LỜI MỞ ĐẦU
Muốn phát triển thì phải hội nhập. Đây là xu thế tất yếu và mang tính toàn
cầu. Không một quốc gia nào có thể đứng ngoài xu thế này và Việt Nam cũng vậy.
Việc hội nhập, mà đặc biệt là hội nhập về kinh tế với các quốc gia trong khu vực và
trên thế giới. Hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội lớn nhưng cũng mang đến nhiều thách
thức.
Vì thế, để tham gia sân chơi thương mại đầy tính cạnh tranh với các quốc gia
khác, Việt Nam cần phải xây dựng, hoàn thiện và củng cố hệ thống pháp luật, đặc
biệt là pháp luật điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế. Bởi, cơ sở pháp
lý của hợp đồng thương mại được ký kết và thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam là toàn
bộ hệ thống pháp luật Việt Nam. Nhưng, hợp đồng thương mại quốc tế lại có phạm
vi rộng hơn và thường tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, mà đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế,
không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi. Vì nhiều lý do khác nhau, các bên có thể
làm phát sinh tranh chấp. Vậy khi đó, pháp luật về lĩnh vực này sẽ điều chỉnh như
thế nào?
Góp phần trả lời cho các vấn đề trên, nhóm 2 đã thực hiện đề tài thảo luận về
tranh chấp và hướng giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế. Bài thảo luận của nhóm có kết cấu như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chương 2. Một số tình huống về tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế và hướng giải quyết tranh chấp
Chương 3. Một số kiến nghị về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế đối với pháp luật Việt Nam
Kết luận
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1. Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Các đặc điểm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là: chủ thể của hợp
đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các bên, người bán và người mua, có trụ sở
thương mại đặt ở các nước khác nhau; Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế là động sản, tức là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước;
Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyển
giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau;
Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong các bên; Luật điều chỉnh
quan hệ hợp đồng là luật quốc gia, các điều ước quốc tế, các tập quán quốc tế về
thương mại và hàng hải và ở một số nước áp dụng tiền lệ pháp (án lệ).
Như vậy, tranh chấp thương mại phải hội tụ đủ các yếu tố sau:
+ Tranh chấp thương mại quốc tế trước hết phải là những mâu thuẫn (bất đồng)
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể.
+ Những mâu thuẫn (bất đồng) đó phát sinh từ hoạt động thương mại.
+ Những mâu thuẫn đó phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân.
b) Đặc điểm của tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Một là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thương mại;
Hai là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp mà chủ thể chủ
yếu là các thương nhân hoặc ít nhất một bên là thương nhân;
Ba là: Tranh chấp phát sinh trong HĐMBHHQT là tranh chấp có quan hệ hợp
đồng thương mại tồn tại giữa các bên tranh chấp;
Bốn là: Có yếu tố tài sản, gắn liền với lợi ích của các bên và phát sinh tranh
chấp trực tiếp từ quan hệ hợp đồng
Năm là: Có yếu tố vi phạm nghĩa vụ của một bên làm ảnh hưởng tới quyền và
lợi ích của bên kia
Sáu là: Có sự bất đồng quan điểm của accs bên về sự vi phạm hoặc việc xử lý
hậu quả phát sinh từ sự vi phạm
Bảy là: Các bên tranh chấp có quyền tự định đoạt và giải quyết thưo nguyên tắc
đã tự do lựa chọn trọng tài giải quyết từ trước đó.
+ Tính độc lập của tố tụng Trọng tài. Là một tổ chức phi chính phủ, trọng tài
không có tổ chức đa cấp nên trọng tài độc lập trong xét xử, không chịu sự chi phối
bởi yếu tố chính trị, không chịu sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nào mà chỉ chịu sự
giám sát của tòa án về một số mặt về tố tụng nên bảo đảm tính khách quan trung lập
trong quá trình giải quyết tranh chấp.
+ Tính chuyên môn của trọng tài viên. Dánh sách trọng tài viên của trung tâm
trọng tài thương mại thường bao gồm các chuyên gai có trình độ chuyên môn cao,
uy tín, kinh nghiệm được lựa chọn theo các tiêu chí chặt chẽ do trung tâm trọng tài
đưa ra.
+ Tính nhanh chóng, tiết kiệm thời gian. Tố tụng trọng tài nhanh hơn tố tụng Tòa
án vì trọng tài cho phép các bên tự thỏa thuận về nhiều hoặc tất cả về thủ tục. Tố
tụng trọng tài mang tính chất linh hoạt, nhanh chóng hơn tố tụng Tòa án (Tòa án xét
xử theo hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm).
- Các hình thức trọng tài:
+ Trọng tài vụ việc (Ad-hoc): do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải
quyết tranh chấp cụ thể giữa các bên có tranh chấp phát sinh và khi giải quyết xong
tranh chấp đó thì chấm dứt sự tồn tại.
+ Trọng tài thường trực: thường được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau
như các trung tâm Trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài nhưng phổ
biến được thể hiện dưới hình thức trung tâm trọng tài. Trọng tài thường trực đều thể
hiện phổ biến dưới dạng trọng tài phi chính phủ và tổ chức xã hội nghề nghiệp;
không nằm trong hệ thống bộ máy nhà nước nhưung vẫn có ngoại lệ mang sắc thái
riêng trong pháp luật trọng tài của một số nước..
- Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:
+ Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài
+ Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan
+ Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật
+ Incoterms 2010 do phòng thương mại quốc tế - ICC ban hành, quy định về các
điều kiện thương mại quốc tế;
+ Quy tắc chung về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ (UCP 500);
d) Án lệ
Tùy theo hệ thống pháp luật của mình, ở một số nước áp dụng án lệ điều chỉnh
quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Chương 2. Một số tình huống về tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế và hướng giải quyết tranh chấp
1. Tình huống 1
a) Nội dung tình huống
Các bên
Nguyên đơn: bên mua Việt Nam
Bị đơn: bên bán Singapore
Các vấn đề được đề cập
-
Việc vi phạm hợp đồng của bị đơn
-
Trường hợp bất khả kháng
-
Việc nguyên đơn từ chối hợp đồng
-
Trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng bên bán có trách nhiệm thông
báo cho bên mua ngay sau khi sự kiện xảy ra
-
Sự biến động của tiền tệ cũng như sự tăng giá sẽ không được coi là bất khả
kháng.
Sau khi hợp đồng được ký kết, bảo đảm thực hiện hợp đồng bị đơn gửi tới
nguyên đơn ngày 22/11/2009. Tương ứng theo đó, chuyến hàng cuối cùng phải được
giao muộn nhất là ngày 22/3/2010. Ngày 26/11/2009, hai thư tín dụng có thời hạn
tới ngày 22/2/2010, cho một lô gỗ dán và cho một lô gỗ khối mà người thụ hưởng là
bị đơn, đã được xác nhận. Về phần mình, nguyên đơn cũng đã ký hợp đồng bảo
hiểm cho hàng hóa và chỉ định công ty giám định để kiểm tra chất lượng hàng hóa
được giao.
Ngày 14/12/2009, Bị đơn thông báo cho nguyên đơn bằng Telex rằng do mưa
lớn thiếu nhiên liệu và một số lý do khác, họ không thể giao hang theo đúng lịch.
Ngày 16/12/2009, chuyến hàng đầu tiên chỉ có 218,671 m3 gỗ dán và 415,904 m3
gỗ khối đã ròi singgapore đi Việt Nam.
Sau đó, Bị đơn thông báo cho nguyên đơn hẹn sẽ gửi chuyến hàng thứ hai gồm
2500m3 gỗ dán và 1500m3 gỗ khối vào cuối tháng 1 năm 2010. Nguyên đơn đã
đồng ý đề nghị này của bị đơn. Tuy nhiên trên thực tế điều này đã không đucợ thực
hiện. Nguyên đơn sau đó, đã phải nhắc nhở bị đơn vài lần, đề nghị được thông báo
chi tiết về chuyến hàng giao ngày 7/3/2010, đồng thời xin gia hạn thư tín dụng cũng
như chấp nhận gia hạn thời hạn giao hàng cho tới ngày 31/5/2010.
Bị đơn đã không hề có động thái gì và thực tế đã không tiến hành giao chuyến
hàng thứ hai. Ngày 2/5/2010, hai bên đã đồng ý gặp nhau để bàn bạc về việc thực
hiện hợp đồng. Ngày 7/7/2010, viện cớ rằng mình đã phải chịu tổn thất do giá dầu
tăng. Bị đơn đề nghị tăng giá lên 40%. Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu này.
Tỷ lệ lãi Suất là 9% cho tổng số tiền này.
Bị đơn kháng cáo đòi:
-
Được thanh toán số tiền là 306.988,42 USD cho chuyến hàng đầu tiên với tỷ
lệ lãi suất là 15%/năm
-
Tuyên bố nguyên đơn không có quyền hưởng số tiền bảo hiểm thực hiện hợp
đồng và những thiệt hại phát sinh do việc hủy bỏ hợp đồng.
Giả sử luật áp dụng là (1) pháp luật Việt Nam và (2) Công ước viên hãy trả lời câu
hỏi sau:
Thứ nhất, bị đơn có vi phạm hợp đồng không? Vì sao?
Thứ hai, lí do về việc bị đơn đưa ra đối với sự kiện bất khả kháng có được chấp
nhận không? Vì sao?
Thứ ba, các lập luận về việc từ chối hợp đồng của bị đơn có hợp lý không? Vì
sao?
Thứ tư, những thiệt hại nào có thể được chấp nhận? Vì sao?
b) Hướng giải quyết tình huống
-
Xét về vấn đề vi phạm hợp đồng.
Bị đơn đã vi phạm về thời hạn giao hàng, cụ thể là lần giao hàng thứ hai, (lần
Như vậy, căn cứ theo pháp luật Việt Nam
Căn cứ theo khoản 1 Điều 432. Bộ luật dân sự 2005 quy định về Thời hạn thực hiện
hợp đồng mua bán:
“Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thoả thuận. Bên bán phải giao
tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thoả thuận; bên bán chỉ được giao tài sản
trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý.”
Và Điều 37 Luật thương mại 2010 về thời hạn giao hàng:
1. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp
đồng.
2. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời
điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền chuyển giao hàng vào bất kỳ thời điểm
nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.
Như vậy, lần đầu tiên bị đơn xin gia hạn thêm thời hạn giao hàng vì lý do mưa
lớn, không có nhiên liệu và một số lý do khác mà giao hàng không đúng lịch, bên
nguyên đơn đã đồng ý, bị đơn được coi là không vi phạm hợp đồng. Nhưng đến lần
hai bị đơn lại lấy lý do bất khả kháng để chậm giao hàng. Nguyên đơn đã đồng ý
nhưng bị đơn cũng đã không giao chuyến hàng thứ hai này và cũng không có câu trả
lời, mặc dù sau đó nguyên đơn đã thực hiện việc nhắc nhở thực hiện giao hàng.
Trường hợp này bị đơn đã là bên vi phạm hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận.
Thứ hai, căn cứ theo quy định của Công ước viên 1980:
Khoản 1 Điều 33 Công ước này quy định: “Người bán phải giao hàng đúng vào
ngày giao hàng mà hợp đồng đã quy định, hay có thể xác định được bằng cách
tham chiếu vào hợp đồng.”
Điều đó, có nghĩa bên bị đơn phải giao hàng theo đúng ngày đã thỏa thuận hoặc
vào thời gian tham xét theo hợp đồng. Như vậy, lần một, bị đơn giao chậm hàng với
lý do sự kiện bất khả kháng, nếu tham chiếu vào hợp đồng, thì bị đơn không vi
Ngoài ra, bên bị đơn đã lợi dụng lý do trên để đề nghị tăng giá lên 40%. Điều
này cho thấy bị đơn thực tế đã có khả năng giao hàng song muốn tăng giá cao hơn
nên đã không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng.
-
Xét về việc từ chối hợp đồng của bị đơn
Thứ nhất, căn cứ theo pháp luật Việt Nam
+ Bị đơn không thể đưa ra lý do hủy bỏ hợp đồng là do giá dầu tăng 40% mà bị
đơn cũng coi đó là lý do bất khả kháng.
Theo phân tích ở trên thì lý do bất khả kháng vì giá dầu tăng lên mà bị đơn đưa
ra hoàn toàn không được chấp nhận bởi nó trái với thỏa thuận ban đầu trong hợp
đồng mà 2 bên đã thỏa thuận với nhau. Do vậy, việc bị đơn viện dẫn lý do này để
hủy bỏ hợp đồng là hoàn toàn không hợp lý.
+ Căn cứ theo điều 312 Luật thương mại năm 2005 quy định về việc hủy bỏ hợp
đồng, tại khoản 4 đã nêu rõ:
“4. Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, chế
tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp
đồng;
b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”
Theo tình huống trên, có thể thấy rằng hợp đồng mua bán giữa 2 bên không có
thỏa thuận về các điều khoản mà nếu một trong 2 bên vi phạm điều khoản đó thì đó
sẽ là điều kiện hủy bỏ hợp đồng. Hơn nữa, bên bị đơn lại chính là bên vi phạm
nghĩa vụ của hợp đồng đối với bên nguyên đơn theo cách lập luận ở trên
Vì vậy việc từ chối hợp đồng với lý do bất khả kháng của bị đơn như vậy là hoàn
toàn trái với quy định của pháp luật Việt Nam.
Những thiệt hại nguyên đơn đòi bồi thường không được chấp nhận:
+ Phần chênh lệch về giá: 656.070,35 USD
Điều 304 Luật thương mại 2005 quy định về nghĩa vụ chứng minh tổn thất của bên
bị thiệt hại thì bên bị thiệt hại phải chứng minh được tổn thất của mình do hành vi vi
phạm gây ra cũng như khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ phải được
hưởng nếu như không có hành vi vi phạm đó:
“Điều 304. Nghĩa vụ chứng minh tổn thất
Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành
vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu
không có hành vi vi phạm.”
Theo thông lệ quốc tế, hàng hóa chưa được giao thì tổn thất được tính bằng số
chênh lệch giữa giá trong hợp đồng và giá thực tế ngoài thị trường tại thời điểm
hàng hóa lẽ ra phải được giao tại nơi có nhu cầu. Trong tình huống trên thì thời hạn
giao hàng được gia hạn đến ngày 31/05/2010 nên giá thị trường cũng được tính vào
thời điểm đó. Trong tình huống trên, không có thông tin về việc bên nguyên đơn
chứng minh được sự tăng giá vào ngày 31/5/2010.
Nếu giả sử việc bị đơn không giao hàng đầy đủ khiến nguyên đơn phải mua hàng
hóa khác thay thế thì việc này cũng không gây ra thiệt hại gì cho nguyên đơn. Do Vì
vậy, yêu cầu này của nguyên đơn không được chấp nhận.
+ Một khoản lợi nhuận bị thất thu là: 468.301,10USD
Theo Luật thương mại, thông thường để đánh giá thiệt hại của việc không giao hàng
người ta lấy giá chênh lệch giữa giá hợp đồng với giá thị trường tại thời điểm hàng
hóa lẽ ra phải được giao. Thông lệ này được dựa trên một giả thiết rằng: vì hàng hóa
không được giao, người mua có thể giảm bớt thiệt hại bằng cách mua một lượng
hàng hóa thay thế khác trên thị trường, nếu vì không mua hàng hóa thay thế người
mua rất có thể phải chịu thêm tổn thất khác như mất lợi nhuận…thì người bán sẽ
không chịu trách nhiệm về những thiệt hại này
Chính vì vậy mà nguyên đơn sẽ không được bồi thường về khoản này.
hợp đồng và những thiệt hại phát sinh do việc hủy bỏ hợp đồng là không được chấp
nhận vì bên bị đơn mới là bên không thực hiện đúng hợp đồng. Do vậy khoản phí
này phải được hoàn lại cho bên nguyên đơn trị giá 5% hợp đồng.
Theo Công ước Viên 1980
Bên nguyên đơn
Những thiệt hại có thể được chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn:
+ Khoản chênh lệch về giá là : 656.070,35 USD
Căn cứ theo điều 76 Công ước viên 1980: Khi hợp đồng bị hủy và hàng có một giá
hiện hành, mà bên mua không mua hàng thay thế hay bán lại hàng thì có thể đòi
nhận phần chệnh lệch giữa giá ấn định trong hợp đồng và giá hiện hành lúc hủy
hợp đồng.
Vì vậy, nguyên đơn có quyền yêu cầu bồi thường khoản chênh lệch về giá này.
+ Một khoản lợi nhuận bị thất thu là : 468.301.10 USD
Theo điều 74 Công ước viên 1980 do bên bị đơn (bên bán) đã vi phạm hợp đồng nên
phải bồi thường cho bên nguyên đơn (bên mua) một khoản tiền bao gồm tổn thất và
khoản lợi phải bỏ lỡ mà bên mua đã phải chịu do hậu quả của việc vi phạm hợp
đồng.
Vì vậy, nguyên đơn có quyền yêu cầu bồi thường khoản lợi nhuận bị thất thu.
+ Nguyên đơn cũng được trả “Khoản bảo đảm thực hiện hợp đồng trị giá 5% tổng
giá trị hợp đồng do bị đơn cấp “ ngay sau khi L/C tương ứng được mở” vì bên bị
đơn mới là bên không thực hiện đúng hợp đồng. Do vậy khoản phí này phải được
hoàn lại cho bên nguyên đơn trị giá 5% hợp đồng.
Bên bị đơn
Những thiệt hại có thể được chấp nhận từ phía yêu cầu của bị đơn:
Thanh toán số tiền là 306.988.42 USD cho chuyến hàng đầu tiên.
Theo khoản 2 - Điều 81 Công ước viên 1980 thì bên bị đơn đã thực hiện một phần
hợp đồng, cụ thể là bên bán đã giao cho bên nguyên đơn chuyến hàng thứ nhất là
218,617 m3 gỗ dán và 415,904 m3 gỗ khối. Vì vậy, bên bị đơn có thể yêu cầu bên
b) Giải quyết các vấn đề tình huống 2
-
Xét về vấn đề hình thành hợp đồng
Thứ nhất, sau khi nhận được lời đề nghị giao kết hợp đồng của công ty A, công
ty B đã fax trả lời đồng ý lời đề nghị của công ty A 28/9/2009 trước thời hạn mà
công ty A đưa ra (31/9/2009). Điều đó chứng tỏ rằng công ty B đã chấp nhận lời đề
nghị giao kết hợp đồng của A.
Căn cứ vào khoản 1, 2 Ðiều 18 và Điều 23 - Công ước viên 1980 quy định:
“ 1. Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự
đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng. Sự im lặng hoặc bất hợp tác
vì không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận.
2. Chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được chấp nhận.
Chấp thuận chào hàng không phát sinh hiệu lực nếu sự chấp nhận ấy không được
gửi tới người chào hàng trong thời hạn mà người này đã quy định trong chào hàng,
hoặc nếu thời hạn đó không được quy định như vậy, thì trong một thời hạn hợp lý,
xét theo các tình tiết của sự giao dịch, trong đó có xét đến tốc độ của các phương
tiện liên lạc do người chào hàng sử dụng. Một chào hàng bằng miệng phải được
chấp nhận ngay trừ phi các tình tiết bắt buộc ngược lại ”
Tuy nhiên, giữa A và B đã hình thành hợp đồng hay chưa phải xét thêm yếu
tố sau :
Vì sau khi nhận được lời chấp nhận chào hàng của B, A đã không trả lời lại nên
chưa thể khẳng định đươc liệu A có nhận được lời chấp nhận của B trước thời điểm
mà B trả lời lại cho A là không mua hàng của A vào 3h30 chiều ngày 31/9/2009. Vì
chấp nhận chào hàng chỉ có hiệu lực khi người chào hàng nhận được chấp nhận và
hợp đồng được coi là ký kết từ lức chấp nhận chào hàng có hiệu lực.
Ðiều 23:
Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận thì việc giải quyết tại đâu và bằng phương
thức nào là do ý chí của 2 bên. Trường hợp này, Tòa án nhân dân nơi B có trụ sở
chính không có thẩm quyền đương nhiên để giải quyết tranh chấp trên.
Chương 3. Một số kiến nghị về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế nói riêng trong pháp luật Việt Nam
1. Bất cập của pháp luật hợp đồng hiện nay
Pháp luật hợp đồng Việt Nam chủ yếu do hai nguồn luật điều chỉnh là Bộ luật
Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) và Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005), bên
cạnh đó, chế định hợp đồng còn tồn tại trong các quan hệ pháp lý khác được điều
chỉnh theo những luật chuyên biệt như: Luật Sở hữu trí tuệ (LSHTT), Luật Kinh
doanh bất động sản, Luật Kinh doanh bảo hiểm... Cá biệt, có những quan hệ đặc thù
tưởng chừng như không có bóng dáng của hợp đồng nhưng thực tế vẫn tồn tại khá
nhiều, như trong quan hệ hôn nhân gia đình.
Ở Việt Nam, BLDS 2005 - với tư cách là luật chung - đã có những quy định về
chế định hợp đồng, nên những luật còn lại - với tư cách là luật chuyên ngành - phải
tuân theo và dựa trên các quy định của BLDS 2005. Tuy nhiên, cách thức áp dụng
thì lại ưu tiên cho luật chuyên ngành nếu luật chung có quy định khác với luật
chuyên ngành. Câu chuyện này thực tế đã gây ra sự bất cập lớn trong pháp luật hợp
đồng ở Việt Nam, vì quy định của BLDS 2005 với các luật chuyên ngành khác hầu
như không tiệm cận với nhau, và ngay cả trong những luật chuyên ngành vẫn còn
nhiều khác biệt vì một quan hệ hợp đồng có thể sử dụng đến nhiều quan hệ pháp lý.
Do đó, những hạn chế cơ bản trong pháp luật hợp đồng Việt Nam hiện nay là tản
mát, thiếu tính thống nhất và có khả năng dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật.
Có thể nhận thấy sự thiếu tính thống nhất của pháp luật hợp đồng khi xem xét về
tính thương mại của hợp đồng. Điều 388 BLDS 2005 quy định: Hợp đồng dân sự
(HĐDS) là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và
nghĩa vụ dân sự. Theo khái niệm này và dựa trên phạm vi điều chỉnh của BLDS
trong việc xác định thẩm quyền của mình. Bên cạnh đó, thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của Tòa án quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 về kinh doanh thương
mại[2] cũng đang mang tính liệt kê (khác với liệt kê mang tính loại trừ) và dựa vào
mục đích lợi nhuận làm căn cứ tiên quyết.
Đối với Trọng tài Việt Nam khi giải quyết các tranh chấp HĐTM đều vận dụng
các quy phạm về HĐTM được điều chỉnh trong BLDS 2005, LTM 2005 và các chế
định hợp đồng đặc thù trong Luật Đầu tư (LĐT), Luật Xây dựng (LXD), LSHTT...
Những quy định này về hợp đồng vẫn nằm rải rác trong các văn bản pháp luật, đã
gây nên sự chồng chéo, làm hạn chế hoạt động áp dụng pháp luật của Trọng tài.
Sự thiếu tính thống nhất của pháp luật hợp đồng còn thể hiện ở mâu thuẫn giữa
BLDS 2005 và LTM 2005 liên quan đến chế định phạt hợp đồng. Khoản 2 Điều 422
BLDS 2005 quy định: mức phạt vi phạm hợp đồng do các bên tự thỏa thuận. Tự
thỏa thuận có nghĩa là các bên được phép tự do ấn định mức phạt mà không bị ràng
buộc bởi các quy định của pháp luật, điều này thể hiện nguyên tắc tự do thỏa thuận
đã được quy định trong pháp luật dân sự nhưng điều đáng lưu tâm là LTM lại quy
định về mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với
nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị
phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Cùng điều chỉnh về một vấn đề nhưng lại có sự
khác biệt giữa các văn bản. Điều đó đòi hỏi các bên phải phân biệt rạch ròi xem
quan hệ nào do BLDS 2005 điều chỉnh và quan hệ nào được điều chỉnh bởi LTM
hoặc các luật khác điều chỉnh và điều này là rất khó phân biệt khi BLDS 2005 được
xem là luật chung với đối tượng điều chỉnh là các quan hệ về tài sản, nhân thân
trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động. Sự khác biệt về
mức phạt vi phạm dẫn đến sự khác biệt trong việc quy định mối quan hệ giữa phạt
vi phạm và bồi thường thiệt hại. Điểm 2 khoản 3 Điều 422 BLDS 2005 quy định:
Trong trường hợp các bên thỏa thuận phạt vi phạm mà không có thỏa thuận về bồi
thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm. Trong khi
đó, khoản 2 Điều 307 LTM 2005 lại quy định: Trong trường hợp các bên có thỏa