MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU....................................................................................................03
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN ĐỘC
LẬP.....................................................................................................................05
1.1 Khái niệm.....................................................................................................05
1.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành của kiểm toán thế giới.....................................05
1.1.2 Khái quát sự ra đời các loại hình kiểm toán Việt Nam..............................06
1.1.3 Kiểm toán - kiểm toán viên........................................................................07
1.1.4 Kiểm toán độc lập.......................................................................................08
1.2 Những yêu cầu để trở thành kiểm toán viên..................................................08
1.2.1 Yêu cầu về tính độc lập..............................................................................09
1.2.2 Yêu cầu về tư chất đạo đức........................................................................09
1.2.3 Yêu cầu về năng lực, nghiệp vụ.................................................................10
1.3 Nghĩa vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên................................................11
1.4 Mục đích và phạm vi của hoạt động kiểm toán độc lập................................12
1.5 Vai trò của hoạt động kiểm toán độc lập.......................................................12
1.6 Tổ chức kiểm toán độc lập............................................................................13
1.6.1 Mô hình tổ chức kiểm toán độc lập ở các nước trên thế giới.....................13
1.6.2 Mô hình tổ chức kiểm toán độc lập ở Việt Nam........................................15
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC
LẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.......................................................................17
2.1 Toàn cảnh nghề kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay..............................17
2.1.1 Những thành tựu đạt được..........................................................................17
2.1.2 Những khó khăn, hạn chế...........................................................................18
2.2 Chất lượng báo cáo kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán viên
hành nghề.............................................................................................................21
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM
TOÁN ĐỘC LẬP VÀ KIỂM TOÁN VIÊN....................................................24
3.1 Những giải pháp đổi mới hoạt động của kiểm toán độc lập..........................24
3.2 Những giải pháp nâng cao năng lực và phẩm chất của kiểm toán viên........25
3.2.1 Về phía Nhà nước.......................................................................................25
Vì vậy, nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động kiểm
toán độc lập ở Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “Các kiểm toán viên bên ngoài
có thực sự độc lập không?” để nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về
kiểm toán độc lập. Trên cơ sở đó, tác giả đi vào tìm hiểu thực trạng hoạt động
hiện nay, đồng thời đưa ra những giải pháp, phương hướng khắc phục những bất
cập, khó khăn còn tồn tại, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và nâng
cao đời sống người dân, đáp ứng công cuộc cải cách đất nước.
2. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy
vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đồng
thời sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống của Khoa học xã hội,
phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn cùng phương pháp phân tích tổng
hợp.
3
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ về mặt lý luận những nội dung cơ bản của kiểm
toán độc lập, xác định những bất cập, vướng mắc trong thực trạng hoạt động để
đề xuất những giải pháp, hướng hoàn thiện nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành
kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng.
Đối tượng nghiên cứu: tiểu luận tập trung nghiên cứu, phân tích những
khái niệm, yêu cầu của kiểm toán độc lập cùng các mô hình kiểm toán đang
được áp dụng tại nhiều quốc gia; đồng thời đánh giá thực trạng hoạt động của
kiểm toán độc lập và chất lượng báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên tại Việt
Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: các quy định của Hiến pháp, Luật Kiểm toán độc
lập, các tạp chí tài chính, các yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến tính độc lập
của kiểm toán viên hành nghề.
rời giữa quyền sở hữu của ông chủ và người quản lý, người làm công ngày càng
xa đã đặt ra cho các ông chủ một cách thức kiểm soát mới. Phải dựa vào sự kiểm
tra của những người chuyên nghiệp hay những kiểm toán viên bên ngoài. Việc
kiểm tra đi dần từ việc kiểm tra ghi chép kế toán đến tuân thủ quy định của pháp
luật và mãi đến thập niên 80, hoạt động kiểm toán bắt đầu được hình thành và
phát triển.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, từ việc phá sản của hàng loạt tổ chức
tài chính và sự khủng hoảng kinh tế thế giới đã bộc lộ rõ những hạn chế của
kiểm tra kế toán. Chính từ đây, việc kiểm tra kế toán buộc phải được chuyển
sang một giai đoạn mới, yêu cầu kiểm tra kế toán một cách độc lập đã được đặt
ra.
Ở Hoa Kỳ, sau khủng hoảng tài chính vào những năm 1929, đến năm
1934 Ủy ban bảo vệ và trao đổi tiền tệ (SEC) đã xây dựng và ban hành quy chế
về kiểm toán viên bên ngoài. Đồng thời, trường đào tạo kế toán viên công chứng
của Hoa Kỳ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về báo cáo kiểm toán tài
khoản của các công ty. Cũng trong giai đoạn này, ở các tổ chức kinh doanh, các
5
doanh nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và phát triển chức năng kiểm tra một cách
độc lập trong nội bộ với tên gọi là kiểm toán nội bộ. Năm 1942, Viện kiểm toán
nội bộ Hoa Kỳ (IIA) được thành lập và đã đi vào hoạt động đào tạo các kiểm
toán viên nội bộ. Đồng thời, Viện đã xây dựng và ban hành Hệ thống chuẩn mực
kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ vào năm 1978.
Tại Pháp, việc kiểm tra một cách độc lập những người chuyên nghiệp bên
ngoài đã được xác lập và thông qua bởi Đạo luật về các công ty thương mại
ngày 24/7/1966. Đồng thời, kiểm toán nội bộ ở Pháp cũng được hình thành
chính thức vào những năm 60 của thế kỷ XX ở những công ty con thuộc tập
đoàn ngoại quốc. Đến 1965, Hội kiểm toán nội bộ của Pháp được thành lập và
sau này phát triển trở thành Viện kiểm toán viên nội bộ của Pháp vào năm 1973.
Trên thế giới có vô vàn định nghĩa khác nhau về kiểm toán. Quan điểm
khá phổ biến về kiểm toán theo hiệp hội kế toán Mỹ (AAA) cho rằng: Kiểm toán
là một quá trình mang tính hệ thống, thu thập và đánh giá bằng chứng theo các
cơ sở dẫn liệu về những hoạt động kinh tế và những sự kiện nhằm xác nhận chắc
chắn về sự phù hợp giữa những cơ sở dẫn liệu, những đặc tính xác định và cung
cấp kết quả cho người sử dụng 1.
Ngoài ra, theo các chuyên gia giáo dục và đào tạo kiểm toán ở Cộng hoà
Pháp cho rằng: Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản hàng
năm của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên
tiến hành để khẳng định những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài
chính thực tế, không che giấu sự gian lận và được trình bày theo mẫu chính thức
của luật định.
Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, định nghĩa kiểm toán có thể hiểu
một cách đơn giản: Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt
động tài chính của các doanh nghiệp, bằng hệ thống phương pháp kĩ thuật riêng
của kiểm toán, do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực
hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực.
Bên cạnh đó, tại Khoản 2 Điều 5 Luật Kiểm toán độc lập số
67/2011/QH12 của Quốc hội ngày 29/3/2011 quy định: “Kiểm toán viên là
người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của pháp luật hoặc
người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận và đạt kỳ thi
sát hạch về pháp luật Việt Nam.”
1.1.4
Kiểm toán độc lập
1 Studies in Accounting Research no.6: A statement of basic auditing concepts. Sarasota, Fla, 1973, trang 2.
7
kiểm toán viên cần đảm bảo các yêu cầu sau:
1.2.1 Yêu cầu về tính độc lập
8
Yêu cầu này được xem là điều kiện cần để đạt mục tiêu của hoạt động
kiểm toán, cũng như việc độc lập trở thành nguyên tắc hành nghề cơ bản của
kiểm toán viên. Kết quả kiểm toán sẽ không có giá trị khi những người sử dụng
kết quả kiểm toán tin rằng cuộc kiểm toán thiếu tính độc lập dù có được thực
hiện bởi người có trình độ cao. Yêu cầu về tính độc lập đòi hỏi sự trung thực và
trách nhiệm của kiểm toán viên đối với những người sử dụng kết quả kiểm toán,
đồng thời các kiểm toán viên không bị ràng buộc trong việc tiếp xúc với các tài
liệu và báo cáo của doanh nghiệp.
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối
hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất, tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự
trung thực khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình. Mọi câu hỏi về tình
hình kinh doanh hoặc các xử lý kế toán trong các giao dịch của doanh nghiệp
cần được trả lời đầy đủ, đảm bảo rằng kiểm toán viên không bị hạn chế trong
việc thu thập các bằng chứng kiểm toán. Để đảm bảo yêu cầu này, ngoài mặt
chủ quan về tư chất đạo đức của kiểm toán viên, còn cần phải duy trì và đảm bảo
tính độc lập trong quá trình kiểm toán. Pháp luật cũng yêu cầu các kiểm toán
viên không được thực hiện kiểm toán cho các khách hàng mà kiểm toán viên có
quan hệ gia đình, họ hàng hoặc quyền lợi về mặt kinh tế.
1.2.2 Yêu cầu về tư chất đạo đức
Con người luôn là nhân tố quan trọng và mang tính quyết định trong các
hoạt động kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán, khi mà sản
phẩm của hoạt động này không có khuôn mẫu định sẵn và phụ thuộc vào tính
chủ quan của kiểm toán viên. Điều quan trọng, kiểm toán viên phải luôn duy trì
được tính độc lập, khách quan khi tiến hành công việc cũng như trong xem xét,
thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, kiểm toán viên phải có
chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của khách
hàng; có kỹ năng, kinh nghiệm về kiểm toán và hiểu biết về pháp luật.
Các kiểm toán viên phải đạt được trình độ chuyên môn vững vàng về kế
toán, luôn cập nhật các thông tin về chế độ chính sách tài chính, kế toán và luật
pháp để duy trì kỹ năng, trình độ nghiệp vụ trong suốt quá trình hành nghề. Về
mặt pháp lý, các kiểm toán viên chỉ được hành nghề khi đã đăng ký với cơ quan
có thẩm quyền và ở Việt Nam là Bộ Tài chính sau khi đã trúng tuyển kỳ thi cấp
quốc gia về cấp chứng chỉ kiểm toán viên.
1.3 Nghĩa vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên
10
Nhu cầu kiểm toán xuất phát từ việc các chủ sở hữu doanh nghiệp không
thể và cũng không cần thiết tự kiểm tra mọi thông tin tài chính của doanh nghiệp
do giám đốc doanh nghiệp chịu trách nhiệm lập và báo cáo cho họ. Do vậy họ
bổ nhiệm các kiểm toán viên - những người có đủ năng lực chuyên môn nghiệp
vụ, độc lập, khách quan thay thế họ kiểm tra và báo cáo lại theo ý kiến của mình
về tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính.
Cùng với sự phát triển và đa dạng của nền kinh tế, các thông tin tài chính
được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau cho các đối tượng khác nhau. Tuy
nhiên tất cả người sử dụng kết quả kiểm toán đều cần sự đảm bảo tính trung thực
và hợp lý của những thông tin tài chính mà họ được cung cấp. Như vậy nghĩa vụ
của kiểm toán viên là dựa trên kết quả kiểm toán và báo cáo cho những người sử
dụng kết quả kiểm toán theo yêu cầu, mục đích của kiểm toán; các cơ quan chức
năng nếu thấy có những hành vi vi phạm pháp luật ở mức độ nhất định mà pháp
luật yêu cầu phải báo cáo.
Việc xác định nghĩa vụ báo cáo của kiểm toán viên có ý nghĩa quan trọng
bởi cuộc kiểm toán được tiến hành dựa trên hợp đồng kiểm toán ký kết giữa đơn
vị được kiểm toán và tổ chức kiểm toán, do vậy về hình thức các kiểm toán viên
Trên thế giới hầu hết các nước đi theo kinh tế thị trường đều có hoạt động
kiểm toán độc lập, đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế quản
lý và điều hành sản xuất kinh doanh cần phải có thông tin chính xác kịp thời và
tin cậy. Ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm toán độc lập thể hiện trên các mặt
sau:
Thứ nhất, kiểm toán độc lập tạo niềm tin cho những người quan tâm.
Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các chủ doanh nghiệp đều muốn che dấu các
phần yếu kém hoặc khuyếch trương kết quả kinh doanh của mình trên bản báo
cáo tài chính. Trái lại, những người quan tâm đến kết quả kinh doanh và tình
hình tài chính của doanh nghiệp lại đòi hỏi sự trung thực chính xác của bản báo
cáo tài chính đó. Vì thế cần có sự kiểm tra xác nhận của kiểm toán viên độc lập
hoạt động theo nguyên tắc bắt buộc và có đủ năng lực uy tín với cả chủ doanh
nghiệp và người quan tâm đến bản báo cáo tài chính.
Thứ hai, kiểm toán độc lập góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề
nếp hoạt động tài chính kế toán. Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính
12
đều bao gồm những mối quan hệ đa dạng, luôn biến đổi và được cấu thành bởi
hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Để hướng các nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết
tốt các quan hệ trên không chỉ cần có định hướng đúng và thực hiện tốt, mà cần
thường xuyên rà soát việc thực hiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong
muốn.
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Kiểm
toán không chỉ có chức năng xác minh mà còn có chức năng tư vấn. Các chủ
doanh nghiệp không thể kiểm soát hết các nghiệp vụ tài chính kế toán đã xảy ra
trong doanh nghiệp. Để biết được một cách chính xác, trung thực tình hình tài
chính kế toán vào kì hạn nào đó, chủ doanh nghiệp thường mời các kiểm toán
viên độc lập chuyên nghiệp có uy tín thực hiện việc kiểm tra và nhận xét bản
báo cáo tài chính của doanh nghiệp mình do người phụ trách kế toán lập ra.
kiểm toán, chấp nhận giá trị pháp lý của các tài liệu có chữ ký của kiểm toán.
Về hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán, có thể là các công ty
kiểm toán, là cá nhân hành nghề kiểm toán, công ty hợp danh hoặc cổ phần.
Trong công ty hoặc cả những cá nhân hành nghề kiểm toán, trong quá trình hoạt
động của mình thường tuyển dụng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp để giúp họ
thực hiện công việc kiểm toán.
Cơ cấu tổ chức trong các công ty kiểm toán ở các nước phát triển thường
theo hệ thống cấp bậc về chuyên môn bao gồm các chủ phần hùn (partner), trong
đó còn chia thành chủ phần hùn có cổ phần trong công ty và chủ phần hùn
không có cổ phần, là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao nhất,
tiếp đến là cấp điều hành viên cao cấp (senior manager, hoặc principal), tiếp
theo là các cấp quản lý, kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán viên. Mức độ chi tiết
trong các cấp bậc trong công ty phụ thuộc vào qui mô và cách thức tổ chức quản
lý của từng công ty. Trong công ty kiểm toán thường có nhiều các hoạt động
dịch vụ và ở mỗi loại dịch vụ đều phân theo các cấp bậc tương ứng.
Qui mô, cách thức tổ chức của các công ty kiểm toán ở các nước phát
triển rất đa dạng, bao gồm:
Các công ty đa quốc gia (các công ty kiểm toán quốc tế): văn phòng chính
đặt ở một thành phố lớn trên thế giới (thường ở Mỹ và Anh), tiếp đó là các văn
phòng chính cho các khu vực và các văn phòng ở các nước. Văn phòng ở các
14
nước được thành lập theo luật của nước sở tại. Các văn phòng này sẽ trực thuộc
sự quản lý của văn phòng chính ở khu vực.
Các công ty thuộc phạm vi trong một quốc gia: các công ty này có thể có
một hoặc nhiều văn phòng, chi nhánh trực thuộc và tổ chức hoạt động trong
phạm vi một quốc gia. Có những công ty qui mô nhỏ hơn ở cấp địa phương với
số lượng nhân viên là vài chục người.
Để quản lý và thống nhất sự hoạt động của các công ty kiểm toán, ở mỗi
công ty trách nhiệm hữu hạn có qui mô hạn chế nhất, chỉ có một văn phòng
chính nơi thành lập. Các công ty kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài đều có văn
phòng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN
ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Toàn cảnh nghề kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Những thành tựu đạt được
16
Trong hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, ngành kiểm toán độc
lập vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng về doanh thu và tăng nhanh hơn tốc độ
tăng trưởng về khách hàng, giá phí khách hàng có tăng, có giảm nhưng bình
quân chung vẫn tăng. Tổng doanh thu toàn ngành kiểm toán độc lập năm 2010 là
2.744 tỷ, tăng 25% so với năm 2009, năm 2011 tăng 11%, 2012 tăng 23% và
năm 2013 tăng 11% so với năm trước tương ứng. Trong khi số lượng khách
hàng (hợp đồng) năm 2010 là 29.023, tăng 12% so với năm 2009, năm 2011
tăng 7%, năm 2012 tăng 0% và năm 2013 tăng 8% so với năm trước tương ứng.
Như vậy, tốc độ tăng doanh thu vẫn nhanh hơn tốc độ tăng khách hàng, vì giá
phí bình quân trên một hợp đồng cũng tăng khá. Năm 2010 bình quân là 95 triệu
đồng/hợp đồng, tăng 12% so với năm 2009, năm 2011 tiếp tục tăng 3%, 2012
tăng 23% và năm 2013 tăng 3% so với năm trước tương ứng.
Bên cạnh đó, đội ngũ những người hành nghề kiểm toán đang ngày càng
phát triển nhanh về cả lượng lẫn chất. Việt Nam đã tạo được mối quan hệ với
các tổ chức quốc tế, là thành viên của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), Liên
đoàn Kế toán các nước ASEAN (AFA). Nhiều tổ chức nghề nghiệp kế toán quốc
tế lớn và đang có nhiều hoạt động tích cực tại Việt Nam như Hiệp hội kế toán
công chứng Anh Quốc (ACCA), Hội kế toán công chứng Australia (CPA
thuận đủ điều kiện kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức
kinh doanh chứng khoán; 39 doanh nghiệp kiểm toán đăng ký và được Bộ Tài
chính chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng khác.
Tính đến hết ngày 31/12/2014, trong số 3112 người được cấp chứng chỉ kiểm
toán viên, có 1520 kiểm toán viên được Bộ Tài chính cấp giấy chứng nhận đăng
ký hành nghề 2.
2.1.2 Những khó khăn, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động kiểm toán còn tồn tại
những hạn chế làm ảnh ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán.
Thứ nhất, nhiều tổ chức kiểm toán độc lập chưa xây dựng và ban hành
một bộ tài liệu chuẩn thể hiện trình tự cụ thể các bước công việc kiểm toán một
cách khoa học, mang tính nguyên tắc, hướng dẫn để dựa vào đó thực hiện các
hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính. Do vậy, các hoạt động kiểm toán trong
mỗi cuộc kiểm toán thường thực hiện mang tính chất chủ quan theo yêu cầu của
2 Theo số liệu của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), 2014.
18
khách hàng kiểm toán cũng như kinh nghiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên.
Dẫn đến, khi tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính trong doanh nghiệp thì kiểm
toán viên thường bị động, tính linh hoạt bị hạn chế.
Thứ hai, thực tế khi thực hiện dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính, các
kiểm toán viên thường tập trung xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các chỉ
tiêu trên đối tượng báo cáo tài chính mà đơn vị lập theo quy định của Nhà nước.
Với thực trạng xác định đối tượng kiểm toán như vậy thì việc xác nhận tính
trung thực hợp lý của các đối tượng kiểm toán có thể không toàn diện và triệt để.
Ở một số tổ chức kiểm toán độc lập hiện nay, một số công việc và nội dung
kiểm toán thường được thiết kế sẵn và áp dụng chung cho mọi cuộc kiểm toán.
Khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính thì sử dụng những tài liệu thiết kế đó,
không có các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng kiểm toán, hoặc có thì
chưa đầy đủ, chặt chẽ và hiệu quả. Có những tổ chức kiểm toán độc lập đã xây
dựng được quy trình kiểm soát nhưng không thực hiện thường xuyên hoặc việc
vận hành không hiệu lực. Đồng thời, chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán chưa
đáp ứng kịp với đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn cuộc sống.
Từ những phân tích, đánh giá về thực trạng nêu trên, tác giả có thể rút ra
một số nguyên nhân chính sau:
Một là, hoạt động kiểm soát chất lượng của Hiệp hội kế toán, kiểm toán
đối với các tổ chức kiểm toán độc lập chưa được tiến hành thường xuyên và chặt
chẽ. Phạm vi và mức độ kiểm soát vẫn còn hạn chế. Chưa xử lý mạnh mẽ những
trường hợp tổ chức kiểm toán độc lập và kiểm toán viên vi phạm nguyên tắc,
chuẩn mực kiểm toán.
Hai là, hoạt động kiểm toán nước ta còn non trẻ. Nền kinh tế nước ta chưa
đạt đến mức độ nền kinh tế thị trường đầy đủ, nên hoạt động kiểm toán không
phải lúc nào cũng được xem là một yêu cầu bức thiết. Việc để các đơn vị kiểm
toán độc lập cung cấp dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính thường theo những
mục tiêu riêng của mỗi doanh nghiệp.
Ba là, mô hình và cơ cấu tổ chức cũng như các quy chế kiểm soát nội bộ
của các tổ chức kiểm toán độc lập chưa được phù hợp. Một số công ty có quy
20
mô nhỏ, nhân sự không đầy đủ để chuyên môn hóa thành các phòng ban nghiệp
vụ và soát xét dẫn đến việc đăng ký dịch vụ kiểm toán quá khả năng của công
ty. Chính sách tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng không tốt nên người làm kiểm
toán không đảm bảo chất lượng và yêu cầu công việc kiểm toán. Hơn nữa, việc
phối hợp giữa các tổ chức kiểm toán độc lập và giữa các kiểm toán viên chưa
tốt. Việc tuân thủ nguyên tắc đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao.
Ngoài ra việc cung cấp dịch vụ còn chịu tác động của quy luật cung cầu, cạnh
tranh. Do cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức kiểm toán độc lập, nên
tính độc lập của kiểm toán viên chưa được đảm bảo đầy đủ dẫn đến rủi ro kiểm
toán.
Thứ nhất, nguy cơ tư lợi: là nguy cơ mà kiểm toán viên nhận được lợi ích
tài chính hoặc lợi ích khác từ đơn vị được kiểm toán làm mất tính độc lập.
Thứ hai, nguy cơ do tự kiểm tra: là nguy cơ mà kiểm toán viên thực hiện
kiểm toán ở đơn vị mà trước đó đã từng làm lãnh đạo, kế toán trưởng hoặc phụ
trách kế toán, hoặc là người đã từng đảm nhận công việc có liên quan trọng yếu
đến hoạt động của đơn vị được kiểm toán nên ảnh hưởng đến tính độc lập, có thể
bỏ qua hoặc giảm nhẹ sai phạm cho đơn vị, dẫn đến kết luận không trung thực...
Thứ ba, nguy cơ về quan hệ ruột thịt: là nguy cơ mà kiểm toán viên thực
hiện kiểm toán ở đơn vị có mối quan hệ ruột thịt với kiểm toán viên, như thành
viên Ban Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị, Kế toán trưởng… dẫn đến kết
luận không đúng.
Thứ tư, nguy cơ về sự bào chữa: là nguy cơ mà kiểm toán viên thực hiện
kiểm toán ở đơn vị mà kiểm toán viên bị phụ thuộc vào đơn vị này trong việc
đưa ra ý kiến; hoặc bản thân kiểm toán viên ủng hộ quan điểm hay ý kiến của
nhà quản lý đơn vị được kiểm toán tới mức độ mà tính khách quan có thể bị ảnh
hưởng, dẫn đến kết luận sai lầm...
Những phân tích trên đây cho thấy, có rất nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến
tính độc lập của kiểm toán viên hành nghề. Do vậy, các doanh nghiệp kiểm toán,
chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam cần phải nhận thức
rõ về những nguy cơ này để có biện pháp ngăn chặn, bảo vệ nhằm giúp kiểm
22
toán viên giữ được tính độc lập để đưa ra ý kiến kết luận đúng đắn, khách quan.
Đồng thời, nếu nguy cơ được xác định là đáng kể, cần áp dụng các biện pháp
bảo vệ thích hợp để loại bỏ hoặc làm giảm nhẹ các nguy cơ này để việc tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản không bị ảnh hưởng, giảm rủi ro kiểm toán đến mức độ
chấp nhận được.
của môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam. Do vậy, doanh nghiệp cần ủng
hộ tích cực những chuẩn mực mới. Trước hết, đó là nỗ lực đầu tư xây dựng một
đội ngũ nhân viên kế toán và tài chính có năng lực; xây dựng hệ thống công
nghệ có đảm bảo xử lý và lưu trữ toàn bộ dữ liệu một cách đầy đủ, chính xác,
đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực kế toán áp dụng. Ngoài ra, trên cơ sở hành lang
pháp lý sẵn có, chuẩn mực, chế độ kế toán, kiểm toán hiện hành, các doanh
nghiệp phải tự xây dựng chính sách kế toán, kiểm toán riêng của mình. Đặc biệt,
các doanh nghiệp cần có kế hoạch đào tạo, huấn luyện các nhân viên kế toán
hiểu biết các chuẩn mực kế toán, kiểm toán và cập nhật các chế độ kế toán mới,
các quy định về thuế hiện hành… Giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp
tuân thủ các quy định hiện hành mà còn giúp việc lập và trình bày báo cáo tài
chính trung thực, khách quan hơn.
Ba là, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật, chuẩn mực,
chế độ kế toán, kiểm toán và triệt để xử lý những sai phạm nhằm duy trì chất
lượng của dịch vụ. Mặt khác, tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác, nâng cao vị thế
của hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam trên trường quốc tế.
3.2 Những giải pháp nâng cao năng lực và phẩm chất của kiểm toán viên
3.2.1 Về phía Nhà nước
Thứ nhất, Nhà nước cần sớm thiết lập môi trường pháp lý hoạt động kiểm
toán trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay. Ban hành đầy đủ các văn
bản pháp quy về kiểm toán trong đó có nhấn mạnh vai trò quyền hạn và trách
nhiệm đối với các kiểm toán viên, các tổ chức và hội nghề nghiệp.
Thứ hai, xây dựng, quy hoạch và có chiến lược đào tạo bồi dưỡng kiểm
toán viên theo các giai đoạn 5, 10, 15 năm và chiến lược lâu hơn. Xây dựng nội
dung chương trình đào tạo kiến thức cho phù hợp trong từng thời kỳ, từng đối
tượng, theo từng mục tiêu kiểm toán hay tổ chức kiểm toán.
Thứ ba, mở rộng tăng cường năng lực và vai trò hoạt động của các tổ
chức nghề nghiệp, tăng cường chất lượng hoạt động của Hội nghề nghiệp kế
toán kiểm toán, Hội đồng Quốc gia về kế toán, các chuyên gia kế toán, kiểm