BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO
CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
HỒ THỊ HOÀNG MINH
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO
CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC
Ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60310106
Họ và tên học viên: Hồ Thị Hoàng Minh
Người HDKH: PGS.-TS. Nguyễn Văn Hồng
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2017
tích lũy vốn cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước .......................12
1.3.2. Xuất khẩu gạo đóng vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất
phát triển .................................................................................................................... 13
1.3.3. Xuất khẩu gạo có tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân ............................................................................................14
1.3.4. Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc giúp phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam
...................................................................................................................................15
1.4. Bài học kinh nghiệm xuất khẩu gạo của Thái Lan .......................................16
1.4.1. Kinh nghiệm xuất khẩu gạo của Thái Lan ......................................................16
1.4.2. Bài học thành công từ Thái Lan ......................................................................18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM VÀO
THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN 2009 – 2016 ................20
2.1. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc từ
năm 2009 đến năm 2016 .........................................................................................20
2.1.1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu .................................................................20
2.1.2. Cơ cấu mặt hàng gạo xuất khẩu ......................................................................24
2.1.3. Chất lượng gạo xuất khẩu ...............................................................................26
2.1.4. Giá gạo xuất khẩu............................................................................................29
2.2. Hoạt động tổ chức xuất khẩu gạo của Việt Nam ...........................................33
2.2.1. Các quy định về công tác tổ chức xuất khẩu gạo ............................................33
2.2.2. Vai trò của Hiệp hội Lương thực Việt Nam....................................................35
2.2.3. Nguồn cung lúa gạo xuất khẩu và hoạt động chế biến ...................................37
2.2.4. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam .............................................38
2.2.5. Các kênh phân phối .........................................................................................41
2.2.6. Hoạt động vận chuyển .....................................................................................44
2.3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường
Trung Quốc trong giai đoạn 2009 – 2016 ..............................................................47
2.3.1. Những thành tựu và nguyên nhân ...................................................................47
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
Từ viết tắt
Tp.HCM
STT Từ viết tắt
1
CIF
2
DWT
3
FAO
4
FOB
5
ICD
6
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
của Liên Hiệp Quốc
Miễn trách nhiệm khi trên boong tàu
Cảng cạn
Trung tâm Thương mại quốc tế
Đô la Mỹ
Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2016 .............. 8
Bảng 2.1: Sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc giai
đoạn 2009 – 2016 ...................................................................................................... 20
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc trong giai đoạn 2009
– 2016 ........................................................................................................................ 23
Bảng 2.3: Một số tiêu chuẩn về loại gạo trắng hạt dài xuất khẩu của Việt Nam ...... 27
Bảng 2.4: Giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc thời
kỳ 2009 – 2016 ......................................................................................................... 30
Bảng 2.5: Giá FOB một số loại gạo của Việt Nam và Thái Lan .............................. 32
Bảng 2.6: Những tuyến đường thủy nội địa chính .................................................... 45
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1. Biểu đồ lượng gạo nhập khẩu vào Trung Quốc từ năm 2009 đến năm
2016 .............................................................................................................................6
Biểu đồ 1.2. Biểu đồ thị phần các nước nhập khẩu gạo vào Trung Quốc...................6
Biểu đồ 1.3: Số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2009 – 2016 ..................................................9
Biểu đồ 2.1: Sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam và một số nước khác vào Trung
Quốc giai đoạn 2009 – 2016 .....................................................................................22
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam và một số nước khác vào thị
Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu gạo của Việt Nam từ khi là thành
viên của Tổ chức WTO của tác giả Cao Minh Trí (Tp. HCM, năm 2016) đề
cập đến năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường gạo thế giới kể từ
năm 2008 đến năm 2015, đồng thời đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao
năng lực và vị thế của Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2020.
-
Xây dựng thương hiệu mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam của tác giả Bùi
Ngọc Anh Thư (Tp. HCM, 2014) đề cập đến vấn đề xây dựng thương hiệu
của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2015 đến năm
2020.
2
-
Xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Singapore của tác
giả Lê Thị Thanh Nga (Tp. HCM, 2011) đề cập đến thực trạng tình hình xuất
khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường này.
-
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 của tác giả
Trần Ngọc Bảo Châu (Tp. HCM, 2014) nêu lên sự cần thiết phải đẩy mạnh
xuất khẩu gạo của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2014 cũng như đề ra
một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo ra thị trường thế giới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang
thị trường Trung Quốc, bao gồm các nội dung như: kim ngạch, sản lượng, cơ cấu, các
doanh nghiệp xuất khẩu, chính sách của Nhà nước Việt Nam…
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động xuất khẩu gạo từ Việt Nam sang Trung Quốc trong
thời gian từ năm 2009 – 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng là chủ yếu. Để làm rõ các
vấn đề trên, tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu gắn liền với lý thuyết
và thực tiễn như: thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê dữ liệu và phỏng
vấn chuyên gia.
Về các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tác giả đã thu thập, phân tích, tổng
hợp dữ liệu từ các nguồn có uy tín như: báo, tạp chí, tài liệu hội thảo chuyên ngành,
các công trình nghiên cứu có liên quan của những nhà khoa học và tác giả đi trước;
kênh thông tin chính thức của ITC và Chính phủ cùng các Bộ, ban ngành có liên quan
tại Việt Nam. Sau đó, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh trên nền tảng
phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Về phương pháp nghiên cứu thực tiễn, tác giả sử dụng phương pháp phân tích
dữ liệu từ trademap của ITC, đồng thời sử dụng dữ liệu hải quan xuất khẩu của Việt
Nam trong giai đoạn 2009 – 2016 nhằm phân tích thực trạng của đối tượng nghiên
cứu.
Đặc biệt, phương pháp phỏng vấn chuyên gia được sử dụng như là một phương
pháp hỗ trợ quan trọng để tác giả có thể đưa ra những nhận định và giải pháp khách
quan, đáng tin cậy và khả thi. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tác giả có cơ hội
thực hiện phỏng vấn chuyên sâu với bà Phạm Lê Khánh Hân – Trưởng phòng xuất
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA
VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GẠO
VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
1.1.
Giới thiệu về thị trường gạo Trung Quốc
1.1.1. Nhu cầu về gạo của Trung Quốc từ năm 2009
Lúa gạo là một nguồn lương thực quan trọng khó có thể thay thế trong nhu cầu
hàng ngày của người dân Trung Quốc. Với dân số đông nhất thế giới (1,3 tỷ người
vào năm 2016) (theo World Bank, 2016), nhu cầu lương thực nói chung và nhu cầu
về gạo nói riêng của Trung Quốc là rất lớn. Trung Quốc sản xuất và tiêu thụ khoảng
1/3 sản lượng gạo của thế giới, tức là khoảng 200 triệu tấn/năm (Wei Xiong, Viện
Môi trường & Phát triển bền vững Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, 2016).
Tuy nhiên, do đặc điểm của cây lúa là phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, không
phải vùng nào cũng có thể trồng lúa để đáp ứng nhu cầu lương thực của người dân
trong nước, trong khi Trung Quốc chỉ sở hữu 9% diện tích có thể canh tác nông nghiệp
của thế giới (Anh Minh, 2017). Do vậy, từ lâu Trung Quốc đã tham gia vào thị trường
thương mại gạo của thế giới với vai trò như một nhân tố có khả năng gây xáo trộn
mạnh thị trường gạo thế giới do có thể tăng sản lượng xuất khẩu (khi giảm lượng dự
trữ) hoặc tăng khối lượng nhập khẩu (khi mất mùa cần phải bổ sung dự trữ để đảm
bảo an ninh lương thực) (Nguyễn Văn Sơn, 2013).
Khi cuộc khủng hoảng lương thực thế giới năm 2008 diễn ra, giá lương thực thế
giới ở mức cao, sản lượng nhập khẩu gạo của Trung Quốc đã giảm xuống mức thấp
nhất kể từ năm 2003. Tuy nhiên, sau đó, khi giá lương thực ổn định trở lại, Trung
Quốc tiếp tục nhập khẩu gạo đều đặn và sản lượng liên tục tăng từ năm 2009 đến nay.
Biểu đồ dưới đây sẽ thể hiện rõ hơn về sản lượng nhập khẩu gạo của Trung Quốc qua
các năm:
và tăng đột biến kể từ năm 2012, từ 578.383 tấn vào năm 2011 đến hơn 2 triệu tấn
vào năm 2012. Đến cuối năm 2016, lượng gạo nhập vào Trung Quốc đã tăng lên 3,5
triệu tấn, chiếm 9,48% tổng khối lượng mua bán gạo của toàn thế giới. Điều này cho
thấy nhu cầu về gạo của thị trường Trung Quốc là rất lớn và có khả năng chi phối thị
trường gạo thế giới.
1.1.2. Tổng quan về các nước xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Quốc
Dựa vào số liệu được thống kê trong “List of importers for rice” của ITC, 2017,
có thể thấy rằng các nước xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Quốc chủ yếu là Thái
Lan, Việt Nam và Pakistan.
Biểu đồ 1.2. Biểu đồ thị phần các nước nhập khẩu gạo vào Trung Quốc
Đơn vị: %
100%
80%
60%
40%
20%
0%
Việt Nam
Thái Lan
Pakistan
2009
0.86
2010
15.32
2011
40.42
28.47
15.91
27.80
13.21
26.27
19.91
Các nước khác
5.15
2.89
1.78
1.90
2.07
2.74
5.42
8.02
Nguồn: tác giả tổng hợp từ “List of importers for rice” của ITC, 2017
sông ngòi dày đặc với 2.360 con sông, tạo nên hệ thống cung cấp nước dồi dào cho
ngành nông nghiệp. Dọc bờ biển, khoảng 23 km có một cửa sông và theo thống kê có
8
112 cửa sông ra biển. Các sông lớn ở Việt Nam thường bắt nguồn từ bên ngoài, phần
trung du và hạ du chảy trên đất Việt Nam. Hầu hết các sông ở Việt Nam chảy theo
hướng tây bắc – đông nam và đổ ra biển Đông. Hai con sông lớn nhất là sông Hồng
và sông Cửu Long tạo nên hai đồng bằng rộng lớn, đất đai màu mỡ là hai vựa lúa
chính của cả nước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là nguồn cung cấp gạo xuất
khẩu chủ yếu của Việt Nam.
Bên cạnh đó, tài nguyên đất của Việt Nam cũng rất đa dạng, có độ phì cao, thuận
lợi cho phát triển nông nghiệp nói chung và ngành lúa gạo nói riêng. Tổng diện tích
cả nước là khoảng 33,1 triệu ha, trong đó diện tích đất trồng lúa là khoảng hơn 7 triệu
ha, chiếm hơn 21% diện tích cả nước và có xu hướng ngày càng tăng. Đất trồng lúa
nước ta không chỉ có độ phì nhiêu cao mà còn rất phù hợp với khả năng phát triển
của cây lúa. Đây là một lợi thế quan trọng cho việc thâm canh và quảng canh nhằm
tăng sản lượng cây lúa.
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2016
Đơn vị: nghìn ha, nghìn tấn, tạ/ha
Năm
Diện tích lúa (nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Năng suất (tạ/ha)
2009
2013
7.902,5
44.039,1
55,7
2014
7.816,2
44.974,6
57,5
2015
7.834,9
45.215,6
57,7
2016
7.752,0
45.212,0
TỔNG SỐ
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
60,000
50,000
40,000
30,000
20,000
10,000
0
2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Nguồn: Thống kê Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm
01/07 hàng năm phân theo ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2017
Tuy lực lượng lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm trên dưới
50% dân số trong độ tuổi lao động nhưng số lượng này đang có xu hướng giảm dần
cả về giá trị tuyệt đối và tương đối. Cụ thể vào năm 2009, số lượng lao động trong
lĩnh vực này chiếm 51,54%, sau đó giảm dần và đến năm 2016, con số này chỉ còn
41,9%. Điều này chứng tỏ rằng lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp hiện nay không thu
10
hút được lực lượng lao động mới, mà họ đang chuyển sang các ngành công nghiệp
hoặc dịch vụ có sức hút hơn.
Mặt khác, tuy lực lượng lao động dồi dào như vậy nhưng trình độ chuyên môn
của lao động nông thôn chưa cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam,
hiện tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực này đã qua đào tạo chỉ chiếm 4,2% vào
năm 2015. So với những năm trước thì tỷ lệ này có tăng nhưng không đáng kể. Đây
chính là hạn chế lớn nhất của lao động nông thôn, bởi người nông dân chủ yếu làm
trợ tài chính nông thôn chính thức gồm có Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Việt Nam cho người nghèo và Quỹ tín dụng nhân
dân. Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành điều chỉnh một số chính sách tín dụng cho
nông nghiệp, ví dụ như giảm lãi vay xuất khẩu gạo từ 10%/năm xuống 9%/năm
(4/7/2013), gia hạn các khoản vay mua tạm trữ thóc gạo vụ đông xuân (24/6/2013),
cho phép ngân hàng thương mại kéo dài thời gian cho vay tạm trữ thóc gạo hè thu
2013 đến hết 15/8/2013… Nhờ đó, điều kiện và dư nợ tín dụng nông nghiệp được cải
thiện khá rõ rệt trong thời gian gần đây. Theo Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2008 đến
nay, hàng năm tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn tăng trung
bình khoảng 20%. Chính những chính sách của Chính phủ và đường lối lãnh đạo
đúng đắn của Đảng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và xuất khẩu gạo của
Việt Nam, góp phần hoàn thiện hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam ra thị trường
thế giới.
1.2.2. Các chủng loại gạo xuất khẩu của Việt Nam
Các giống lúa ở Việt Nam rất đa dạng, phong phú và được gieo trồng quanh
năm trên khắp các tỉnh thành trong cả nước, trong đó hai vùng trồng lúa chính là đồng
bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Những giống lúa này là kết quả của
một công trình lâu dài bao gồm các công việc thuần hóa, du nhập, tuyển chọn và cải
thiện do nông dân và các nhà khoa học thực hiện. Có nhiều cách phân loại các giống
lúa ở Việt Nam hiện nay như sau:
Xét về thời vụ, các loại gạo được chia thành các loại: cực ngắn ngày, ngắn ngày,
trung hạn và dài ngày.
Xét về chất lượng, gạo xuất khẩu được chia thành: gạo phổ thông, gạo cao cấp,
gạo tẻ, gạo nếp
Ngoài ra còn có một số loại gạo như gạo sắt, gạo đồ, gạo lức, gạo thơm Đài
Loan,…
12
13
trọng. Có vốn mới có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu máy móc, trang thiết bị
tiên tiến, đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực... để theo kịp nền công nghiệp hiện đại
của các nước phát triển. Vốn thường được huy động từ nhiều nguồn khác nhau như:
đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, xuất khẩu…. Trong đó
vốn thu được từ hoạt động xuất khẩu có tác động lớn đến hoạt động nhập khẩu, qua
đó đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta những năm gần đây, kim ngạch từ
xuất khẩu gạo chiếm một tỷ trọng khá lớn. Gạo đã trở thành một mặt hàng chủ lực
của nông sản Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế cho thấy xuất khẩu gạo từ lâu đã
mang lại một nguồn vốn không nhỏ cho nước ta. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta
đã chú trọng hơn tới tăng cường áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, đặc biệt
chú ý tới những giống lúa có chất lượng và cho năng suất cao, đồng thời đẩy mạnh
hơn nữa xuất khẩu gạo nhằm đem lại nguồn vốn lớn phục vụ cho công cuộc đổi mới
đất nước. Trong đó, Trung Quốc lại là một thị trường rộng lớn với nhu cầu ổn định,
nên việc tập trung chiếm lĩnh thị trường này có thể xem là một định hướng lâu dài và
bền vững cho đầu ra của gạo Việt.
1.3.2. Xuất khẩu gạo đóng vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản
xuất phát triển
Xuất khẩu gạo tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khác có cơ hội phát triển
như nghiên cứu và sản xuất giống lúa mới; sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực
vật; sản xuất và lắp ráp máy cày, máy kéo, máy tuốt lúa, máy gặt đập liên hợp….
Những hoạt động này không những làm tăng năng suất lao động mà còn mở rộng khả
năng cung cấp yếu tố đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Bên cạnh đó, các dịch vụ về marketing sản phẩm; xây dựng thương hiệu gạo; tìm
hiểu, nghiên cứu thị trường tiêu thụ, tìm kiếm đối tác trong và ngoài nước… cũng
được đẩy mạnh. Từ đó mở ra nhiều cơ hội cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp,
Khi xuất khẩu gạo được đẩy mạnh sẽ kéo theo những ngành nghề khác hỗ trợ
cho sản xuất như xay xát, chế biến, vận chuyển hàng hoá, các hoạt động thương mại,
dịch vụ bao gồm nhiều công đoạn tạo đầu vào cho xuất khẩu…. Những công tác trên
thu hút khá nhiều lao động từ không có trình độ kỹ thuật, quản lý đến lao động có
trình độ cao.
Xuất khẩu gạo giúp cho thị trường trong nước ít biến động, cân bằng được cung
cầu, không còn lượng hàng dư thừa và tồn kho trong nước, giá gạo nội địa sẽ ổn định
và cao hơn tạo thêm thu nhập cho người nông dân. Khi xuất khẩu gạo thu được thêm
15
ngoại tệ, một phần ngoại tệ để nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng mà trong nước
không sản xuất được. Điều đó góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, khuyến
khích họ tăng cường sản xuất gạo xuất khẩu nhiều hơn nữa.
1.3.4. Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc giúp phát huy lợi thế so sánh của Việt
Nam
Khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa nhiều, độ ẩm cao rất
thích hợp cho trồng trọt, canh tác nông nghiệp đặc biệt là cây lúa. Ngoài ra nước ta
còn có hai đồng bằng phù sa màu mỡ rộng lớn, thích hợp cho việc trồng lúa. Điều
kiện lý tưởng này đã tạo nên lợi thế cho ngành lúa gạo Việt Nam, đặc biệt ở hai vựa
lúa chính là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.
Ngoài ra, vị trí địa lý cũng là một lợi thế của Việt Nam trong hoạt động xuất
khẩu gạo vào Trung Quốc. Gạo của Pakistan chỉ có thể vận chuyển bằng đường bộ
qua địa hình hiểm trở của tỉnh Tân Cương ở cực Tây mới đến được hai tỉnh phía Bắc
rất thiếu gạo là Thanh Hải và Cam Túc. Còn nếu họ tiếp tục vận chuyển bằng đường
sắt xuống các tỉnh phía Nam hoặc vận chuyển bằng đường biển vòng quanh Ấn Độ
Dương, qua eo Malacca để vào biển Đông thì chi phí sẽ tăng vọt. Tương tự, gạo Thái
Lan cũng phải vận chuyển một quãng đường dài bằng đường biển vòng qua Việt Nam
để đến Trung Quốc. Trong khi gạo của Việt Nam hoàn toàn có thể vận chuyển bằng
Thái Lan chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu, nhưng hiện nay Thái Lan đã vươn lên
trở thành một nước nông nghiệp phát triển. Trong nhiều năm qua, gạo là mặt hàng
xuất khẩu chiến lược của Thái Lan. Trong giai đoạn 2009 – 2011, Thái Lan hầu như
chiếm vị trí độc quyền trên thị trường gạo nhập khẩu của Trung Quốc. Tuy gần đây
kim ngạch và sản lượng xuất khẩu gạo của Thái Lan có sự sụt giảm do nhiều nguyên
nhân nhưng quốc gia này vẫn chiếm thị phần ổn định trên thị trường Trung Quốc.
Gạo Thái Lan được định vị là gạo chất lượng cao, xay xát tốt và tạo dựng được những
thương hiệu trên thị trường. Vì vậy giá của gạo Thái luôn ở mức cao so với thế giới.
Để đạt được những thành tựu như trên, bên cạnh những thuận lợi về mặt tự
nhiên, Thái Lan đã bắt đầu tiến hành cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp từ
những năm 1960, đồng thời quan tâm cải thiện chất lượng gạo và áp dụng khoa học
công nghệ nhằm tăng năng suất. Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp được đầu tư
đồng bộ, sản xuất được cơ giới hóa. Nhà nước đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các cơ sở
xay xát, đầu tư công nghệ chế biến và hiện đại hóa kho bảo quản,… Phương hướng
của Thái Lan là đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nghiên cứu lúa gạo
một cách nghiêm túc, kĩ lưỡng nhằm cải thiện quá trình sản xuất và mở rộng diện tích
17
những vùng trồng lúa, qua đó tăng năng suất của ngành sản xuất lúa gạo. Thái Lan
cũng xác định rõ ràng chiến lược quy hoạch các vùng gieo trồng các loại lúa khác
nhau nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của khách hàng. Từ đó, Thái Lan có thể tăng
cường khả năng cạnh tranh và kích thích khách hàng lựa chọn các loại gạo đặc biệt
và có chất lượng cao của họ để nhập khẩu.
Mặt khác, ngành lúa gạo Thái Lan có được sự trợ giúp rất lớn từ Hiệp hội các
nhà xuất khẩu gạo. Hiệp hội các nhà xuất khẩu Thái Lan là tổ chức tư nhân làm việc
để giúp đỡ và ủng hộ những nhà xuất khẩu gạo của Thái Lan. Nhiệm vụ chính của
Hiệp hội này là nghiên cứu và thu thập dữ liệu và thông tin liên quan đến xuất khẩu
gạo và gởi cho các thành viên của Hiệp hội. Do tính chất thay đổi nhanh chóng của