Ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh điện máy của một số doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc và bài học cho doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
KINH DOANH ĐIỆN MÁY CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

BÙI MINH HẢI

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
KINH DOANH ĐIỆN MÁY CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Ngành: Kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102


quý Thầy Cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn nữa.
Tác giả

Bùi Minh Hải


MỤC LỤC
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................iv
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.........................5
1.1. Khái niệm thương mại điện tử.....................................................................5
1.1.1. Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp...........................................................5
1.1.2. Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng..........................................................6
1.2 Phân loại thương mại điện tử........................................................................8
1.3. Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ TMĐT............................................11
1.3.1. Các phương tiện kĩ thuật sử dụng trong TMĐT...................................11
1.3.2. Khung pháp lý cho TMĐT.....................................................................12
1.4. Các mô hình kinh doanh TMĐT................................................................18
1.4.1. Mô hình phân phối định hướng............................................................21
1.4.2. Mô hình cổng giao dịch.........................................................................22
1.5. Đặc trưng của hoạt động kinh doanh thương mại điện tử.......................22
1.6. Vai trò và lợi ích của TMĐT đối với nền kinh tế.......................................24
1.6.1. Vai trò của thương mại điện tử..............................................................24
1.6.2. Lợi ích của thương mại điện tử.............................................................24
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG TMĐT TRONG LĨNH VỰC BÁN LẺ ĐIỆN MÁY
CỦA TRUNG QUỐC HIỆN NAY........................................................................28
2.1. Tiềm năng ứng dụng TMĐT ở Trung Quốc..............................................28
2.1.1. Đặc điểm kinh tế Trung Quốc................................................................28
2.1.2. Quá trình phát triển của TMĐT Trung Quốc trong những năm vừa
qua.................................................................................................................... 32


Trang
9
49

Bảng 2.2: Phân tích sự thành công của JD qua mô hình MSDP

52

Bảng 2.3: Phân tích sự thành công của JD qua mô hình MSDP

58

BIỂU ĐỒ:
Nội dung

Trang

BD 2.1: GDP của Trung Quốc giai đoạn 2007 - 2015

29

BD 2.2: Tăng trưởng GDP hàng năm của Trung Quốc

30

BD 2.3: Quy mô thị trường bán lẻ Trung Quốc giai đoạn 2011-2015

31


40

lệ đóng góp vào tăng trưởng của thị trường bán lẻ trực tuyến
BD 2.11: Tỉ lệ đóng góp vào tăng trưởng của thị trường bán lẻ trực

41

tuyến
BD 2.12: Sự thay đổi của tổng giá trị giao dịch và tỉ lệ tăng trưởng giao

42

dịch trên thiết bị di dộng tại thị trường bán lẻ trực tuyến của Trung
Quốc
BD 2.13: Thời gian sử dụng internet trung bình hàng tuần tại Trung
Quốc

43


2

BD 2.14: Mức tăng trưởng tổng giá trị giao dịch của Jingdong

50

BD 3.1: Thị phần bán lẻ của một số sàn TMĐT bán lẻ hàng đầu Việt

60



3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Diễn giải

CEREC

China e-Business Research Centre

CNNIC

China Internet Network Information Center

CNTT

Công nghệ thông tin

B2B

Business to Besiness

B2C

Business to Customer

B2G


VASC

Trung tâm Dịch vụ Gia tăng Giá trị


4

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp bán lẻ điện máy Việt Nam đang gặp khó khăn
trong việc ứng dụng TMĐT vào kinh doanh. Các doanh nghiệp chưa khai thác hết
được tiềm năng của thị trường bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam cũng như chưa có sự
quan tâm đúng mức đối với TMĐT. Trong quá trình tìm hiểu sự thành công khi ứng
dụng TMĐT vào kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ điện máy lớn tại Trung
Quốc, tác giả nhận thấy thị trường Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều nét tương
đồng như cơ cấu dân số, tình hình phát triển hạ tầng Internet, thói quen mua hàng
của người dân… Do đó, kinh nghiệm của các doanh nghiệp Trung Quốc có thể trở
thành bài học đáng giá giúp các doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi hơn trong quá
trình áp dụng TMĐT vào kinh doanh.
Trong luận văn này, tác giả đã phân tích quá trình phát triển của TMĐT tại
Trung Quốc và việc ứng dụng thành công TMĐT của một số doanh nghiệp bán lẻ
điện máy ở Trung Quốc. Từ đó đã tìm ra được một số bài học kinh nghiệm đã tạo
nên sự thành công cho các doanh nghiệp điện máy lớn tại Trung Quốc và đã đề xuất
được một số giải pháp áp dụng các bài học kinh nghiệm đó, nhằm tăng cường ứng
dụng TMĐT vào bán hàng cũng như phát triển TMĐT một cách bên vững cho các
doanh nghiệp Việt Nam.


1

PHẦN MỞ ĐẦU

tăng dần cũng dẫn tới nhu cầu của của người dùng với các mặt hàng điện máy và


2

điện tử cũng tăng cao. Với những điều kiện cơ sở hạ tầng cũng như tiềm năng thị
trường nói trên, các doanh nghiệp điện máy Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất tốt
nhằm thâu tóm thị phần cũng như phát triển doanh nghiệp theo hướng đi mới, tận
dụng sự phát triển của trào lưu internet.
Với những nét tương đồng về văn hóa, con người, sự thành công trong phát
triển và ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp bán lẻ điện máy tại Trung Quốc như
Jingdong, Gome, Alibaba…. sẽ là những bài học đáng giá cho các doanh nghiệp
bán lẻ điện máy tại Việt Nam. Nhằm nghiên cứu những kinh nghiệm và thành công
đó, tác giả đã chọn đề tài “Ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh điện
máy của một số doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc và bài học cho doanh nghiệp
Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu vấn đề nghiên cứu, tác giả đã nhận thấy có rất nhiều
bài báo, báo cáo của các tổ chức uy tín trên thế giới viết và các luận văn thạc sỹ
nghiên cứu về TMĐT tại Trung Quốc như:
-

International Trade Centre, E-commerce in China: Opportunities for Asian
firms, 2016.
Báo cáo nghiên cứu tổng quan thị trường TMĐT tại Trung Quốc giai đoạn
2008 – 2015 và đưa ra giải pháp tăng cường xuất khẩu cho các doanh nghiệp

-

vừa và nhỏ vào thị trường Trung Quốc thông qua TMĐT.


theo.
Nguyễn Thị Kim Oanh (2010), “ Phân tích thực trạng TMĐT Trung Quốc
hiện nay”, Luận văn thạc sỹ, trường ĐH kinh tế
Luận văn nghiên cứu cách thức quản lý nền kinh tế nói chung cũng như
TMĐT nói riêng của Trung Quốc nhằm đưa ra những bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam
Các nghiên cứu trên đều đã phân tích về tổng quan và thực trạng của TMĐT

tại Trung Quốc trong đó có thị trường bán lẻ tuy nhiên lại chưa có đề tài nào nghiên
cứu về hoạt động ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp bán lẻ điện máy tại Trung
Quốc. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn này không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu, luận án hay luận văn đã được công bố trước đó.
3. Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu thành công trong ứng dụng TMĐT của một số doanh nghiệp bán
lẻ điện máy lớn của Trung Quốc từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệp có
thể áp dụng cho Việt Nam
4. Đối tượng nghiên cứu:
- Ứng dụng TMĐT của một số doanh nghiệp bán lẻ điện máy.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: thương mại bán lẻ đã bùng nổ trên thế giới từ rất sớm
với sự thành công của một số doanh nghiệp bán lẻ trên thế giới như Walmart,
Amazon, Metro AG hay Schwarz Unternehmenstreuhand KG. Tuy nhiên,
TMĐT bán lẻ nói chung và TMĐT bán lẻ của ngành điện máy nói riềng chỉ
thực sự bùng nổ khi điện thoại thông minh và các thiết bị di động cầm tay có
thể kết nối inernet được ra mắt. Cột mốc đánh dấu sự ra đời của các sản phẩm
điện tử nói trên là cuối năm 2010 với sự ra mắt của iphone và các sản phẩm sử
dụng hệ điều hành Android. Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn thời
gian tiến hành nghiên cứu cho đề tài là từ năm 2011 – 2015.
- Không gian nghiên cứu: tại Trung Quốc và ứng dụng cho các doanh nghiệp

(electronic business hay e-business) hoặc “thương mại không giấy tờ” (paperless
commerce). Tuy nhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi phổ biến nhất và được
dùng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu của các tổ chức hay
chính phủ, dù rằng các tên gọi khác vẫn có thể được sử dụng và được hiểu tương tự.
Tới nay, khái niệm về “thương mại điện tử” cũng rất khác nhau trên phạm vi
quốc tế, rất nhiều tổ chức và cá nhân đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
“thương mại điện tử” (e-commerce). Các định nghĩa về TMĐT cũng rất đa dạng và
có khá nhiều điểm khác biệt và có thể tạm chia thành hai nhóm khái niệm chính:
TMĐT theo nghĩa hẹp và TMĐT theo nghĩa rộng.
1.1.1. Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa hẹp, TMĐT là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các
phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và internet.
Cách hiểu này tương tự một số quan điểm như:
"TMĐT, định nghĩa một cách đơn giản, là những giao dịch thương mại trong
lĩnh vực dịch vụ bằng các phương tiện điện tử”. (Transatlantic Business Dialogue
Electronic Commerce White Paper, 2012).
“TMĐT gồm tất cả các hình thức giao dịch thương mại, với chủ thể tham gia
gồm cả các tổ chức và các cá nhân, dựa trên sự xử lý và truyền các dữ liệu số hóa,
bao gồm văn bản, âm thanh, hình ảnh” (OECD, 2016) .
“TMĐT là sự tiến hành các hoạt động thương mại, mà các hoạt động đó dẫn
tới sự trao đổi giá trị thông qua các mạng viễn thông” (European Information
Technology Obervatory 2014).
"TMĐT là việc sử dụng công nghệ có liên quan đến Internet để cải tiến hoạt
động kinh doanh quan trọng. TMĐT là bất kỳ hoạt động nào có thể nối các hệ
thống kinh doanh trực tiếp tới khách hàng, nhân viên, người bán hàng và các nhà
cung cấp thông qua các mạng nhỏ (nội bộ bên trong và bên ngoài) và trên mạng
toàn thế giới" (WTO- e-commerce in developing countries, 2015)


6

phương tiện điện tử” (UNCTAD, 2000).


7

Khái niệm này của UNCTAD đã đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh,
chứ không chỉ giới hạn ở riêng mua và bán, và toàn bộ các hoạt động kinh doanh
này đều có thể được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử.
Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ MSDP, trong đó:
M – Marketing (có trang web, hoặc xúc tiến thương mại qua internet - SEO)
S – Sales (có trang web có hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng)
D – Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng)
P – Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua bên trung gian như ngân
hàng)
Như vậy, đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng
vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối,
thanh toán thì được coi là tham gia TMĐT.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, TMĐT bao gồm các lĩnh vực:
I - Cơ sở hạ tầng cho sự phát triển TMĐT (Infrastructure)
M - Thông điệp (Message)
B - Các quy tắc cơ bản (Basic Rules)
S - Các quy tắc riêng trong từng lĩnh vực (Sectorial Rules/ Specific Rules)
A - Các ứng dụng (Applications)
Mô hình IMBSA này đề cập đến các lĩnh vực cần xây dựng để phát triển
TMĐT như sau:
I (Infrastructure): Cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin và truyền thông. Một ví
dụ điển hình là dịch vụ Internet băng thông rộng ADSL. Tại nước ta, theo thống kê
năm 2008 của Cục Thương mại điện tử, có đến 99% doanh nghiệp đã kết nối
internet, trong đó 98% doanh nghiệp là sử dụng dịch vụ băng thông rộng ADSL truy
cập Internet với tốc độ đủ cao để giao dịch qua mạng (Báo cáo tình hình phát triển

doanh TMĐT cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích để phát triển,
trên cơ sở đã giải quyết được 4 vấn đề trên. Ví dụ như: Các mô hình Cổng TMĐT
quốc gia (ECVN.gov), các sàn giao dịch TMĐT B2B (Vnemart) cũng như các mô
hình B2C (golmart, Amazon), mô hình C2C (Ebay), hay các website của các công
ty XNK... đều được coi chung là các ứng dụng TMĐT.
1.2 Phân loại thương mại điện tử
Các giao dịch TMĐT hiện nay được xây dựng dựa trên các mối quan hệ giữa
các chủ thể bao gồm chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Dựa trên các cơ
sở chủ thể đó tác giả Namrata đã phân TMĐT thành các loại như sau:
Chính phủ

Doanh nghiệp

Người tiêu dùng

Chính phủ

G2G

G2B

G2C

Doanh nghiệp

B2G

B2B

B2C

Website trung ương để trao đổi thông tin và làm việc với nhau có hiệu quả hơn.
Chẳng hạn, các Website của chính phủ có thể cung cấp cho doanh nghiệp các thông
tin về thuế, thủ tục hải quan, thông tin về các mối quan hệ hợp tác, trả lời các câu
hỏi và yêu cầu... Các doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ cũng có thể trao đổi
thông tin và hợp tác với nhau khi thực hiện các dự án được ký kết bằng cách sử
dụng một Website chung để tổ chức các cuộc họp trên mạng, đánh giá các kế hoạch
và tổng kết các kết quả đạt được qua mạng.
d) TMĐT giữa người tiêu dùng và người tiêu dùng (C2C)
Trong C2C, là mối quan hệ thương mại giữa các cá nhân và người tiêu dùng
với nhau. Đây cũng được coi là mô hình kinh doanh có tốc độ tăng trưởng nhanh
chóng và ngày càng phổ biến. Hình thái dễ nhận ra nhất của mô hình này là các
website bán đấu giá trực tuyến, rao vặt trên mạng. Một trong những thành công
vang dội của mô hình này là trang web đấu giá eBay.
Trong các loại hình giao dịch trên, hai loại hình B2B và B2C là hai dạng giao
dịch phổ biến nhất trong TMĐT đặc biệt là khi xét trên góc độ kinh doanh thuần
túy. Về giao dịch B2B, đây là quan hệ giao dịch chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số


10

các giao dịch TMĐT hiện nay. Khi áp dụng B2B, các doanh nghiệp giới thiệu cho
đối tác về thông tin họ, các sản phẩm và dịch vụ đang được cung cấp bởi doanh
nghiệp thông qua Website, dồng thời những đối tác quan tâm đến hàng hóa của
doanh nghiệp cũng có thế tiến hành giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp trên
Website này. Cũng trong phương thức B2B, thông qua mạng internet, các doanh
nghiệp có thể theo dõi, quản lý được quá trình cung cấp nguyên liệu, dịch vụ từ phía
nhà cung cấp cũng như việc phân phối hàng hóa tới các đại lý tiêu thụ của doanh
nghiệp. Trong quá trình này, thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tác, nhà cung
ứng, nhà phân phối sẽ luôn được cập nhật theo thời gian thực do đó có thể nhanh
chóng nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh cũng như giải quyết được các khó

được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều. Fax qua Internet là một dịch vụ
mới được ứng dụng khá rộng rãi để giảm chi phí trong giao dịch điện tử. Hiện nay,
thiết bị fax không chỉ giới hạn trong máy fax truyền thống mà đã mở rộng ra máy vi
tính và các thiết bị điện tử khác sử dụng các phần mềm cho phép gửi và nhận văn
bản fax.
iii. Truyền hình: là một trong những công cụ phổ biến nhất hiện trong các
phương tiện kĩ thuật của TMĐT nhất là trong việc quảng cáo hàng hóa, dịch vụ.Tuy
nhiên, truyền hình mới chỉ là công cụ truyền thông một chiều, khách hàng chỉ tiếp
nhận thông tin một cách thụ động. Khi muốn tìm kiếm thêm thông tin về hàng hóa,
yêu cầu báo giá và đàm phán với người bán về các điều khoản mua hàng cụ thể,
người bán lại cần sử dụng một phương tiện thứ ba để tiến hành công việc.
iv. Máy tính và mạng Internet: TMĐT chỉ thực sự có vị trí quan trọng khi có
sự bùng nổ về máy tính và mạng internet vào những năm 90 của thế kỉ 20. Nhờ máy
tính và internet, doanh nghiệp có thể tiến hành giao dịch, mua bán, hợp tác trong
sản xuất, cung ứng dịch vụ, quản lý các hoạt động nội bộ doanh nghiệp, liên kết
cùng các đối tác trên toàn cầu và hình thành các mô hình kinh doanh mới. Việc tiến
hành giao dịch giữa doanh nghiệp với đối tác, khách hàng sẽ diễn ra một cách
nhanh chóng và thuận tiện hơn.
v. Smartphone, tablet và công nghệ thực thực tế ảo (VR): Smart phone và
tablet có thể coi là cuộc cách mạng của TMĐT trong thế kỉ 21. Mang ưu điểm của
cả điện thoại, máy tính và Internet, smartphone, tablet hiện đã trở thành một trong
những công cụ chính của TMĐT khi vừa có thể truyền tải hình ảnh, âm thanh, file
dữ liệu mà còn có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi thông qua mạng viễn thông. Cùng
với sự phát triển của công nghệ điện tử, các smartphone và tablet ngày càng thông
minh hơn, xử lý tốt hơn và càng ngày càng tiệm cận với máy tính, hơn thế nữa lại
có ưu điểm về sự tiện dụng và khả năng di động. Một trong những phát minh mới
của thế kỉ 21 hứa hẹn sẽ đem đến bước tiến mới cho TMĐT và đang được rất nhiều


12

ngữ có liên quan, giải thích luật và các trường hợp ngoại lệ theo thoả thuận giữa các
bên. Chương II quy định các điều kiện luật định đối với các thông tin số hoá, gồm 6
điều khoản (Điều 5 đến điều 10) công nhận giá trị pháp lý của các thông tin số hoá,


13

về văn bản viết, chữ ký, bản gốc, tính xác thực và khả năng được chấp nhận của
thông tin số, việc lưu giữ thông tin số. Chương III nói đến thông tin liên lạc bằng
thông tin số hoá, bao gồm 5 điều khoản (điều 11 đến điều 15) quy định về hình thức
của hợp đồng và giá trị pháp lý của hợp đồng, các bên ký kết hợp đồng phải công
nhận giá trị pháp ỉý của các thông tin số hoá, xuất xứ của thông tin số hoá, việc xác
nhận đã nhận được thông tin, thời gian, địa điểm gừi và nhận thông tin số hoá.
- Phần II quy định các giao dịch TMĐT trong một số lĩnh vực hoạt động gồm
2 điều khoản liên quan đến vận tải hàng hoá. Điều 16 quy định các hành vi liên
quan đến hợp đồng vận tải hàng hoá, điều 17 quy định về hồ sơ vận tải hàng hoá.
Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL là cơ sở giúp đỡ tất cả các quốc gia trên
thế giới kể cả các quốc gia chưa gia nhập Liên hợp quốc hoàn thiện hệ thống pháp
luật của mình về sử dụng các phương tiện truyền và lưu giữ thông tin mới thay thế
cho các tài liệu bằng giấy. UNCITRAL cũng đã ban hành văn bản hướng dẫn việc
chuyển hoá các quy định của Đạo luật mẫu vào hệ thống nội dung luật của các quốc
gia.
b) Luật mẫu về chữ ký điện tử của UNCITRAL
Luật mẫu về chữ ký điện tử chính thức được thông qua vào ngày 29/09/2000.
Mục đích của luật này là hướng dẫn các quốc gia thành viên trong việc xây dựng
khung pháp lý thống nhất và công bằng để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề
về chữ ký điện tử, yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong các giao dịch
TMĐT.
Đạo luật này đưa ra những vấn đề cơ bản của chữ ký điện tử, chữ ký số hóa và
các vấn đề về người ký, bên thứ ba và chứng nhận chữ ký số. Đặc biệt, nhằm đưa ra

Xây dựng khung pháp lý cho TMĐT là việc rất cấp thiết và đều được các nước
trên thế giới quan tâm ngay trong thời kỳ đầu phát triển TMĐT. Một số nước lớn,
nền TMĐT phát triển từ rất sớm như Mỹ, Canada, Anh,... đã tự ấn định ra các
nguyên tắc cơ bản của mình và ban hành rất nhiều điều luật, công ước bổ sung để
hoàn thiện khung pháp lý nhằm tạo điều kiện cho hoạt động giao dịch và phát triển
TMĐT. Một số nước khác lại xây dựng khung pháp lý dựa trên những nguyên tắc
cơ bản của luật mẫu về TMĐT của Ủy Ban Pháp luật thương mại quốc tế - Liên hợp
quốc, có thể kể tới như Singapore, Australia, Việt Nam,...
Về cơ bản, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã có khung pháp lý để điều
chỉnh các phương diện chính của giao dịch TMĐT như hợp đồng điện tử, chữ ký số,
bảo mật thông tin,... Có thể thấy rõ điều này qua khung pháp lý của một số quốc gia
như:
a) Khung pháp lý về thương mại điện tử của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nước đi đầu trong lĩnh vực TMĐT trên thế giới. Sau nhiều năm phát
triển, Hoa Kỳ đã ấn định ra các nguyên tắc cơ bản cho TMĐT của riêng mình, đồng
thời kiến nghị cho nền TMĐT toàn cầu.


15

Quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý cho TMĐT của Hoa Kỳ
dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản là:
- Các bên được tự do xác lập quan hệ hợp đồng với nhau khi thấy phù hợp.
- Các quy định phải có tính chất trung lập về mặt công nghệ và phải có tính
mở cho tương lai, có nghĩa là không được quy định về một loại công nghệ cụ thể
nào đó và không được hạn chế việc sử dụng hay phát triển của các công nghệ tương
lai.
- Các quy định hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới trong
trường hợp cần thiết để hỗ trợ cho việc sử dụng công nghệ điện tử.
- Các quy định phải công bằng cho cả các doanh nghiệp đã áp dụng rộng rãi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status