam, thực trạng cuộc sống và hoạt động của
NCT cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm: Vị trí, vai trò của
NCT Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước và quá trình hội nhập quốc
tế; Mối quan hệ giữa cống hiến và thụ hưởng của NCT Việt Nam; Người cao
tuổi Việt Nam trong hệ thống các quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình và
cộng đồng xã hội; Các quyền cơ bản của NCT trong giai đoạn hiện nay; Sự
công bằng bình đẳng, dân chủ với NCT Việt Nam; Chăm sóc bồi dưỡng sức
khỏe, bảo vệ NCT, nhất là những NCT nghèo cô đơn ở những vùng dân tộc
[36, tr.248]. Vậy nhân viên CTXH có vai trò gì trong quá trình giải quyết
những vấn đề của NCT? Để trả lời cho câu hỏi này, tác giả nghiên cứu lựa
chọn đề tài nghiên cứu: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội với người
cao tuổi tại cộng đồng” – (Nghiên cứu trường hợp tại Thị trấn Neo - huyện
Yên Dũng – tỉnh Bắc Giang).
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Có thể nói rằng vấn đề về NCT luôn được quan tâm chú ý. Chính vì
thế, các nghiên cứu về NCT cũng xuất hiện rất sớm. Ở Châu Âu, những
nghiên cứu về NCT được tiến hành từ những năm 1800 với những đề tài như:
“Quà tặng các cụ già, bàn về biện pháp để kéo dài cuộc sống” của M.J.Tenon
(1815); “Bàn về tuổi thọ loài người và về lượng sống trên thế giới” của
P.Fluorons (1860); “Tuổi già xanh tươi”, của Alexando (1919). Những nghiên
cứu này đã điều tra thực trạng sống của NCT cũng như tình trạng sức khỏe
bản thân một cách tự nhiên nhất [62].
Nghiên cứu “Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi
và nhận thức về chúng” - “Barriers to Health Care Access Among the Elderly
and Who Perceives Them” của Annette L. Fitzpatrick, Neil R. Powe, Lawton
S. Cooper, Diane G. Ives, MPH, and John A. Robbins (Đại học Washington,
Đại học Johns, Đại học Puttsburgh, Đại học California – Davis, và Đại học
Wake Forest). Nghiên cứu này được tiến hành từ năm 1993 – 1994 tại Viện
nghiên cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với
5888 đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên. Mẫu này được chọn ngẫu nhiên từ
danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: Quận Foryth, quận
Sacramento, quận Washington và quận Allgheny. Kết quả nghiên cứu cho thấy
các rào cản tâm lý và thể chất khác....[59]. Nghiên cứu này khái quát thực
trạng chăm sóc sức khỏe đối với NCT, những rào cản tác động tới việc NCT
nhận được sự quan tâm, chăm sóc của riêng nước Mỹ. Từ những phát hiện
của nghiên cứu này, chúng ta có thể liên hệ tới những rào cản tương tự trong
xã hội Việt Nam. Chúng ta có thể thấy hệ thống chăm sóc sức khỏe của nước
ta còn nhiều bất cập, chẳng hạn như cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đặc biệt là
các cơ sở y tế cộng đồng. Điều này khiến cho việc tiếp cận các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe của NCT nói riêng và người dân nói chung còn gặp nhiều khó
khăn. Thực trạng đó đặt ra mối quan tâm lớn với những người làm nghiên cứu
nói riêng và những nhà hoạch định chính sách của nước ta nói chung.
Một công trình khác trong khu vực Đông Nam Á cần được nêu ra ở đây
là nghiên cứu “Xây dựng mô hình quản lý chăm sóc sức khỏe cho NCT có sự
tham gia của cộng đồng tại Isan” - “Developing Model of Health Care
Management for the Elderly by Community Participation in Isan” của
Chanitta Soommaht, Songkoon Chantachon and Paiboon Boonchai. Nghiên
cứu này được tiến hành từ 02 - 08/2008 tại 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan là
Mahasarakham, Roi-et, Sakon Nakhon, Nakhon Ratchasiam, Buriram, Surin
nhiều ví dụ minh họa sinh động về các chương trình đổi mới đã đáp ứng thành
công các mối quan tâm của NCT. Đồng thời báo cáo cũng đưa ra các khuyến
nghị về định hướng tương lai nhằm đảm bảo mọi người ở mọi lứa tuổi trong
xã hội bao gồm cả NCT và giới trẻ đều có cơ hội góp phần xây dựng xã hội
cũng như cùng được hưởng các phúc lợi xã hội đó [44].
Nhìn một cách tổng thể, có thể nói rằng các công trình nghiên cứu, các
ấn phẩm nói trên đã tìm hiểu về thực trạng đời sống của NCT, những vấn đề
họ gặp phải trong cuộc sống, những rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ
chăm sóc trợ giúp NCT. Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc hỗ trợ
nghiên cứu đề tài.
2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, vấn đề
NCT là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là
các nhà lập chính sách. Cho đến nay các ấn phẩm về NCT khá đa dạng, bao
gồm các kết quả nghiên cứu thực nghiệm dưới dạng sách, bài tạp chí chuyên
ngành, báo cáo nghiên cứu, dạng bài tham luận, cho đến bài viết trên báo
chí… Rất nhiều nghiên cứu được là kết quả của các chương trình và khảo sát
xã hội học có quy mô lớn về NCT do các Viện nghiên cứu, các tổ chức và cá
nhân trong và ngoài nước tiến hành.
Sự già hóa sẽ mang đến những thách thức mới về kinh tế và xã hội, đặc
biệt là vấn đề an sinh xã hội. Các nghiên cứu ở Việt Nam về NCT thường tiếp
cận theo hướng coi họ là nhóm yếu thế hoặc nhóm xã hội phụ thuộc. Với cách
tiếp cận này với chủ đề nổi bật trong các nghiên cứu về NCT là: vấn đề sức
khỏe, chính sách cho NCT, rộng hơn là vấn đề an sinh xã hội và tìm hiểu các
đặc trưng xã hội cơ bản của nhóm dân số già. Các hướng phân tích được triển
khai theo nhiều khía cạnh như: mô tả đặc trưng xã hội cơ bản của nhóm NCT,
đánh giá và đo lường các yếu tố tác động… Và trọng tâm nghiên cứu cũng tùy
thuộc vào lĩnh vực hoạt động của từng ngành. Ví dụ, đối với ngành lão khoa
giả (2011). Như vậy, có thể nói rằng các công trình về NCT cho đến nay đã
góp phần mang lại những hiểu biết sâu sắc về cuộc sống của NCT ở Việt
Nam, song các nghiên cứu về CTXH với NCT hiện nay còn khá khiêm tốn, có
thể kể đến một số nghiên cứu sau:
Trước hết cần kể đến nghiên cứu “Công tác xã hội với người cao tuổi
bị bạo lực gia đình” - Nghiên cứu tại xã An Tường, thành phố Tuyên Quang,
tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, của tác giả Phùng
Thanh Thảo (2014). Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực gia đình với NCT
xảy ra ở khắp mọi nơi, không kể địa vị gia đình, trình độ dân trí. Đó là thực
trạng về bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực kinh tế. Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình, tuy nhiên có 4 yếu tố chủ
yếu là: rượu, bia và các chất kích thích; yếu tố kinh tế; yếu tố nhận thức; yếu
tố giới tính. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số biện pháp đã áp dụng tại địa
phương nhằm giảm thiểu tình trạng bạo lực NCT trong gia đình, đồng thời đề
xuất một số biện pháp can thiệp. Và xây dựng mô hình CTXH nhằm hỗ trợ
cũng như nâng cao công tác phòng chống bạo lực gia đình nói chung và bạo
lực gia đình với NCT nói riêng.
Nghiên cứu “Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn Việt
Nam hiện nay và hoạt động của công tác xã hội” - Nghiên cứu tại xã Quỳnh
Bá – Quỳnh Lưu – Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, của tác giả
Trương Thị Điểm (2014). Nghiên cứu cho thấy rằng tỉ lệ NCT tại địa bàn
nghiên cứu đang có xu hướng gia tăng và tỉ lệ NCT là nữ giới nhiều hơn nam
giới. Người cao tuổi ở những độ tuổi khác nhau họ vẫn tham gia lao động tạo
thu nhập, hỗ trợ con cháu về vật chất và công việc nhà. Kết quả nghiên cứu
cũng cho thấy gia đình không còn giữ vai trò chính trong việc chăm sóc NCT
mà dần được chuyển sang nhà nước, các tổ chức xã hội, dịch vụ y tế tư nhân,
dịch vụ thị trường. Đồng thời đề tài cũng đã nêu lên những triển vọng và hoạt
động của CTXH trong việc chăm sóc sức khỏe cho NCT, giúp nâng cao nhận
phúc lợi, anh sinh xã hội giành cho NCT ở nước ta trong thời gian vừa qua.
♦ Những nghiên cứu về thực trạng NCT
Trong thực tiễn đời sống xã hội, nếu muốn nâng cao được chất lượng,
cải thiện được dịch vụ thì việc điều tra nghiên cứu về thực trạng là một trong
những vấn đề mấu chốt. Đối với lĩnh vực NCT cũng vậy, để nâng cao được
chất lượng chăm sóc cho NCT thì cần phải tìm hiểu thực trạng đời sống của
họ như thế nào. Chính vì thế mà đây cũng là một trong những mảng nghiên
cứu cần quan tâm. Chúng ta có thể kể đến một vài nghiên cứu nổi bật sau đây:
Nghiên cứu “Thực trạng người cao tuổi Hà Tây” năm 2003 của Ủy
ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Hà Tây. Nghiên cứu này được triển khai tại 3
xã, phường: Xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai đại diện cho khu vực nông
nghiệp; xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên đại diện cho khu vực làng nghề;
phường Nguyễn Trãi, thị xã Hà Đông đại diện cho khu vực thành thị. Kết quả
nghiên cứu này đã chỉ ra được vai trò của NCT trong các hoạt động sống hằng
ngày, nhu cầu của họ cả về vật chất lẫn tinh thần, sức khỏe... và từ đó đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT [46].
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và Lê Trung Sơn (2003) về
“Thực trạng người cao tuổi và giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc
người cao tuổi ở Hà Tây” cho thấy NCT Hà Tây thỏa mãn tinh thần chủ yếu
là vui chơi cùng con cháu (81,4%). NCT ở nông thôn sinh hoạt cùng con cháu
thường xuyên hơn NCT ở thành thị (83,5% so với 77,4%). NCT thành thị tiếp
cận thông tin, tham quan, du lịch, thể dục thể thao và sinh hoạt đoàn thể một
cách thường xuyên hơn NCT nông thôn. Tỷ lệ các cụ ở thành thị tham gia các
hoạt động Đảng, chính quyền cao hơn nông thôn. Các cụ ông tham gia nhiều
hơn các cụ bà [13].
Nghiên cứu “Thực trạng đời sống của người cao tuổi dân tộc và già
làng trong phát triển bền vững Tây Nguyên” của tác giả Nguyễn Thế Huệ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy được vai trò to lớn của NCT, già làng trong sự
còn ít, tại nhiều địa bàn khảo sát tình trạng NCT hoạt động đơn lẻ, tự phát phổ
biến. Thứ tư, điều kiện sống của NCT đang dần được cải thiện cùng với cuộc
sống của toàn xã hội. Một số mô hình chăm sóc NCT hiện nay bước đầu đã
giải quyết được những vấn đề của xã hội. Các mô hình này ít nhiều đã giúp
NCT có được cuộc sống thanh thản và nhận được sự quan tâm chăm sóc chu
đáo [38].
Hiện tại, ở nước ta có nhiều mô hình trợ giúp NCT khác nhau, có
những mô hình trong các trung tâm trợ giúp, các cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng
cũng có những mô hình tại cộng đồng. Những nghiên cứu trên đã bàn về một
vài mô hình, và đánh giá các hoạt động triển khai tại các mô hình này. Từ các
nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng, những mô hình này đã góp phần quan
trọng vào việc cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống NCT tại các trung
tâm cơ sở nuôi dưỡng tập trung cũng như tại cộng đồng.
♦ Một vài nghiên cứu khác
Ngoài những hướng nghiên cứu đã được đề cập đến ở trên, lĩnh vực
người cao tuổi cũng có nhiều nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau của đời
sống xã hội.
Nghiên cứu về “Sự tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi ở
đồng bằng sông Hồng” của tác giả Dương Chí Thiện (1999). Kết quả của
cuộc nghiên cứu trên đã đề cập đến sự tham gia vào các hoạt động xã hội của
NCT và qua đó đánh giá những yếu tố tác động đến sự tham gia hoạt động xã
hội của NCT ở vùng đồng bằng sông Hồng. Kết quả cho thấy tỷ lệ NCT tham
gia vào các hoạt động xã hội ở các tổ chức phi chính thức cao hơn rất nhiều so
với các tổ chức chính thức. Các yếu tố như khu vực cư trú, giới tính, độ tuổi,
mức độ học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh và điều kiện sống, tình trạng sức
khỏe… đều có ảnh hưởng đến giao tiếp của NCT [48].
Nghiên cứu “Động cơ tiếp tục hoạt động lao động của người nghỉ hưu
ở Hà Nội” của tác giả Hoàng Mộc Lan (2006) được tiến hành trên 600 người