PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính sách dân tộc là một trong những vấn đề cơ bản và chiến lược của
Đảng và Nhà nước ta. Trong một quốc gia đa dân tộc, đây là một vấn đề sống
còn. Một chính sách dân tộc đúng đắn phải phản ánh được cơ cấu dân tộc, vị trí,
vai trò của mỗi dân tộc, quan hệ giữa các dân tộc; thực trạng phát triển kinh tế xã hội của các dân tộc từ đó có các giải pháp thích hợp để phát triển; đảm bảo
bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để cùng phát triển của các dân tộc.
Ở nước ta, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc càng trở nên quan trọng.
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã xác định dân tộc là một trong những vấn
đề cơ bản trong sự nghiệp cách mạng. Do đó, ngay sau khi giành độc lập, Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành lập ngay Nha Dân tộc thiểu số
để theo dõi, quản lý các vấn đề dân tộc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Đảng ta luôn coi vấn
đề dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước
ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định đường
lối, quan điểm về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc: “Đoàn kết các dân tộc có vị
trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Các dân tộc trong đại gia
đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến
bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nghiên cứu
xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá
kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở
các cấp” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội 2011,tr.244-245).
Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm
giúp đỡ đồng bào các dân tộc, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, xóa bỏ dần
những hủ tục, thành kiến lạc hậu. Do vậy, nội dung của chính sách dân tộc là gắn
Phương pháp duy vật biện chứng kết hợp phương pháp phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh.
5. Kết cấu của đề tài
Chương I. Cơ sở lý luận về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc.
Chương II. Thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội
vùng dân tộc thiểu số ở huyện Phước Sơn giai đoạn 2010 - 2014.
Chương III. Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực
hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở huyện Phước
Sơn, giai đoạn 2015 - 2020.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc được thể hiện tập trung
ở Cương lĩnh nổi tiếng là “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được
2
3
quyền tự quyết, liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại” (V.I Lênin; Toàn tập,
NXB Tiến bộ, Mastxcơva, 1980, t.25, tr.375).
Bình đẳng dân tộc là nguyên tắc rất quan trọng của cương lĩnh. Đây là một
sự bình đẳng thật sự, bình đẳng toàn diện giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục,… Lênin đã phân tích rằng: “Người nào
không thừa nhận và không bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bình
đẳng giữa các ngôn ngữ, người đó không phải là người mácxit, thậm chí không
phải là người dân chủ nữa” (V.I.Lênin; Toàn tập, NXB Tiến bộ, Maxcơva, 1980,
tr136).
Quyền tự quyết của dân tộc là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong cương
lĩnh của Lênin về vấn đề dân tộc. Theo Lênin: Quyền dân tộc tự quyết, nghĩa là
4
dân tộc tiến lên xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh
phúc, trong một xã hội bình đẳng, công bằng, dân chủ và văn minh.
Các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc. Đoàn kết để đấu tranh chống kẻ thù, giữ vững nền độc lập
chung của Tổ quốc. Bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi giữa các dân tộc thiểu số
còn ở trình độ chậm phát triển để cùng nhau tiến bộ.
Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào dân tộc ít người
được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, văn hoá, giáo dục.
Đảng và Nhà nước chú trọng chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đào
tạo, bồi dưỡng, đề bạt đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số (DTTS) miền núi
đáp ứng nhu cầu xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội và
muốn thế toàn xã hội phải quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
là phải: Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào dân tộc ít người
được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, văn hoá, giáo dục
(Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tập 11,
trang 137).
3. Những quan điểm, nguyên tắc cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam
về chính sách dân tộc.
Chính sách dân tộc là một hệ thống những quan điểm chính trị của một
giai cấp, đại diện là chính đảng và nhà nước để giải quyết vấn đề dân tộc và mối
quan hệ giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính sách dân
tộc là cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc, tác động
trực tiếp đến việc giải quyết mối quan hệ dân tộc trên các lĩnh vực của đời sống
xã hội.
Những nguyên tắc trong chính sách dân tộc được thể hiện trong các kỳ Đại
hội của Đảng. Đại hội VI (1986), Đảng ta khẳng định: “Trong việc phát triển
kinh tế, xã hội ở những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ
mới có cơ sở để xây dựng đời sống văn hóa mới...Từ khi có Nghị quyết 22 của
Bộ Chính trị (khóa VI) đến nay, với tư duy mới về chính sách dân tộc, nhiều
chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội đã được thực hiện và tạo ra
bước chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS; trong đó,
có vùng DTTS ở tỉnh Quảng Nam.
Các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ như:
- Nghị quyết 15-NQ/TW, về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 nêu
rõ: Ðẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương
trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng các chính sách giảm
nghèo đối với các huyện nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số
thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn,
vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã
hội so với bình quân cả nước.
- Nghị quyết 76/2014/QH13 chỉ rõ: Ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng
và phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, huyện nghèo, xã nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc
biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo.
- Nghị quyết 80/NQ-CP đã chỉ đạo: Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm
của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng
bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015 và
giai đoạn tiếp theo, bao gồm các Đề án/Dự án giảm nghèo; hệ thống tiêu chí
đánh giá công tác giảm nghèo quốc gia.
- Nghị quyết 30a/NQ-CP về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với
62 huyện nghèo, mục đích của Nghị quyết là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về
5
6
Dân số toàn huyện có 24.590 người, gồm 16 thành phần dân tộc sinh sống;
trong đó chủ yếu là người Gié Triêng chiếm 62,2%, dân tộc Kinh chiếm 31,5%,
còn lại 6,3% là các dân tộc thiểu số khác gồm: Ca dong, Giẻ, Tày, Nùng, Pa cô,
Cơ tu, Sán dìu, Vân kiều, Mường, Thái, Cor, Hrê, Ve, Ba na.
1.3. Kinh tế - Xã hội
+ Tốc độ tăng trưởng bình quân: 21%.
+ Thu nhập bình quân đầu người: 3,9 triệu đồng/năm.
+ Tỷ trọng NN - CN - DV: 33,05% - 23,71% - 43,23%.
(Số liệu thống kê cuối năm 2008).
Tính đến cuối năm 2008, toàn huyện còn 2.557 hộ nghèo theo chuẩn quốc
gia (11.709 nhân khẩu), chiếm tỷ lệ 52.2% so với tổng dân số toàn huyện. Trong
đó hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm 2.257 hộ (10.323 khẩu).
1.4. Thực trạng về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất vùng DTTS.
Kết cấu hạ tầng của huyện thời gian qua đã được đầu tư xây dựng khá
mạnh, song do nguồn lực có hạn nên hệ thống hạ tầng vẫn chưa đồng bộ, chưa
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
a) Xây dựng:
- Những năm qua ngành xây dựng của huyện đã đạt được những thành tựu
đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện. Bằng nhiều nguồn
vốn trong giai đoạn 2010-2015 huyện đã tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp
sửa chữa trên 263 công trình với tổng số vốn đầu tư phần huyện quản lý 657,7 tỷ
đồng. Ngoài ra các doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư trên 200 tỷ đồng cho việc
xây dựng các khách sạn, nhà hàng, cơ sở sản xuất góp phần đổi thay diện mạo
của huyện, nhất là tại địa bàn thị trấn Khâm Đức.
- Sự phát triển trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng gắn liền với sự phát
triển chung của toàn nền kinh tế và phụ thuộc nhiều vào khả năng cũng như quy
mô đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Nhìn chung vốn đầu tư của
Nhà nước đã góp phần bình ổn và tạo điều kiện phát triển kinh tế huyện, các dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng theo các chương trình 134, 135 và Nghị quyết 30a của
Chính phủ đã được triển khai hàng năm góp phần làm tăng tỷ trọng ngành công
ổn định cho gần 120 ha lúa nước tại xã Phước Năng và có khả năng phát triển
nuôi trồng thủy sản rất tốt, bước đầu huyện đã thả 100.000 con cá giống để xã
quản lý, nuôi dưỡng, phục vụ cho nhu cầu đánh bắt, cải thiện bữa ăn cho nhân
dân trong vùng.
- Ngoài ra, hàng năm huyện cung cấp cho nhân dân các xã hàng ngàn mét ống
nhưa HDPE để bà con tự làm thuỷ lợi, tưới những diện tích nhỏ lẻ ở những vùng
khó khăn nhằm tiến tới ổn định sản xuất và an ninh lương thực cho toàn huyện.
d) Điện sinh hoạt:
Lưới điện quốc gia đã đến 11/12 xã, thị trấn, tỷ lệ hộ được sử dụng điện
đạt trên 90%, hiện chỉ còn xã Phước Lộc chưa có lưới điện quốc gia. Do điều
kiện sinh sống phân tán, địa hình chia cắt nên việc đưa lưới điện sinh hoạt về hộ
gia đình gặp nhiều khó khăn, chất lượng chưa tốt, thường hay xảy ra sự cố mất
điện, nhất là vào mùa mưa bão.
đ) Cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ phục vụ sản xuất Nông - Lâm Ngư nghiệp trong vùng
8
9
- Công tác tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật được chú
trọng; thường xuyên mở các lớp hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, xây dựng mô
hình sản xuất cây, con giống mới, các mô hình nông - lâm kết hợp.
- Nhìn chung, việc ứng dụng một số tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản
xuất nông, lâm nghiệp đã từng bước được nâng lên nhưng vẫn còn nhiều hạn
chế, sản xuất vẫn mang tính tự phát, năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi
trong những năm qua còn thấp; hiệu quả đầu tư chưa cao.
1.5. Thực trạng phát triển các lĩnh vực xã hội trên địa bàn huyện
a) Y tế:
Ngành Y tế huyện những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể,
các chương trình phòng bệnh, phòng dịch và chăm sóc sức khoẻ ban đầu được
10
dân tộc, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, góp phần nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần trong nhân dân thể hiện trên một số lĩnh vực như sau:
Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước. Tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân mỗi năm từ 7- 8%; giá trị sản xuất nông - lâm - nghiệp
tăng từ 4-5%; thu nhập bình quân đầu người đạt 7,5 triệu đồng/năm, tăng 3 triệu
đồng so với năm 2009. Tỷ lệ nghèo giảm bình quân gần 5%/năm (hiện nay còn
51,71%).
- Trên lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực;
diện tích canh tác, năng suất cây trồng và con vật nuôi tăng dần. Đồng bào đã tập
trung khai hoang, cải tạo đồng ruộng, mở rộng diện tích ruộng nước; kết quả
trong 05 năm đã khai hoang 61,58 ha, phục hóa 9,23 ha, đưa diện tích gieo trồng
lúa nước toàn huyện lên 803,5 ha, tăng 56,5 ha so với năm 2009; nhiều công
trình thuỷ lợi vừa và nhỏ được đầu tư xây dựng, tạo điều kiện để nông dân sản
xuất mỗi năm 2 vụ lúa nước; năng suất tăng từ 38 tạ/ha lên 40,5 tạ/ha. Sản lượng
lương thực có hạt đạt 4.997 tấn. Nhiều mô hình sản xuất mới được đưa vào ứng
dụng đạt hiệu quả cao, tiêu biểu trong phong trào này là đồng bào các dân tộc xã
Phước Xuân, Phước Chánh,….Về chăn nuôi có bước phát triển, tổng đàn gia súc
phát triển từ 13.412 con lên 16.828 con, đàn gia cầm từ 40.000 con lên 50.000
con. Nhiều hộ dân tộc thiểu số đã mạnh dạn vay vốn đầu tư hàng trăm triệu đồng
phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, đem lại hiệu quả kinh tế như chị
Hoàng Thị Chung ở thôn 5, xã Phước Đức, anh Hồ Văn Dem ở thôn 3, xã Phước
Chánh, A Bốt thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân,…Công tác trồng rừng có nhiều
tiến bộ, diện tích rừng trồng mỗi năm từ 350 - 400 ha rừng các loại, nâng tỷ lệ
che phủ rừng từ 62% nâng lên 63%.
- Về xây dựng cơ bản đã tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu bằng
nhiều nguồn vốn; tổng vốn đầu tư trong 5 năm qua trên 1.000 tỷ đồng với 354
công trình đầu tư. Các công trình xây dựng hoàn thành đã phát huy hiệu quả.
em); tỷ lệ ra lớp hàng năm đạt khá: Mẫu giáo 76,5%, Tiểu học đạt 100%, Trung
học cơ sở đạt 98,6%, Trung học phổ thông đạt trên 96%; tỷ lệ học sinh đỗ đại
học, cao đẳng hằng năm đạt trung bình 25%. Đội ngũ giáo viên đã được bổ sung
thêm, đã chuẩn hóa 100% về chuyên môn; tổng số cán bộ CNVC các cấp là 667
người (trong đó: giáo viên người DTTS 167 người, chiếm tỷ lệ 25%). Công tác
phổ cập giáo dục tiểu học, THCS được duy trì và giữ vững, phổ cập giáo dục
mần non 5 tuổi đạt 12/12 xã, thị trấn. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn Quốc
gia được tập trung chỉ đạo, trong 5 năm qua đã có thêm 02 trường được công
nhận trường chuẩn quốc gia, nâng số trường đạt chuẩn lên 06/27 trường. Đã có
hàng trăm học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ra
trường trở về phục vụ quê hương, có em đi học ở Nhật góp phần làm rạng rỡ
truyền thống của quê hương Phước Sơn.
- Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân ngày càng được chú
trọng, hiện nay có 12/12 xã, thị trấn có trạm y tế và 66/66 thôn đều có nhân viên
y tế thôn bản; toàn huyện hiện có 24 bác sỹ (trong đó bác sỹ người DTTS là 12
người), bình quân 1.000 dân có 01 bác sỹ. Công tác khám chữa bệnh tại bệnh
viện được quan tâm chỉ đạo; giải quyết tốt các trường hợp cấp cứu nội khoa và
ngoại sản, chưa có sai sót về chuyên môn; bình quân khám bệnh 55.000 lượt
người/năm; các chính sách y tế đối với người nghèo được triển khai thực hiện
tốt. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai thực hiện, công tác y tế dự
phòng được quan tâm, dịch bệnh và các bệnh truyền nhiễm được ngăn chặn
không để lây lan ở diện rộng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đến nay
còn 19,95% (giảm 2,5% so với năm 2009). Công tác dân số KHHGĐ có nhiều
tiến bộ, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm đáng kể.
- Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở tiếp tục
được duy trì và phát triển. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TD-TT, truyền
thanh - truyền hình đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân. Đời sống tinh thần của
đồng bào các dân tộc được cải thiện rõ rệt, các tập tục lạc hậu dần được xoá bỏ;
công tác bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của các đồng bào
DTTS được quan tâm hơn và đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức,
trên 18 tỷ đồng, bước đầu đi vào hoạt động có hiệu quả.
- Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được
củng cố tăng cường, thường xuyên tổ chức các hoạt động tuần tra, truy quét làm
trong sạch địa bàn. Hàng năm đều hoàn thành 100% các chỉ tiêu huấn luyện,
diễn tập và tuyển quân.
Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm được tập trung chỉ đạo kiên
quyết, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác tuyên
truyền giáo dục pháp luật, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân có
nhiều tiến bộ, công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được giải quyết đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về công tác xây dựng Đảng được quan tâm chú trọng; trong 5 năm qua,
đã tăng 03 tổ chức cơ sở đảng, nâng tổng số thôn có chi bộ độc lập lên 57 thôn,
khối; toàn huyện có 1.425 đảng viên, trong đó người dân tộc thiểu số là 805 đảng
viên, chiếm tỷ lệ 56,5%.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, nâng
cao chất lượng hệ thống chính trị ở huyện và cơ sở đạt được những kết quả quan
12
13
trọng. Công tác quy hoạch đào tạo, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ ổn định; đặc
biệt từ khi có Nghị quyết 13-NQ/TU của Tỉnh uỷ, các cấp uỷ, chính quyền từ
huyện đến cơ sở đã tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện; đến nay, đội ngũ
cán bộ người dân tộc thiểu số được bố trí đều khắp trong các cơ quan Đảng,
Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ở huyện. Tổng số cán bộ công chức, viên
chức và người lao động toàn huyện 1.782 người (Cán bộ là người dân tộc thiểu
số 629 người, chiếm tỷ lệ 35,3%). Trong đó: Khối Đảng, Mặt trận đoàn thể 18
người; khối chính quyền có 42 người; cán bộ cơ sở, thị trấn 339 người; các cơ
quan ngành dọc 14 người và lực lượng vũ trang 44 người.
Về công tác đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số
qua, đã đạt được những kết quả khả quan. Trên lĩnh vực đầu tư phát triển, ngân
13
14
sách Trung ương đã hỗ trợ trên 150 tỷ đồng, xây dựng được 76 công trình điện,
đường, trường, trạm…phục vụ sản xuất và dân sinh. Nguồn vốn sự nghiệp cũng
tăng dần hàng năm; tổng nguồn vốn hỗ trợ sản xuất 28,8 tỷ đồng; qua đó đã cấp
hỗ trợ cho nhân dân nhiều loại cây trồng, con vật nuôi, vật tư sản xuất như: 59,5
tấn lúa giống, 500.000 cây Keo, 350.000 cây Bời lời, 30.000 cây chuối Tiêu
hồng, 15.000 cây Cao su, 650 con bò giống, 317 con heo giống, 4.000 con gia
cầm, 100.000 con cá giống, 70 tấn phân bón các loại và 33.000 m ống nước làm
thủy lợi nhỏ; có 8.593 lượt hộ được hưởng lợi. Ngoài ra hỗ trợ trực tiếp số tiền
859 triệu cho 859 hộ làm chuồng trại chăn nuôi và công trình vệ sinh. Công tác
giao khoán quản lý bảo vệ rừng được quan tâm triển khai, đã giao khoán cho hộ,
nhóm hộ theo Nghị quyết 30a/NQ-CP là 15.388 ha rừng/611 hộ, nhân dân đã
được hưởng lợi về giá trị giao khoán trên 3 tỷ đồng/năm; giao khoán theo Nghị
định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường
rừng 22.025 ha/932 hộ, với số tiền 1,46 tỷ đồng, đã góp phần bảo vệ được diện
tích rừng và thu nhập ổn định cho nhân dân.
- Về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: Trong thời
gian qua, tập trung triển khai công tác lập các quy hoạch; đến nay đã hoàn thành
đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới cho 11 xã. Đã tập trung đầu tư cho 2
xã điểm Phước Năng và Phước Chánh xây dựng các công trình giao thông nông
thôn, chợ trung tâm, đường nội đồng phục vụ sản xuất, sửa chữa nâng cấp công
trình thủy lợi, nước sinh hoạt, hỗ trợ cây, con giống, công cụ sản xuất…từng
bước chỉnh trang các điểm dân cư và khuyến khích nhân dân tập trung sản xuất,
tăng thu nhập. Tổng kinh phí đầu tư cho Chương trình 19,6 tỷ đồng, trong đó:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 13,7 tỷ đồng, vốn sự nghiệp 5,9 tỷ đồng; đến nay xã
Phước Năng, Phước Đức, Phước Kim, Phước Công đạt 6 tiêu chí, Phước Chánh
trường.
- Thực hiện Chương trình 134, Chương trình 135, Chương trình mục tiêu
quốc gia giảm nghèo được triển khai thực hiện nghiêm túc; trong 5 năm qua đã
đầu tư trên 32 tỷ đồng; xây dựng mới 34 công trình đường giao thông, trường
học, trạm y tế, đập thủy lợi, nước sinh hoạt, bê tông hoá kênh mương; tổ chức
tập huấn đào tạo cho cán bộ xã, thôn, nhóm cộng đồng với kinh phí trên 420
triệu đồng, hơn 12 lớp/850 lượt người tham gia; từ các dự án đầu tư, hỗ trợ phát
triển sản xuất của chương trình 135, huyện đã hỗ trợ cho 850 hộ nghèo xây dựng
chuồng trại chăn nuôi, cấp hàng trăm cây, con giống vật nuôi như: Bò, lợn thịt,
lợn nái, ngan, keo, bời lời,... Nhìn chung, việc thực hiện có hiệu quả các chủ
trương, chính sách, chương trình ưu đãi cho bà con đồng bào dân tộc trên địa bàn
huyện, đã góp phần tháo gỡ khó khăn trong đời sống sản xuất, phát triển kinh tế
của đồng bào các thôn, bản, xã đặc biệt khó khăn, tăng cường xây dựng cơ sở hạ
tầng trên địa bàn huyện, góp phần thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn miền núi,
tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào DTTS vươn lên xoá đói giảm nghèo.
- Chính sách hỗ trợ di dân, thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân
tộc thiểu số theo Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg, ngày 05/3/2007 Thủ tướng
Chính phủ; tổng kinh phí thực hiện 2,3 tỷ đồng, thực hiện bố trí định canh, định
cư tập trung cho 37 hộ/174 khẩu tại thôn Luông B, xã Phước Kim và di dời sắp
xếp dân cư cho 20 hộ/75 khẩu tại thôn 1B, xã Phước Thành.
- Thực hiện Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg và Quyết định 126/2008/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ
đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn; đến nay đã cho 514 hộ đồng bào DTTS
nghèo vay để đầu tư phát triển sản xuất, tổng vốn là 2,57 tỷ đồng, đã hỗ trợ được
nhiều gia đình có vốn phát triển sản xuất, vượt lên thoát nghèo.
- Thực hiện chính sách đối với Già làng và người uy tín trong đồng bào
DTTS đảm bảo đúng theo quy định; tổng số người uy tín trên địa bàn huyện 59
người/66 thôn, khối. Đây là đội ngũ có uy tín đã tích cực tuyên truyền, vận động
đồng bào tự giác tham gia thực hiện các chủ chương chính sách của Đảng và
Nhà nước; nhiều người đã thực sự trở thành trung tâm đoàn kết các dân tộc;
gương mẫu, hướng dẫn nhân dân trong thôn bản phát triển kinh tế, tổ chức đời
phục...các giá trị văn hoá truyền thống của một số dân tộc chưa được phát huy tốt.
Mức hưởng thụ các thành quả văn hoá trong vùng DTTS còn hạn chế.
- Hệ thống chính trị cơ sở một số nơi còn yếu kém, nhiều cán bộ cơ sở
chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác trong tình hình mới. Công tác
phát triển đảng viên mới còn khó khăn, một số thôn bản còn chi bộ ghép; cấp uỷ,
chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở một số nơi hoạt động chưa hiệu quả.
Việc tổ chức thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng dân tộc ở
một số địa phương còn thiếu cụ thể, sâu sát thậm chí còn lệnh lạc, khuyết điểm.
Một số ngành chưa có cán bộ người DTTS làm việc theo tinh thần Nghị quyết
13-NQ/TU của Tỉnh ủy.
- Cơ sở hạ tầng giáo dục, y tế, văn hoá đã được quan tâm đầu tư song còn
nhiều khó khăn; do trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc còn thấp so với mặt
bằng chung nên việc tiếp thu khoa học công nghệ còn nhiều hạn chế; một số tập
tục lạc hậu, tệ nạn xã hội chưa được xoá bỏ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
người DTTS đã có nhiều cố gắng song số cán bộ có trình độ cao, số cán bộ giữ
cương vị chủ chốt ở các cấp, các ngành còn ít. Còn một số con em đồng bào
DTTS đã qua đào tạo chưa bố trí được việc làm.
16
17
3.2. Nguyên nhân hạn chế
a) Về khách quan:
- Do trình độ dân trí còn thấp, thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển
bền vững; thời tiết, khí hậu diễn biến bất thường; cơ chế chính sách cho đầu tư
phát triển còn hạn chế; nguồn vốn đầu tư và thực hiện các chính sách xã hội chưa
đáp ứng được nhu cầu thực tế của địa phương.
- Đặc điểm địa hình núi và dốc, hạ tầng kỹ thuật yếu kém và thiếu đồng bộ
nhất là hệ thống các công trình giao thông, thuỷ lợi là những trở ngại lớn trong
phát triển, đòi hỏi lớn về vốn đầu tư lớn.
17
18
chắc khối đại đoàn kết dân tộc, hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh và trật tự,
an toàn xã hội.
2. Các chỉ tiêu cụ thể
Theo Nghị quyết Đại hội Dân tộc thiểu số lần thứ 2, năm 2014 đã đề ra
một số chỉ tiêu thực hiện trong giai đoạn 2015-2020, cụ thể:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13-14 %/ năm.
+ Thu nhập bình quân đến năm 2020 là 15 triệu đồng/người.
+ Giá trị sản xuất Nông, Lâm nghiệp tăng bình quân 10-11%/năm.
+ Giá trị sản xuất Công nghiệp và Xây dựng tăng bình quân 14-15% /năm.
+ Giá trị sản xuất Thương mại, dịch vụ tăng bình quân 14-15 %/ năm.
+ Khai hoang ruộng nước 11-12 ha/năm.
+ Tổng sản lượng lương thực có hạt 5.500 tấn.
+ Trồng rừng 400 ha/năm; giao khoán quản lý bảo vệ rừng 48.372 ha/năm.
Tăng độ che phủ rừng lên 75%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2019 còn dưới 30%.
+ Giao quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu tỉnh giao.
3. Các nhiệm vụ và giải pháp
Nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, toàn cần tiến hành đồng bộ một số
nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như sau:
3.1. Giải pháp về xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách
a) Cơ chế phân cấp:
Hoàn thiện các cơ chế, chính sách về lồng ghép các dự án và chương trình
giảm nghèo vào kế hoạch đầu tư phát triển chung của địa phương nhằm hạn chế
tối đa việc phân tán nguồn lực, tránh chồng chéo trong quản lý và tạo sự chủ
động cho các địa phương trong quá trình xây dựng các dự án phát triển KTXH.
Tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội, xây dựng và
nguyên liệu, các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, với các sản phẩm có
giá trị kinh tế cao và theo lợi thế của mỗi vùng. Trên cơ sở quy hoạch sản xuất
nông nghiệp, UBND các xã lập Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp và ngành
nghề để tăng thu nhập cho cư dân nông thôn, theo Đề cương hướng dẫn chi tiết
tại Công văn số 938/SNNPTNT-CCPTNT ngày 18/7/2012 của Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn.
3.3. Giải pháp về tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm đẩy
mạnh việc ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật cho nông dân
Mỗi xã miền núi bố trí 01 cán bộ nông nghiệp làm việc theo chế độ
chuyên trách, như nội dung Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/9/2011 của Tỉnh
ủy về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 7, Khóa X về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn gắn với thực hiện thắng lợi Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới và nội dung Đề án kiện toàn bộ máy giúp việc BCĐ nông thôn
mới các cấp theo Quyết định số 1720/QĐ-UBND ngày 30/5/2013 của UBND
tỉnh Quảng Nam.
Tăng cường năng lực khuyến nông cơ sở theo hướng: Mỗi cán bộ khuyến
nông, nông nghiệp huyện, tỉnh (kể cả cán bộ Thú y, Bảo vệ thực vật huyện, Trạm
dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp, Hạt Kiểm lâm) chịu trách nhiệm phụ trách 01 xã,
trong thời gian 3 năm; mỗi tháng cán bộ phụ trách ít nhất phải làm việc tại xã 8
ngày, nhằm hỗ trợ cho Ban Nông nghiệp xã hoạt động hiệu quả.
Đối với khuyến nông viên thôn, bản: Mỗi thôn, bản của các xã thuộc
Chương trình 30a bố trí ít nhất một suất trợ cấp khuyến nông (gồm cả khuyến
nông, lâm, ngư), như Nghị quyết 30a đã quy định. Các thôn, bản thuộc các xã
còn lại, khuyến nông viên được tổ chức theo hình thức tự nguyện, do cộng đồng
dân cư lựa chọn, được hưởng phụ cấp theo quy định ở mỗi chương trình, dự án
sản xuất được đầu tư về thôn, bản. Các khuyến nông viên thôn, bản được đào tạo
từng bước, để có trình độ chuyên môn tối thiểu là sơ cấp nông nghiệp.
Cơ quan Khuyến nông tỉnh xây dựng phương án trung hạn cho công tác
khuyến nông miền núi, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực
hiện; trong đó, ưu tiên đào tạo khuyến nông viên thôn, bản; đào tạo nghề nông
Tiếp tục thực hiện các chính sách của Nhà nước về giao đất và cấp giấy
CNQSD đất cho nhân dân yên tâm đầu tư sản xuất, nhất là giao đất để trồng cao
su, trồng cây nguyên liệu; giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình quản
lý, bảo vệ và hưởng lợi từ rừng.
Tăng cường bảo vệ chặt chẽ tài nguyên, khoáng sản, tổ chức truy quét,
xử lý nghiêm tình trạng đào đãi vàng, khai thác tài nguyên trái phép làm hủy
hoại môi trường và sản xuất.
3.6. Giải pháp về vốn đầu tư
Để thực hiện tốt các mục tiêu của Đề án, cần phải huy động mọi nguồn
lực, lồng ghép nhiều nguồn vốn của các chương trình, dự án đầu tư phát triển
KT-XH; vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư trên địa bàn,
vốn và sức lao động của nhân dân.
a) Sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước:
- Ưu tiên tập trung nguồn lực để thực hiện đầu tư phát triển miền núi đạt
mục tiêu, các chỉ tiêu đã đề ra. Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ, đầu tư
thông qua các chương trình, dự án của Trung ương.
20
21
- Hàng năm cân đối từ nguồn tăng thu, vượt thu ngân sách nhà nước,
nguồn thu cấp quyền sử dụng đất và các nguồn vốn khác trên địa bàn tỉnh với
mức tối thiểu 15 tỷ đồng/huyện/năm để hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
cho các huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% nhưng chưa được hưởng chính sách hỗ
trợ cho các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của
Chính phủ.
b) Huy động các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách nhà nước:
- Thực hiện xã hội hóa có sự hỗ trợ của Nhà nước trong đầu tư một số
công trình như: Trường học, trạm xá, chợ, nhà sinh hoạt cộng đồng, đường giao
thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương…
chuẩn cho các xã miền núi.
21
22
- Xây dựng và hoàn thiện các trung tâm dạy nghề, nâng cao chất lượng
đào tạo nghề, tổ chức các mô hình dạy nghề đa dạng, linh hoạt phù hợp với đặc
điểm và điều kiện của từng nhóm đối tượng trên từng địa bàn. Tăng cường trách
nhiệm của các doanh nghiệp được hưởng lợi từ tài nguyên, khoáng sản trong
việc đào tạo và giải quyết nguồn lao động địa phương.
3.9. Giải pháp về phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường
- Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, bồi dưỡng, hướng dẫn kỹ thuật
nhằm thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu của nhân dân; đào tạo, tập huấn cho cán
bộ cơ sở về công tác khuyến Nông - Lâm - Ngư. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển
giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng các mô hình mẫu để
hướng dẫn và nhân rộng trong nhân dân.
- Nhanh chóng hoàn thành việc giao đất, giao rừng theo quy định của
nhà nước cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý; bảo vệ có hiệu quả diện tích
rừng hiện có.
- Tập trung giải quyết dứt điểm những hạn chế, bất cập tại các khu tái
định cư của các dự án thủy điện trên địa bàn miền núi nhằm đảm bảo ổn định sản
xuất và đời sống nhân dân một cách căn bản, lâu dài
- Tăng cường các biện pháp quản lý, ngăn chặn khai thác khoáng sản,
lâm sản trái phép, áp dụng khoa học công nghệ trong quản lý, khai thác tài
nguyên để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Tăng cường nhận thức về các tác động của biến đổi khí hậu và xây
dựng những chương trình hành động ứng phó với biến đối khí hậu.
3.10. Giải pháp về phát triển văn hóa, y tế và giáo dục
- Tiếp tục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn. Đầu tư phát triển hệ thống thông tin
đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt. Chú trọng sắp xếp ổn định những vùng có
dự án tái định cư để đồng bào có cuộc sống tốt hơn. Phấn đấu đến năm 2020 có
100% số hộ ổn định định canh định cư (ĐCĐC), có 100% số điểm ĐCĐC tập
trung đạt tiêu chí, 100% số hộ được dùng điện và được sử dụng nước sinh hoạt
hợp vệ sinh. Tập trung chỉ đạo triển khai hoàn thành các tuyến giao thông đi các
xã vùng cao, đảm bảo đi lại thông suốt trong 4 mùa.
3. Đẩy mạnh cuộc vân động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá ở khu dân cư. Tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức của đồng bào dân
tộc trong việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hoá dân tộc, khôi phục và phát
triển các ngành nghề truyền thống. Tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn thiện các thiết
chế văn hoá: Trạm truyền thanh, sân bóng, nhà sinh hoạt cộng đồng…tạo điều
kiện để nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.
4. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển văn hóa,
giáo dục, phủ sóng phát thanh, truyền hình. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào
đạo; thực hiện tốt chính sách cử tuyển đào tạo con em các dân tộc để sau này trở
về địa phương công tác; nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô dạy nghề và gắn
với giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số. Tăng cường công tác
hoạt động văn hoá thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; tăng thời lượng và
nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc
thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy giá trị văn
hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; nâng cao hơn nữa chất lượng
công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số.
5. Tập trung xây dựng Đảng, Chính quyền, Mặt trận đoàn thể trong sạch
vững mạnh. Củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy từ huyện đến cơ sở, đủ năng lực
lãnh đạo, quản lý điều hành, thực hiện thắng lợi các mục tiêu KT-XH, ANQP.
Chú trọng công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán
bộ DTTS, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ; đẩy mạnh phát triển Đảng viên trong
đồng bào DTTS, xóa thôn, bản còn chi bộ ghép. Thực hiện nghiêm quy chế dân
chủ ở cơ sở và cải cách hành chính theo cơ chế "một cửa". Tiếp tục đẩy mạnh
việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong các tầng lớp
nghề do nhu cầu và phù hợp với thực tiễn của địa phương và hộ gia đình.
Ba là: Rà soát, thực trạng đội ngũ cán bộ trong vùng DTTS, cán bộ
DTTS để đào tạo bồi dưỡng, quy hoạch, bố trí cán bộ phù hợp với năng lực và sở
trường công tác, quan tâm đến tỷ lệ cán bộ DTTS, cán bộ nữ. Chú ý đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, tài chính, xây dựng cơ bản. Đây là điều kiện
quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững.
Bốn là: Tập trung nguồn lực đầu tư cho các xã, thôn bản thuộc diện đặc
biệt khó khăn, các xã vùng khó khăn để phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là
giảm nghèo trong đồng bào DTTS, thu hẹp khoảng cách giữa vùng DTTS và các
vùng khác trong tỉnh; giải quyết ngay những vấn đề bức xúc về việc làm trong
lao động nông thôn và đồng bào DTTS, các vấn đề về lương thực, nước sinh
hoạt, nhà ở; khảo sát, điều tra, thống kê, phân tích làm rõ thành phần DTTS
nghèo nhất hiện nay trên địa bàn tỉnh để có chính sách hỗ trợ tập trung.
Năm là: Nắm vững quan điểm của Đảng, Bác Hồ về công tác dân tộc và
thực hiện chính sách dân tộc; chỉ đạo thực hiện các chính sách dân tộc phải kiên
24
25
trì và sáng tạo, lãnh đạo tập trung thống nhất của cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể
các cấp, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, có quyết tâm cao trong chỉ
đạo, kiên trì trong việc thực hiện mục tiêu. Thực tiễn cho thấy, nơi nào quán triệt
được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách sâu sắc, thực hiện
một cách công khai dân chủ, xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân thì nơi
đó thực hiện thành công và ngược lại.
Sáu là: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền theo phương châm “Chân
thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách “Trọng dân,
gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân” trong công tác dân tộc và
thực hiện chính sách dân tộc. Khơi dậy truyền thống cần cù, sáng tạo của mỗi dân
tộc, khắc phục tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, thực