Tài trợ thương mại quốc tế của chính phủ đối với doanh nghiệp Việt Nam Thực trạng và giải pháp đến năm 2020 (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA CHÍNH PHỦ
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

CHU NGỌC HÀ

Hà Nội – Năm 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Tài trợ thương mại quốc tế của chính phủ đối với
doanh nghiệp Việt Nam - Thực trạng và giải pháp đến năm 2020” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, được
trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên
cứu đã được công bố, các websites…Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra
từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn.

Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn

Chu Ngọc Hà



sách tài trợ gián tiếp, cơ cấu của hoạt động tài trợ, theo phương thức tài trợ và loại
hình doanh nghiệp được tài trợ. Trong đó, những chính sách tài trợ gián tiếp có sức
ảnh hưởng rộng và sâu tới hệ thống các doanh nghiệp hơn so với những chính sách
trực tiếp từ Chính phủ. Từ đánh giá tổng quan này, tác giả đưa ra nhận xét về các
kết quả đạt được, những điểm chưa đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những
hạn chế đó.
Trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động đến chính sách tài trợ thương mại quốc tế
của Chính phủ đối với doanh nghiệp, tác giả đề xuất ra các giải pháp chung của
Chính phủ và 3 giải pháp nghiệp vụ tới các đối tượng tham gia vào hoạt động tài trợ
thương mại quốc tế của nền kinh tế, nhằm phát triển hoạt động tài trợ thương mại
quốc tế của Chính phủ đối với các doanh nghiệp Việt Nam và đưa ra khuyến nghị
đối với các cơ quan hữu quan.


i
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA
CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP............................................................4
1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế.............................................................4
1.1.1 Tính tất yếu khách quan của Tài trợ thương mại quốc tế.........................4
1.1.2 Khái niệm Tài trợ Thương mại Quốc tế....................................................5
1.1.3 Đặc điểm và vai trò của Tài trợ thương mại quốc tế.................................6
1.1.3.1 Đặc điểm của Tài trợ thương mại quốc tế...........................................6
1.1.3.2 Vai trò của Tài trợ thương mại quốc tế...............................................8

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020.................................................................................71
3.1 Định hướng và mục tiêu của Chính phủ về thương mại quốc tế và tài trợ
thương mại quốc tế đến năm 2020........................................................................71
3.1.1 Định hướng phát triển ngành hàng.........................................................73
3.1.2 Định hướng phát triển thị trường............................................................74
3.2......Các giải pháp nhằm phát triển tài trợ thương mại quốc tế của Chính phủ
đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.......................................74
3.2.1...Giải pháp chung thực hiện chiến lược phát triển kinh tế và thương mại
quốc tế của chính phủ.......................................................................................74
3.2.2 Các giải pháp nghiệp vụ...........................................................................78


iii
3.2.2.1 Quản lý hiệu quả các chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phát
triển sản xuất hàng xuất khẩu.......................................................................78
3.2.2.2 Đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nhằm bảo hiểm
rủi ro cho doanh nghiệp xuất khẩu...............................................................79
2.1.3.3 Thành lập tổ chức chuyên trách thực hiện nhiệm vụ Tài trợ thương
mại quốc tế của Chính phủ...........................................................................82
3.2.3. Một số kiến nghị......................................................................................82
KẾT LUẬN.............................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................87


iv

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT


Hỗ trợ phát triển chính thức

Assistant
TNHH

Limited Company

Công ty trách nhiệm hữu hạn

FDI

Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

XNK

Xuất nhập khẩu

NHPT

Ngân hàng Phát triển


v

DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2-1: Tỉ giá hối đoái công bố tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước................33
Bảng 2-2 : Các khoản chi của Chính phủ theo phương thức tài trợ thương mại quốc

mỗi quốc gia, hoạt động thương mại quốc tế vừa được đánh giá là cơ hội, vừa cần
được coi là thách thức lớn đối với doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế dưới sự
điều tiết của Chính phủ nói chung. Khi tham gia vào thị trường thương mại quốc tế
với nhiều đối thủ mạnh đến từ các nền kinh tế khác nhau, mỗi doanh nghiệp luôn
đối mặt với những thách thức lớn về nhu cầu vốn và khả năng thu hồi vốn, cũng
như bảo lãnh, và khi đó tài trợ thương mại quốc tế từ Chính phủ chính là nguồn tài
trợ mang tính chiến lược nhất và với mức chi phí thấp nhất để các doanh nghiệp
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình về vốn, chất lượng, giá thành sản phẩm,…
Là một quốc gia nằm trong nhóm các nước đang phát triển, Việt Nam với các ưu đãi
về khí hậu tài nguyên, nhiên nguyên vật liệu và nhân công đang là điểm đến của các
dòng vốn tài trợ của các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, những hiệp định thương
mại tự do với khu vực và thế giới đem lại những cơ hội trong tầm với cho các doanh
nghiệp Việt Nam tiếp cận cả những thị trường khó tính như Nhật, Mỹ, Úc, châu
Âu… Nắm bắt những cơ hội cũng như thách thức này, Chính phủ Việt Nam cần có
những chính sách định hướng tài trợ cho doanh nghiệp kịp thời, mở rộng cả về quy
mô và chất lượng.
Theo những nghiên cứu sơ bộ ban đầu từ những tài liệu tổng quan từ Cổng thông tin
điện tử Chính phủ, cổng thông tin điện tử các bộ ngành và các nghiên cứu đã thực
hiện như luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp về nội dung nói trên, nội dung tài
trợ thương mại quốc tế của Chính phủ chưa được quan tâm đúng mức. Ở Việt Nam
các nghiên cứu chủ yếu thường tập trung vào các hình thức tài trợ của các tổ chức
tín dụng, phần lớn là ngân hàng thương mại như: Phát triển hoạt động tài trợ thương
mại quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam trong xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế, (Lê Thị Xuân Vinh, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Ngoại
thương, H.2006), Tìm hiểu thực trạng thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân
hàng TMCP ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – Chi nhánh Bến Thành giai
đoạn 2007-2009, Một số chính sách hỗ trợ tài chính nhằm nâng cao năng lực xuất


2

Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của

Chính phủ đối với Doanh nghiệp Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tài trợ thương mại quốc tế của Chính phủ đối với
Doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu:


3


Về nội dung (hay không gian nghiên cứu): thực trạng tài trợ thương mại quốc

tế từ phía Chính phủ Việt Nam trên cơ sở hai loại tài trợ là tài trợ trực tiếp và gián tiếp.

Về thời gian: nghiên cứu thực trạng Tài trợ thương mại quốc tế của Chính
phủ từ 2006 đến 2016; các giải pháp đề xuất đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Phân tích và tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết để diễn giải về các định
nghĩa, vai trò, phương thức và chu trình tài trợ thương mại quốc tế; phương pháp
nghiên cứu lịch sử; phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt,
mục lục và các phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương sau
đây:
Chương I: Tổng quan về Tài trợ thương mại quốc tế của Chính phủ đối với
Doanh nghiệp

trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu bao gồm: các chính sách tỉ giá hối
đoái, các quy định trong quản lý ngoại tệ, tín dụng, bảo hiểm, các quỹ tài trợ ưu đãi,
đầu tư... Đây chính là các biện pháp tài trợ thương mại quốc tế không thể thiếu từ
phía chính phủ. Xét về phía doanh nghiệp, xu thế hội nhập đã thiết lập những thị
trường mới bên cạnh thị trường truyền thống, thông qua đó các doanh nghiệp tham
gia vào sân chơi quốc tế có được nhiều cơ hội. Tuy nhiên mỗi doanh nghiệp tham
gia vào thương mại quốc tế luôn đứng trước những thách thức lớn về nhu cầu vốn
và khả năng thu hồi vốn. Vì vậy, các doanh nghiệp rất cần đến sự hỗ trợ của chính


5
phủ và các tổ chức tài chính. Về phía ngân hàng, việc thực hiện tài trợ thương mại
quốc tế cũng đem lại lợi ích về thu nhập, do đó các ngân hàng luôn nỗ lực để nâng
cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế. Có thể nói thương mại
quốc tế là một xu hướng tất yếu, là tiền đề của Tài trợ thương mại quốc tế, từ đó tác
giả muốn đưa người đọc tìm hiểu và khảo sát cơ chế dẫn tới tính khách quan trong
Tài trợ thương mại quốc tế qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1-1: Quy trình tái sản xuất hàng xuất khẩu và nhu cầu tài trợ tài chính
trong các giai đoạn

Cho vay ngắn
và trung hạn

Cho vay trung
và dài hạn

Cho vay xuất
khẩu

T-H

Trên thương trường quốc tế, sự vận động của hàng hoá và vốn luôn phát triển nhịp
nhàng với nhau, xuất phát từ việc quốc tế hoá nền kinh tế và sự liên kết với nhau
giữa các đồng tiền mạnh.
Trên thực tế, người ta thường hiểu tài trợ thương mại quốc tế là cho vay xuất khẩu,
tín dụng trong ngoại thương, đó là cách hiểu đúng nhưng chưa đủ. Ở góc độ rộng
hơn, tài trợ thương mại quốc tế (international trade sponsorship) bao hàm ý nghĩa
rộng hơn cả tín dụng (credit) và tài trợ tài chính (finacing) cộng lại. Bên cạnh những
hoạt động này, đó còn là những hành động gián tiếp, những chính sách biện pháp
trìu tượng đến từ doanh nghiệp, ngân hàng hay chính phủ. Như vậy, ta cũng có thể
sử dụng một khái niệm cụ thể hơn được khái quát dựa trên phương thức tài trợ trực
tiếp hay gián tiếp, tài trợ thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức
hỗ trợ về tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp và các đơn vị kinh
tế tham gia trong lĩnh vực thương mại quốc tế trong các công đoạn của quá trình
đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ.
1.1.3 Đặc điểm và vai trò của Tài trợ thương mại quốc tế
1.1.3.1 Đặc điểm của Tài trợ thương mại quốc tế
Tài trợ thương mại quốc tế mang năm đặc điểm rõ rệt sau:
Thứ nhất, Tài trợ thương mại quốc tế mang nội hàm rộng. Khái niệm bao hàm cả
các hình thức tài trợ hữu hình và vô hình. Về hữu hình, đó là các hoạt động cấp vốn
(financing), cho vay (loan) hoặc tín dụng (credit) nhằm giúp doanh nghiệp bổ sung
trực tiếp vào nhu cầu về nguồn tài chính của mình. Về vô hình, đó là việc sử dụng
các chính sách, biện pháp kinh tế, hoặc các hình thức tài trợ vô hình khác nhằm tạo
ra các điều kiện thuận lợi hơn cho tài chính doanh nghiệp và tạo ra các cơ hội kinh
doanh có lợi cho doanh nghiệp khi tham gia thương mại quốc tế.
Thứ hai, Tài trợ phi thương mại và Tài trợ thương mại là hai khái niệm cần được
phân biệt rõ ràng. Tài trợ phi thương mại bao gồm các hoạt động tài trợ trợ tài chính


7
và phi tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị kinh tế trong nền kinh tế


8
Mỗi doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là doanh nghiệp có tham vọng duy trì, phát
triển và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thương mại quốc tế
luôn vấp phải rào cản và thách thức về tài chính. Trong cuộc chiến với các doanh
nghiệp nội địa trên thị trường nội địa, điều này đã chưa bao giờ là một thách thức dễ
dàng vượt qua. Ngày nay, trên thị trường thương mại quốc tế rộng lớn, đối thủ mà
các doanh nghiệp phải cạnh tranh đến từ khắp các nền kinh tế trên thế giới, họ nắm
trong tay nguồn vốn dồi dào và khoa học kỹ thuật hiện đại, vì vậy một bài toán đặt
ra cho các doanh nghiệp đến từ các quốc gia kém phát triển hơn hay có năng lực nội
tại yếu kém hơn là làm thế nào để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này.
Một tất yếu khách quan, sự xuất hiện của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
mang lại cho doanh nghiệp nhiều cơ hội hơn để tham gia buôn bán quốc tế. Hoạt
động này khắc phục được phần nào những khó khăn về vốn của doanh nghiệp.
Trong hoạt động mua bán chịu, doanh nghiệp mua không phải chuẩn bị ngay một số
tiền lớn bằng giá trị hàng hoá để trả cho bên bán mà có thể trả dần, trả sau khi bán
được hàng, hoặc thực hành trả theo công nợ,… Doanh nghiệp cũng có cho mình
nguồn lực tài chính để đầu tư vào phát triển máy móc, khoa học kĩ thuật, nhờ đó có
thể nâng tầm chất lượng sản phẩm và hình ảnh, danh tiếng của doanh nghiệp lên
một tầng cao mới, thoát khỏi những vỏ bọc bấy lâu mà doanh nghiệp loay hoay vì
một lý do duy nhất là thiếu nguồn lực để đầu tư. Hoạt động tài trợ thương mại quốc
tế còn làm cho các bên tham gia giao dịch yên tâm hơn về khả năng thanh toán cũng
như thực hiện hợp đồng của đối tác như tín dụng chứng từ, bảo lãnh của một bên
thứ ba nào đó, mà tiêu biểu là các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín dụng
uy tín. Tài trợ thương mại quốc tế làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá
trình thực hiện hợp đồng: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp nhận được
vốn để thực hiện thương vụ, như tạm nhập tái xuất, gia công… Đối với doanh
nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp thu mua hàng đúng thời điểm, với
giá cả rẻ hơn và không phải nhún nhường bên bán về các điều kiện khác như khi
thiếu hụt tài chính nên phải trả chậm và xuất hàng ra thì có cơ hội cho bên mua trả

Nhu cầu tài trợ của nhà nhập khẩu xoay quanh vấn đề thanh toán tiền hàng như một
nghĩa vụ bắt buộc trong thoả thuận mua bán. Đây là cơ sở để ngân hàng cung ứng
nhiều dịch vụ tài trợ khác nhau cho nhà nhập khẩu như các loại tài trợ phát hành thư
tín dụng, tài trợ cho vay nhập hàng, tài trợ mua bán trung gian, bảo lãnh thanh toán,
bảo lãnh vận đơn...Mặt khác, vốn tài trợ của Ngân hàng giúp các doanh nghiệp có
thể mua được những lô hàng lớn, giá hạ - như vậy sẽ giúp doanh nghiệp đạt hiệu
quả cao khi thực hiện thương vụ. Thực tiễn hoạt động thương mại ở các nước hiện


10
nay, vấn đề tài trợ nhập khẩu của khách hàng ít được nhấn mạnh trong chính sách
tài trợ. Bởi vì, hoạt động nhập khẩu đặc biệt là nhập khẩu hàng tiêu dùng được xem
là không mang lợi ích to lớn và trực tiếp cho việc phát triển kinh tế quốc gia, lại làm
tiêu hao dự trữ ngoại tệ quốc gia vốn thường khan hiếm. Các nước thực hiện chiến
lược công nghiệp hóa, hiện đại hoá kinh tế đất nước luôn định hướng ưu tiên phát
triển xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Do vậy, khi tài trợ xuất khẩu, các ngân hàng
thường được hưởng nhiều biện pháp khuyến khích của Chính phủ, chẳng hạn như
bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, chính sách tái tài trợ với lãi suất ưu đãi của ngân hàng
trung ương... làm giảm rủi ro và tăng thu nhập của ngân hàng. Khi tài trợ nhập
khẩu, ngân hàng không được hưởng những lợi ích ưu đãi đó mà trái lại, bị ảnh
hưởng bởi nhiều chính sách điều tiết của Chính phủ, như chính sách quản chế ngoại
hối khắt khe, hàng rào thương mại bảo hộ sản xuất trong nước, chính sách quản lý
việc vay vốn và bảo lãnh vay vốn nước ngoài nghiêm ngặt.
- Đối với ngân hàng thương mại
Với xu thế hội nhập tất yếu của mọi thời đại, Việt Nam đã và đang tích cực chuẩn bị
các điều kiện cần thiết cho việc hội nhập vững chắc vào cộng đồng khu vực và quốc
tế, trong đó có sự hội nhập của hệ thống tài chính - ngân hàng. Trước yêu cầu hội
nhập quốc tế và xu thế tự do hoá tài chính trên toàn thế giới, hoạt động tài trợ
thương mại quốc tế đã và đang phát triển với một tốc độ rất nhanh và do vậy Chính
phủ Việt Nam cũng như hệ thống ngân hàng thương mại đang đặt quyết tâm cao về

cao hiệu quả hoạt động. Tóm lại, cần khẳng định rằng, giữa các nghiệp vụ tài trợ
thương mại quốc tế có tính liên thông và có sự gắn kết chặt chẽ với các hoạt động
của ngân hàng. Nguồn tài trợ cho các doanh nghiệp lớn sẽ tạo điều kiện mở rộng
quy mô hoạt động và nâng caco khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Do vậy, các
ngân hàng cần chú ý tới huy động nguồn ngoại tệ tiết kiệm từ dân cư, thúc đẩy hoạt
động tài trợ xuất khẩu, song chính việc phát triển chuyên môn hoá và đa dạng hoá
các hoạt động tài trợ cũng như uy tín trên thị trường quốc tế là tiền đề để tăng thị
phần hoạt động, từ đó tăng quy mô nguồn vốn. Đến nay, có thể nhìn thấy nỗ lực to
lớn của các ngân hàng trong việc liên kết hoạt động với các ngân hàng nước ngoài,
các sàn giao dịch ngoại tệ, các trung tâm thanh toán thế giới ngày càng mạnh mẽ để
đáp ứng nhanh nhất và tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Chính vì vậy, mà cuộc
cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trong việc cung cấp tài trợ thương mại
quốc tế cũng hết sức gay cấn và quyết liệt.


12
- Đối với nền kinh tế quốc dân
Các quốc gia ngày nay đang phải đối đầu với hai xu hướng phát triển nổi bật, đó là
toàn cầu hoá kinh tế thế giới và cách mạng khoa học kỹ thuật. Để giữ được vị thế
cũng như bành chướng vị trí của mình trên thị trường quốc tế, đòi hỏi các quốc gia
phải tích cực hoà nhập và tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực, thế giới cũng
như đưa khoa học kỹ thuật và công nghệ vào nền kinh tế sản xuất thương mại. Các
quốc gia không phân biệt giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển đều đã và đang
tích cực tìm kiếm các nguồn lực tài chính, công nghệ để gia tăng nội lực của mình.
Thực tế, sau lịch sử phát triển kinh tế lâu dài, sự tích luỹ tài sản và ngoại hối của các
quốc gia có sự khác biệt rõ rệt. Có những quốc gia đạt được cán cân thanh toán
vãng lai dư thừa trong nhiều năm dẫn tới nguồn dự trữ ngoại hối trong tay họ vô
cùng lớn, ngược lại cũng có những quốc gia nợ đến hàng nghìn tỉ đô. Tuy nhiên,
một điều tất yếu là, chính các quốc gia này lại là nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú đa dạng chưa được khai thác, nguồn nhân lực giá rẻ dồi dào và cũng

Tài trợ thương mại quốc tế còn giúp đẩy mạnh chuyên môn hoá hiệu quả, tạo nên sự
khác biệt so sánh rõ rệt giữa các quốc gia từ đó tăng nhu cầu hoạt động thương mại
quốc tế. Như vậy, tài trợ thương mại quốc tế giúp mỗi quốc gia khắc sâu lợi thế
cạnh tranh của mình, củng cố vị thế so sánh về nguồn lực và từ đó kết nói các quốc
gia tìm đến trao đổi giao thương với nhau trong thị trường chung là thương mại thế
giới. Tóm lại, tài trợ thương mại tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, tăng
hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế đất nước. Thông
qua tài trợ thương mại, doanh nghiệp có điều kiện thay đổi dây chuyền công nghệ
máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của doanh nghiệp nói
riêng đã tác động sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
1.1.4 Phân loại tài trợ thương mại quốc tế
Hệ thống phân loại tài trợ thương mại quốc tế được xây dựng dựa trên ba căn cứ rõ
ràng, đó là dựa vào đối tượng cung ứng tài trợ, dựa vào phương thức tài trợ và dựa
vào phương tiện tài trợ.
1.1.4.1 Căn cứ vào đối tượng cung ứng tài trợ
Căn cứ vào đối tượng cung ứng tài trợ, ta có 4 loại hình tài trợ thương mại quốc tế
của bốn chủ thể tham gia, bao gồm: Chính phủ, Ngân hàng Trung ương, các trung
gian tài chính và các tổ chức phi tài chính.
Tài trợ thương mại quốc tế của Chính phủ
Tại mỗi quốc gia, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành
chính cao nhất của Nhà nước. Chính phủ có nhiệm vụ thực hiện việc quản lý, điều


14
hành và giám sát mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Do đó Chính phủ
là người đặt ra và ban hành tất cả các chủ trương, đường lối, kế hoạch, yêu cầu và
chính sách phát triển mọi lĩnh vực, trong đó bao hàm cả kinh tế. Chính phủ là người
nắm trong tay mình các nguồn tài chính khổng lồ từ nguồn thu của ngân sách, tài trợ
từ nước ngoài, các tổ chức quốc tế và các nguồn thu nhập khác của chính phủ tại
nước ngoài. Như vậy chính phủ trở thành người nợ cuối cùng của nền kinh tế quốc

vay tái cấp vốn, tái chiết khấu, bảo lãnh nhà nước, hoặc bằng cách chỉ đạo các tổ
chức này thực hiện các chính sách tài chính và tín dụng của chính phủ hoặc của
riêng các tổ chức đó dựa trên quy định của chính phủ, như chính sách tỉ giá, chính
sách chiết khấu, chính sách lãi suất, chính sách phá giá hoặc nâng giá tiền tệ,.. nhằm
tạo điều kiện thuận lợi về tài chính và mở ra các cơ hội kinh doanh có lợi cho doanh
nghiệp khi tham gia thương mại quốc tế.
Tài trợ thương mại quốc tế của các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính là những tổ chức tài chính trung gian chuyên hoạt động
kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Hoạt động chủ yếu và thường xuyên
của các tổ chức này là thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính - tiền tệ mà thu
hút, tập hợp các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi cung ứng cho những nơi
có nhu cầu vốn.
Với chức năng hoạt động như vậy, các tổ chức tài chính trung gian đóng vai trò như
một trung gian, cầu nối giữa những người có vốn và những người cần vốn, giúp cho
việc luân chuyển vốn được thuận lợi hơn. Hoạt động huy động và cho vay vốn của
các tổ chức tài chính trung gian có thể diễn ra trực tiếp với các chủ thể kinh tế hoặc
thông qua thị trường tài chính. Lợi nhuận của các tổ chức tài chính trung gian dưới
dạng khoản chênh lệch giữa lãi suất cho vay và đi vay và các khoản phí từ cung cấp
dịch vụ tài chính - tiền tệ.
Dựa trên giác độ huy động vốn ngắn hạn và không kì hạn từ nền kinh tế kế quốc
dân, người viết chia các trung gian tài chính thành hai nhóm để nghiên cứu đó là tổ
chức tín dụng và tổ chức tài chính khác. Nguồn vốn từ cả hai nhóm này đều phụ
thuộc lớn vào tình hình phát triển kinh tế quốc gia, nền kinh tế càng phát triển thì
nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi từ các nguồn quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ
lương, quỹ tái sản xuất mở rộng, quỹ dự phòng, thưởng, quỹ bảo hiểm xã hội càng
lớn hoặc ngược lại. Có thể nhận thấy rằng, vốn ngắn hạn và không kì hạn chiếm
phần lớn trong tổng vốn huy động tập trung trong tay các trung gian tài chính, hơn
nữa nguồn tài trợ này mang đặc trưng là năng động và nhạy cảm với sự biến động đi
lên, đi xuống hoặc khủng hoảng xảy ra trong nền kinh tế quốc dân, do đó khi đề cập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status