Phân tích sự thay đổi của thuế quan Việt Nam đối với hàng ô tô nhập khẩu và thách thức với ngành ô tô trong nước (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
------------o0o------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI CỦA THUẾ QUAN
VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNG Ô TÔ NHẬP KHẨU VÀ THÁCH THỨC VỚI
NGÀNH Ô TÔ TRONG NƯỚC

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế

ĐÀO THU BÍCH

Hà nội, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
------------o0o------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI CỦA THUẾ QUAN
VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNG Ô TÔ NHẬP KHẨU VÀ THÁCH THỨC VỚI
NGÀNH Ô TÔ TRONG NƯỚC

Ngành: Kinh Tế
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 60310106


2.1. Thực trạng thuế quan đối với hàng ô tô nhập khẩu ở Việt Nam......................................20
2.1.1 Thực trạng thuế nhập khẩu ô tô ở Việt Nam...............................................................................20

Bảng 2.1: Tổng hợp thay đổi thuế nhập khẩu với ô tô từ trong giai đoạn từ năm 20062016.............................................................................................................................21
Bảng 2.2: Các cam kết về cắt giảm thuế trong WTO đối với mặt hàng ô tô nguyên chiếc
và phụ tùng ô tô nhập khẩu..........................................................................................22
Bảng 2.3: Các loại thuế ảnh hưởng đến ô tô.................................................................23
Bảng 2.4: Tỉ lệ xe nhập khẩu năm 2016.........................................................................26


2.1.2 Thực trạng thuế tiêu thụ đặc biệt với hàng ô tô nhập khẩu ở Việt Nam......................................26
2.1.3. Thực trạng thuế giá trị gia tăng với hàng ô tô nhập khẩu ở Việt Nam.........................................28

2.2. Thị trường ô tô Việt Nam.................................................................................................28
2.2.1. Tổng cầu và lượng ô tô tiêu thụ................................................................................................. 28

Bảng 2.5: Doanh số bán hàng các thành viên tháng 1 VAMA........................................29
2.2.2. Nguồn cung cấp trong nước và nhập khẩu.................................................................................29

Bảng 2.6: Cơ cấu nguồn cung cấp sản phẩm ô tô tại Việt Nam......................................30
2.3. Kiểm định mô hình ảnh hưởng của thuế quan đến lượng tiêu thụ ô tô ở Việt Nam........31

Bảng 2.7: Tổng hợp lượng tiêu thụ ô tô tại Việt Nam giai đoạn 2006-2016...................32
2.3.2. Phân tích mô hình..................................................................................................................... 33
2.3.3. Kiểm định mô hình.................................................................................................................... 33
2.3.4. Kết luận..................................................................................................................................... 37

2.4. Phân tích khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.............................37
2.5. Tác động của thuế quan đối với hàng ô tô nhập khẩu và thách thức với ngành ô tô trong
nước.......................................................................................................................................38

Trang
Tổng hợp thay đổi thuế nhập khẩu với ô tô từ trong giai đoạn từ
21

Bảng 2.2

năm 2006-2016
Các cam kết về cắt giảm thuế trong WTO đối với mặt hàng ô tô

22

Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7

nguyên chiếc và phụ tùng ô tô nhập khẩu
Các loại thuế ảnh hưởng đến ô tô
Tỉ lệ xe nhập khẩu năm 2016
Doanh số bán hàng các thành viên tháng 1 VAMA
Cơ cấu nguồn cung cấp sản phẩm ô tô tại Việt Nam
Tổng hợp lượng tiêu thụ ô tô tại Việt Nam giai đoạn 2006-2016

23
26
29
30
32


người tiêu dùng rất ưa chuộng các loại ôtô nhập khẩu từ phân khúc xe cao cấp như
Rolls- Royce, Audi cho đến phân khúc xe bình dân như Kia Morning, Toyota,...
Song, điều này gây nhiều khó khăn cho ngành công nghiệp sản xuất ôtô còn đang
non trẻ của Việt Nam. Để có thể bảo hộ ngành sản xuất ôtô còn non trẻ cũng như
điều tiết thị trường, một trong những công cụ hữu hiệu là thuế nhập khẩu.
….Nhưng, sự xâm nhập rất mạnh mẽ của các dòng xe ô tô nhập khẩu đã khiến cho
các dòng xe xe láp ráp và sản xuất trong nước nằm ở vị trí yếu hơn. Để điều tiết thị
trường nhằm thực hiện mục tiêu dài hạn cũng như để bảo hộ nền sản xuất ô tô còn
non trẻ, để tiếp tục hỗ trợ việc phát triển ngành công nghiêp ô tô phù hợp với chiến
lược, quy hoạch phát triển ngành công nghiêp ô tô Việt Nam đến năm 2025 và tầm
nhìn đến năm 2035, trong thời gian qua Nhà nước đã sử dụng đến công cụ thuế
quan để có thể điều tiết thị trường và bảo hộ nền sản xuất ôtô còn non trẻ, cũng như
thực hiện những mục tiêu dài hạn. Hiện tại, vấn đề được dư luận hết sức quan tâm là
chính sách thuế nhập khẩu ô tô được áp dụng bởi chính sách thuế này có tác động to
lớn đến thị trường ô tô, người tiêu dùng, các doanh nghiệp nhập khẩu và sản xuất
lắp ráp ô tô trong nước cũng như ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam.
Chính phủ luôn luôn khẳng định nhiệm vụ quan trọng và chủ chốt của ngành
công nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô đối với sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước và
luôn luôn tạo điều kiện thuận lợi bằng việc đưa ra nhiều chính sách ưu đãi để hỗ trợ
các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào ngành sản xuất lắp ráp ô tô. Song,
sau hơn 20 năm thiết lập và phát triển, ngành công nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô của
Việt Nam vẫn chưa có được vị trí đứng vững chắc. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng
phải thực hiện việc mở cửa thị trường ô tô theo như cam kết khi gia nhập và trở
thành một thành viên của tổ chức WTO, khi đó các công ty sản xuất lắp ráp ô tô
trong nước lại phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ các hãng ô tô nước ngoài.

1


Vì vậy việc nghiên cứu một cách tổng thể về sự tác động của chính sách thuế


2


luận văn của mình, tôi muốn nghiên cứu theo nghĩa rộng của thuế quan đối với hàng
ô tô nhập khẩu.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn:
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm lí luận về thuế quan và thuế quan đối với hàng
ô tô nhập khẩu
- Phân tích chính sách quan với hàng ô tô nhập khẩu của Việt Nam và đánh
giá tác động của chính sách thuế quan đối với hàng ô tô nhập khẩu và thách thức
với ngành ô tô trong nước
- Đưa ra giải pháp hoàn thiện thuế quan nhằm thúc đẩy sự phát triển của
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng : Chính sách thuế quan đối với ô tô nhập khẩu của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu phân tích tác động của thuế quan đối với ô
tô nhập khẩu ở Việt Nam
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích: Để hệ thống hóa các dữ liệu nhằm minh họa những
nội dung chủ yếu của đề tài, phân tích số liệu thống kê từ nhiều nguồn để rút ra các
nhận xét, đánh giá mang tính khái quát cao làm nổi bật các nội dung chính của luận
văn
Phương pháp tổng hợp: Từ các số liệu so sánh, thống kê, phân tích sẽ được
tổng hợp lại làm cho vấn đề được sáng tỏ rõ ràng nhất
Phương pháp định lượng: Sử dụng mô hình kinh tế lượng để đưa ra mối quan
hệ tương quan giữa các biến cần nghiên cứu
6. Nội dung nghiên cứu
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, kết cấu của khóa luận chia làm 3 chương:

lượng giữa các quốc gia. Có hai biểu thuế quan là biểu thuế quan đơn và biểu thuế
quan kép. Biểu thuế quan đơn là biểu thuế quan trong đó chỉ quy định một mức thuế
quan cho mỗi loại hàng hóa. Hiện nay, hầu hết các nước không còn áp dụng biểu
thuế quan này. Biểu thuế quan kép là biểu thuế quan trong đó mỗi loại hàng hóa quy
định từ hai mức thuế trở lên. Những loại hàng hóa có xuất xứ khác nhau sẽ chịu
những mức thuế khác nhau.
Thuế quan có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, theo phương
pháp tính thuế, thuế quan được chia thành thuế quan đặc định, thuế suất theo giá trị
1

Khoa Kiểm tra giám sát & Thuế Hải quan, Sách Giáo trình Thuế & Chính sách thuế hàng hoá xuất nhập khẩu, Biên
soạn Nguyễn Thành Nam, Trường Cao Đẳng Hải quan, tr.1.

4


và thuế suất hỗn hợp. Thuế suất đặc định là thuế tính trên một đơn vị hiện vật của
hàng hóa, ví dụ thuế tính trên 1 tấn, 1 chiếc... Thuế trị giá là thuế đánh vào giá trị
hàng hóa và được tính theo tỷ lệ phần trăm của giá trị hàng hóa đó. Thuế quan hỗn
hợp là sự kết hợp giữa thuế đặc trưng và thuế suất theo giá trị. Theo mục đích đánh
thuế, thuế quan được phân chia thành thuế quan tài chính và thuế quan bảo hộ. Thuế
quan tài chính là thuế quan nhằm vào mục tiêu tăng thu cho ngân sách quốc gia.
Thuế quan bảo hộ là thuế quan nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, làm
giảm sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Theo mức thuế, thuế quan được chia ra
mức thuế tối đa, mức thuế tối thiểu và mức thuế ưu đãi. Mức thuế tối đa được áp
dụng cho những hàng hóa có xuất xứ từ các nước chưa có quan hệ thương mại bình
thường. Mức thuế tối thiểu được áp dụng cho những hàng hóa có xuất xứ từ các
nước có quan hệ bình thường. Mức thuế ưu đãi được áp dụng cho hàng hóa xuất xứ
từ các nước có thỏa thuận hợp tác.
* Hàng rào thuế quan: là những biện pháp kinh tế và quản lí kinh tế mà

khẩu của một quốc gia. Thuế quan có thể có những ảnh hưởng tiêu cực. Thuế quan
cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa và do đó làm giảm lượng
hàng hóa được tiêu thụ. Thuế quan cao cũng sẽ kích thích tệ nạn buôn lậu. Thuế
quan càng cao, buôn lậu càng phát triển. Thuế xuất khẩu làm tăng giá hàng hóa trên
thị trường quốc tế và giữ giá thấp hơn ở thị trường nội địa. Điều đó có thể làm giảm
lượng khách hàng ở nước ngoài do họ sẽ cố gắng tìm kiếm các sản phẩm thay thế.
Đồng thời nó cũng không khích lệ các nhà sản xuất trong nước áp dụng tiến bộ khoa
học, kỹ thuật và công nghệ để tăng năng xuất, chất lượng và giảm giá thành. Tuy
nhiên, nếu khả năng thay thế thấp, thuế quan xuất khẩu sẽ không làm giảm nhiều
khối lượng hàng hóa xuất khẩu và vẫn mang lại lợi ích đáng kể cho nước xuất khẩu.
Thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ thị trường nội địa, đặc biệt
là bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ. Thuế quan nhập khẩu sẽ làm tăng giá hàng
hóa, do vậy sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong nước. Tuy nhiên, điều đó cũng
sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước. Thuế nhập khẩu
có thể giúp cải thiện thương mại của nước đánh thuế. Có thể có nhiều sản phẩm mà
giá của chúng không tăng đáng kể khi bị đánh thuế. Đối với loại hàng hóa này thuế
quan có thể khuyến khích nhà sản xuất ở nước ngoài giảm giá. Khi đó lợi nhuận sẽ
được chuyển dịch một phần cho nước nhập khẩu. Tuy nhiên, để đạt được hiệu ứng
đó, nước nhập khẩu phải là nước có khả năng chi phối đáng kể đối với cầu thế giới
của hàng hóa nhập khẩu2
2

Khoa Kiểm tra giám sát & Thuế Hải quan, Sách Giáo trình Thuế & Chính sách thuế hàng hoá xuất nhập khẩu, Biên
soạn Nguyễn Thành Nam, Trường Cao Đẳng Hải quan, tr.6.

6


1.2. Thuế quan đối với ô tô nhập khẩu
1.2.1. Khái quát chung về thuế nhập khẩu

4

“Chính sách Kinh tế xã hội”, Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội,
tr.210
5
Tổng cục Hải quan, Tài liệu tham khảo nội bộ, Bài giảng Chính sách Thuế xuất nhập khẩu, tr.2
6
Tổng cục Hải quan, Tài liệu tham khảo nội bộ, Bài giảng Chính sách Thuế xuất nhập khẩu, tr.3-4.

7


cần có sự bảo hộ của Nhà nước thì cần phải xây dựng mức thuế bảo hộ để giảm bớt
sự cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu.
- Loại để trừng phạt: Loại thuế này thường được sử dụng để trả đũa lại
những hành vi phân biệt đối xử của một quốc gia này đối với hàng hoá của một
quốc gia khác.
Ví dụ, Mỹ áp dụng mức thuế NK đối với hàng may mặc của Trung Quốc
xuất khẩu sang Mỹ cao hơn mức thuế thông thường đang áp dụng với các nước
khác. Để trả đũa lại hành vi phân biệt đối xử này, Trung Quốc đã áp dụng mức thuế
nhập khẩu đối với ô tô của Mỹ xuất khẩu sang Trung Quốc cao hơn mức thuế thông
thường đang áp dụng với các nước khác.
Thứ hai, Nếu căn cứ vào phạm vi tác dụng của thuế nhập khẩu, có thể chia
thuế NK thành 2 loại:
- Thuế NK tự quản: là loại thuế thể hiện tính độc lập của một quốc gia, loại
thuế này không phụ thuộc vào bất kỳ một Hiệp định song phương hoặc đa phương
nào đã ký kết, nó được quy định tuỳ ý theo mục tiêu của mỗi quốc gia.
- Thuế NK theo các cam kết quốc tế: là loại thuế thực hiện theo các cam kết
trong các Hiệp định song phương hoặc đa phương đã ký kết. Ví dụ phân loại thuế
NK thành thuế NK ưu đãi, ưu đãi đặc biệt, thông thường tuỳ theo quan hệ thương

Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo
thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương
mại- công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá giữa khu này với bên
ngoài là quan hệ NK.
+ Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
của doanh nghiệp thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân phối.
Đối tượng chịu thuế nhập khẩu không áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển;
b) Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại;
c) Hàng hóa xuất khẩu từ khu phi thuế quan ra nước ngoài; hàng hóa nhập
khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan;
hàng hóa chuyển từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác;
d) Phần dầu khí được dùng để trả thuế tài nguyên cho Nhà nước khi xuất
khẩu.

7

Khoa Khoa học quản lý, “Chính sách Kinh tế xã hội”, Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Nhà xuất bản khoa học và kỹ
thuật, Hà Nội, tr.211
8

Đoạn này được tổng hợp từ Luật Thuế xuất nhập khẩu 107/2016/QH13; Thông tư 38/2015/TT-BTC

9


Với mặt hàng ô tô nói riêng, đối tượng chịu thuế nhập khẩu ô tô là: ô tô
nguyên chiếc chưa qua sử dụng và đã qua sử dụng, phụ tùng linh kiện bộ CKD,
IKD nhập khẩu vào Việt Nam.

+ Người có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế
nhưng sau đó có sự thay đổi và chuyển sang đối tượng chịu thuế theo quy định của
pháp luật.
* Đồng tiền nộp thuế:
Thuế NK được nộp bằng đồng Việt Nam. Trường hợp nộp thuế bằng ngoại
tệ thì đối tượng nộp thuế phải nộp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Việc quy đổi từ
ngoại tệ ra đồng Việt Nam được tính theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường
ngoại tệ kiên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
tính thuế.
* Phương pháp tính thuế:

Có rất nhiều phương pháp tính thuế nhập khẩu, tuy nhiên thuế nhập
khẩu ô tô của Việt Nam chỉ áp dụng 2 phương pháp: Thuế tính theo giá (thuế
tương đối) áp dụng với ô tô nguyên chiếc chưa qua sử dụng và linh kiện phụ
tùng ô tô; thuế tuyệt đối áp dụng với ô tô đã qua sử dụng.
Đối với hàng hoá áp dụng thuế tính theo giá: Căn cứ số lượng từng mặt
hàng thực tế NK ghi trong tờ khai hải quan, trị giá tính thuế và thuế suất từng mặt
hàng để xác định số thuế phải nộp theo công thức sau:
Số lượng đơn vị từng
Số thuế thuế
NK phải nộp

=

mặt hàng thực tế NK
ghi trong tờ khai Hải

Trị giá tính thuế
x


Số lượng đơn vị từng mặt
=

hàng thực tế NK ghi trong
tờ khai Hải quan

Mức thuế tuyệt đối
x

quy định trên một
đơn vị hàng hoá

*Thời điểm tính thuế:
Thời điểm tính thuế NK là thời điểm đối tượng nộp thuế đăng ký tờ khai hải
quan với cơ quan hải quan.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được tính theo thuế suất, giá tính thuế và tỷ
giá dùng để tính thuế theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố
tại thời điểm tính thuế.
Thời điểm tính thuế nhập khẩu ô tô là thời điểm đối tượng nộp thuế đăng ký
tờ khai hải quan với cơ quan Hải quan.
Thuế nhập khẩu ô tô được tính theo thuế suất, giá tính thuế và tỷ giá tính
thuế tại thời điểm tính thuế.
* Thời hạn nộp thuế : Phân loại tuỳ theo hàng hoá XK hay NK (NK hàng
tiêu dùng hay hàng hoá khác…)
Đối với hàng hoá NK là hàng tiêu dùng thì phải nộp xong thuế trước khi
nhận hàng:
Trường hợp có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì thời hạn nộp thuế là thời
hạn bảo lãnh, nhưng không quá ba mươi ngày kể từ ngày đối tượng nộp thuế đăng
ký tờ khai hải quan. Hết thời hạn bảo lãnh mà đối tượng nộp thuế chưa nộp thuế
xong thì tổ chức bảo lãnh có trách nhiệm nộp số tiền thuế và tiền phạt chậm nộp

gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,dịch vụ phát sinh ở từng
khâu từ sản xuất,lưu thông đến tiêu dùng.
Như khái niệm vừa nêu,thuế giá trị gia tăng là yếu tố cấu thành giá bán sản
phẩm hàng hoá,dịch vụ.Do đó,mặc dù đối tượng nộp thuế là các nhà sản xuất kinh
doanh nhưng chính người tiêu dùng phải gánh chịu gánh nặng của thuế này thông
qua việc trả tiền hàng hoá,dịch vụ.
Ưu điểm của thuế giá trị gia tăng là tránh trường hợp thuế trùng lên thuế như
thuế doanh thu trước đây.Điều này có ý nghĩa rất quan trọng.Nó sẽ tạo điều kiện
khuyến khích hoạt động xuất khẩu,thúc đẩy sản xuất kinh doanh,kích thích cạnh
tranh,tạo ra sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp không phân biệt doanh nghiệp
đó ở khâu đầu,khâu giữa,khâu cuối của quá trình kinh doanh.

9

“Thuế và hệ thống thuế Việt Nam”, Bùi Xuân Lưu, Trường đại học Ngoại thương.

13


Thuế giá trị gia tăng đánh vào giá trị tăng thêm của sản phẩm dịch vụ tại mỗi
công đoạn sản xuất và lưu thông nên loại thuế này có thể được vận dụng trong
nhiều ngành nghề và nhiều lĩnh vực,do đó,tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước
trong việc hoạch định các biện pháp và chính sách thuế,đồng thời,thúc đẩy mọi
người chấp hành tốt hơn nghĩa vụ nộp thuế.Bởi một lẽ đương nhiên,khi gánh nặng
thuế càng được san sẻ cho nhiều người,nhiều ngành,nhiều khâu thì người nộp
thuế,người chịu thuế sẽ có ấn tượng tốt rằng sự công bằng đã được thực hiện dù chỉ
là tương đối,còn về phía Nhà nước,có thể giảm thuế suất mà không làm ảnh hưởng
đến việc huy động nguồn thu và hạn chế đến mức thấp nhất việc trốn thuế.
Một ưu điểm nữa của thuế giá trị gia tăng mà thuế doanh thu không thể có đó
là sự tự cưỡng chế nộp thuế qua các công đoạn.Thuế giá trị gia tăng do người tiêu

nghiệp hạn chế nhập khẩu, lượng nhập khẩu giảm nên thuế giá trị gia tăng có tác
dụng bảo hộ sản xuất trong nước,kinh doanh hàng nội địa.
Thuế giá trị gia tăng làm tăng giá thành, do vậy đòi hỏi các doanh nghiệp
càng sớm nội địa hoá sản phẩm,chuyên môn hoá càng cao càng có điều kiện thích
nghi với thị trường.
1.2.3. Khái quát chung về thuế tiêu thụ đặc biệt
1.2.3.1. Khái niệm về thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu đánh vào một số hàng
hoá,dịch vụ chưa thật cần thiết đối với nhu cầu thiết yếu của nhân dân,hoặc cần tiết
kiệm,hướng dẫn tiêu dùng một cách hợp lý.
Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào một số mặt hàng chưa thật cần thiết đến đời
sống,mặt hàng xa xỉ nhằm góp phần điều tiết hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng các
sản phẩm này,tạo nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước.Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
còn thể hiện chính sách xã hội khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ thông qua
qui định miễn giảm thuế.
1.2.3.2. Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt đến mặt hàng ô tô nhập khẩu
Số thuế tiêu thụ đặc biệt được tính bằng công thức:
Thuế TTĐB phải nộp = Số lượng hàng hoá nhập khẩu x Giá tính thuế đơn vị
x Thuế suất (%).
Trong đó:
Số lượng hàng hoá nhập khẩu là số lượng hay trọng lượng hàng hoá nhập
khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam theo giấy phép nhập khẩu và tờ khai hàng
nhập khẩu có thanh khoản của Hải quan.

15


Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của mặt hàng nhập khẩu thuộc diện chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt được xác định bằng:
Giá tính thuế TTĐB = Giá tính thuế NK +thuế nhập khẩu


Ngay từ khi mới thành lập, Trung Quốc luôn coi trọng việc phát triển ngành
công nghiệp ô tô của nước nhà. Trước năm 1950, chính quyền Bắc Kinh chủ trương
tạo điều kiện bảo hộ và ưu ái tối đa cho ngành công nghiệp ô tô. Tuy nhiên, kết quả
không như mong đợi khi tổng doanh thu năm của các doanh nghiệp sản xuất ô tô
Trung Quốc cộng lại không bằng doanh số bán ra nước ngoài của một hang xe nhỏ
của Nhật, Mỹ hay Đức trong điều kiện chi phí bảo hộ tốn kém.
Từ năm 1980, Trung Quốc áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài để
thu hút các hang xe lớn như Toyota, GM, Ford, Fiat, Volkswagen,v.v…. Sự xuất
hiện của các hang xe này tạo ra một cuộc cách mạng cho ô tô trong nước Trung
Quốc: đa dạng mẫu mã, chủng loại, trái ngược hoàn toàn với thị trường ô tô ảm đạm
trước đó.
Việc cải tổ mạnh mẽ nhất của Trung Quốc thực hiện sau khi Trung Quốc
chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Với việc cam kết thuế nhập
khẩu ô tô nguyên chiếc giảm từ 80-100% xuống còn 10-25% theo lộ trình đến năm
2006, cùng với việc thay đổi cơ chế quản lý nhập khẩu ô tô bằng hạn ngạch sang cơ
chế cấp giấy phép nhập khẩu tự động đã làm cho việc nhập khẩu ô tô dễ dàng hơn.
Ngoài ra thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc của Trung Quốc được giữ đúng bằng
thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô.
Như chúng ta nhận ra, hiện nay chính sách thuế quan của Trung Quốc khá
đối lập với chính sách thuế quan của Việt Nam. Ở nước ta, thuế suất dành cho linh
kiện, phụ tùng ô tô nhập khẩu luôn được hưởng ưu đãi thì ở Trung Quốc, một mức
thuế suất ngang nhau được áp dụng cho cả 2 mặt hàng: ô tô và linh kiện, phụ tùng ô
tô. Điều đó gây khó khăn cho các nhà sản xuất linh kiện trên toàn thế giới trong việc
đưa sản phẩm của mình vào thị trường Trung Quốc, bởi vậy các nhà sản xuất linh
phụ kiện phải chuyển giao toàn bộ công nghệ để sản xuất tại chính Trung Quốc
Hơn nữa, một nhân tố tạo ra sự phát triển đột phá như hiện nay nhờ vào sự
hoạch định chiến lược rõ rang của các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc, những người
biết bắt tay cùng phát triển để nhìn lợi ích dàu lâu. Họ nhận ra ô tô là phương tiện
thường phải thay thế nên giá bán là nhân tố hàng đầu, quyết định sức mua, đặc biệt

công nghiệp ô tô phù hợp với yêu cầu của các tổ chức Asean, WTO như: cung cấp
các chương trình đào tạo kỹ sư, tăng học bồng cho sinh viên khối kỹ thuật, tài trợ
tiền nghiên cứu cho các trung tâm hỗ trợ xuất khẩu linh phụ triện. Như vậy thành
công của ngành công nghiệp ô tô Thái Lan như hiện nay nhờ vào hệ thống chính
sách phù hợp, hỗ trợ hợp lý đúng thời điểm.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status