Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn So sánh với quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 - Pdf 47

MỤC LỤC
Trang
Mở đầu…………………………………………………………………………. 1
Nội dung………………………………………………………………………... 1
I.
Khái niệm, mục đích của thủ tục rút gọn……………………………. 1
II.
Quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.. 1
1. Phạm vi và điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn…………………………... 1
2. Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn……………………….. 3
3. Quy định về điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn………………
3
4. Áp dụng biện pháp ngăn chặn theo thủ tục rút gọn……………………... 6
III.
So sánh quy định về thủ tục rút gọn của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015………………………….. 6
1. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn………………………………………… 6
2. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn………………………………………. 7
3. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn……………………………………... 8
4. Việc tạm giữ, tạm giam và thời hạn để điều tra, truy tố, xét xử………… 9
5. Hoạt động điều tra, truy tố theo thủ tục rút gọn………………………… 9
6. Hoạt động xét xử theo thủ tục rút gọn…………………………………... 9
Kết luận………………………………………………………………………… 10
Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………………………… 11

MỞ ĐẦU
Thủ tục rút gọn là một chế định tiến bộ trong pháp luật hình sự. Quy định về thủ
tục rút gọn có trong pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới, và ở Việt
Nam hình thức tổ chức này cũng được quy định khác sớm, và đã được quy định tại
BLTTHS năm 2003. Áp dụng thủ tục rút gọn giúp cho vụ án được giải quyết nhanh
chóng nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả, công bằng, đúng người, đúng tội, đồng thời giảm

định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này nhưng
không được trái với những quy định của chương XXXIV.
Điều 319: Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
-

Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang
Sự kiện phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng
Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng
Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng

2


Các điều kiện trên có mối liên hệ mật thiết với nhau để đảm bảo cho vụ án dù được
giải quyết nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo chính xác. Người thực hiện hành vi phạm
tội bị bắt quả tang là người bị bắt khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau
khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi bắt. Trong những trường hợp phạm tội quả tang thì
đều có thể xác định được hành vi phạm tội và cần bắt ngay để ngăn chặn hành vi phạm
tội hoặc trốn tránh pháp luật, đồng thời xác định được chứng cứ ngay. Đối với điều
kiện sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm ít nghiêm trọng, người
phạm tội thường không có sự chuẩn bị kỹ càng về công cụ, phương tiện phạm tội, cách
thức phạm tội đơn giản, và mức độ nguy hiểm cho xã hội ở mức thấp nhất. Vấn đề căn
cước, lai lịch của bị can, bị cáo phải rõ ràng ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án
trong việc xác định năng lực trách nhiệm hình sự, xác định hình phạt sao cho phù hợp,
để Tòa án đưa ra bản án cho đúng người, đúng tội.
Khi giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn cần phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện
trên, nếu như thiếu một điều kiện thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án sẽ rất
khó có thể giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác. Các điều kiện này thể hiện
sự thận trọng của Nhà nước trong áp dụng quyền con người, quyền công dân, tránh
tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng làm bừa, làm ẩu.

Điều tra

điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn

Khoản 1 Điều 321 quy định thời hạn điều tra theo TTRG là mười hai ngày, kể từ
ngày khởi tố vụ án. Như vậy, trong một thời gian ngắn CQĐT phải tiến hành các hoạt
động cần thiết để xác định tội phạm và người phạm tội. Việc rút ngắn thời gian điều do
trên tính chất đơn giản, rõ ràng của vụ án nhằm đảm bảo cho việc điều tra được CQĐT
tiến hành nhanh chóng, đảm bảo lợi ích của bị can và người tham gia tố tụng khác.
Khoản 2 Điều 321: “Khi kết thúc điều tra, CQĐT không phải làm bản kết luận điều
tra mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho VKS”. Bản kết luận điều
tra, đề nghị VKS truy tố là văn bản pháp lí trong đó thể hiện các kết quả điều tra của
CQĐT trong giai đoạn điều tra. Căn cứ vào nội dung của kết luận điều tra mà CQĐT
ra quyết định đề nghị VKS truy tố bị can. Tức là nội dung của kết luận điều tra là cơ
sở để VKS ra quyết định truy tố hay không. Tuy nhiên, nếu phải làm kết luận điều tra
sẽ mất nhiều thời gian của CQĐT, hơn nữa, khi tiến hành điều tra thì những nội dung

4


cần thiết đều thể hiện rất rõ trong hồ sơ vụ án. Chính vì thế, để rút gọn thủ tục tố tụng
BLTTHS đã lược bỏ đi thủ tục làm kết luận điều tra.
III.2.

Truy tố

Quy định tại Điều 323 BLTTHS năm 2003. Trong thời hạn bốn ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:
- Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố;
- Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

theo thủ tục chung.
Trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, Thẩm phán được
phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định
tại Điều 179 BLTTHS, quyết định nêu rõ những vấn đề cần phải điều tra bổ sung.
Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ tại Điều 160 BLTTHS. Sau
khi ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án, Tòa
án chuyển hồ sơ cho VKS và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp ra quyết định đình chỉ vụ án phải căn cứ vào Điều 180 BLTTHS, nội
dung của quyết định đình chỉ vụ án phải tuân thủ theo quy định tại Khoản 3 Điều 164
BLTTHS.
Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự áp dụng TTRG vẫn phải tuân thủ mọi quy
định chung. Phiên tòa vẫn tiến hành theo trình tự: thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục xét
hỏi, tranh tụng tại tòa, nghị án và tuyên án. Vì không có bản cáo trạng để truy tố bị can
nên tại phiên tòa đại diện VKS sẽ đọc quyết định truy tố bị can trước khi Tòa án bắt
đầu xét hỏi. Việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái phẩm đối với vụ án đã xét xử
sơ thẩm theo TTRG vẫn được tiến hành theo thủ tục chung.
4.

Áp dụng biện pháp ngăn chặn theo thủ tục rút gọn

Việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo TTRG quy định tại Điều 322
BLTTHS năm 2003:
- Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo quy định của
Bộ luật này.

6


- Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người
bị bắt.



So với điều kiện áp dụng TTRG Điều 319 BLTTHS năm 2003 thì Điều 456
BLTTHS năm 2015 vẫn giữ nguyên 4 điều kiện như cũ. Tuy nhiên có một số thay đổi
theo hướng mở rộng hơn điều kiện áp dụng hơn.
Tại điểm a khoản 1 điều 456 BLTTHS năm 2015 “Người thực hiện hành vi phạm
tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú”, đối với người tự thú về hành vi phạm tội
của mình mà họ có đủ cả 3 điều kiện tiếp theo thì về bản chất cũng có thể áp dụng
TTRG như đối người bị bắt quả tang, việc quy định người phạm tội quả tang hay
người tự thú chỉ có ý nghĩa khoanh vùng, hạn chế các vụ án được áp dụng theo TTRG.
Nhưng thực tiễn cho thấy quy định chỉ đối với người phạm tội quả tang là bị bó hẹp thì
bổ sung thêm quy định cho người tự thú được áp dụng TTRG là hoàn toàn hợp lí.
Đồng thời, quy định tại khoản 4 điều 319 BLTTHS năm 2003 được sửa đổi một
chút về mặt thuật ngữ. Theo đó, “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng” thì về
nội hàm hai từ ngữ “căn cước” và “lai lịch” đều phản ánh đặc điểm nhân thân của
người phạm tội, nhưng lại chưa phản ánh được thông tin về nơi cư trú. Đây là điều
kiện để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án rút gọn được nhanh chóng, đồng thời là cơ
sở để xem xét áp dụng miễn chấp hành hình phạt cho hưởng án treo. Vì vậy điểm d
Khoản 1 Điều 456 BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi: “người phạm tội có nơi cư trú, lí
lịch rõ ràng”.
Do phạm vi TTRG được áp dụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm nên BLTTHS năm
2015 đã bổ sung thêm điều kiện áp dụng TTRG trong giai đoạn này là:
- Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo,
kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo;
- Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các
điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ
hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

8


tố, xét xử nhằm đảm bảo đủ thời hạn để các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian giải
quyết vụ án một cách chính xác, phù hợp với thực tế, cũng là cơ sở để cơ quan tố tụng
tích cức tiến hành áp dụng TTRG trong thực tiễn.

9


5.

Hoạt động điều tra, truy tố theo thủ tục rút gọn

So với quy định tại Điều 321,323 BLTTHS năm 2003 thì các quy định tại Điều
460, 461 BLTTHS năm 2015 về hoạt động điều tra và quyết định truy tố không có
nhiều nội dung sửa đổi, chỉ bổ sung cho VKS có thẩm quyền không truy tố và ra
quyết định đình chỉ vụ án. Quy định rõ quyết định truy tố phải có các nội dung theo
khoản 2 Điều 461 BLTTHS năm 2015.
6.

Hoạt động xét xử theo thủ tục rút gọn

So với quy định tại Điều 324 BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS 2015 đã có nhiều
điểm mới cơ bản tại Điều 463,464,465 như sau:
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án phải gửi, giao quyết định đưa vụ
án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị cáo, luật sư…
- Phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do trước đây áp dụng theo thủ tục chung
cần một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân (điều 185 BLTTHS năm 2003) thì chỉ
cần một Thẩm phán tiến hành (không có Hội thẩm). Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa
thì KSV công bố quyết định truy tố, còn các hoạt động khác được thực hiện theo thủ
tục chung, đặc biệt là không có phần nghị án (vì chỉ có 01 Thẩm phán).
- Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thời hạn nghiên cứu hồ sơ của VKS là 05


hình sự năm 2003, Hà Nội, 2013.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, 2015
Trang web:

11




/>
trong-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2003-29118/
• />• />• />
12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status