THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương
trình Ngữ văn THPT theo định hướng phát triển năng lực
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chương trình Ngữ văn THPT lớp 10,11,12
ban cơ bản
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016
4. Tác giả:
Họ và tên: Vũ Lan Phương
Năm sinh: 1976
Nơi thường trú: 11/64 Trần Nhật Duật
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: THPT Chuyên Lê Hồng Phong
Điện thoại: 0932251976
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 50%
5. Đồng tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Hương Quỳnh
Năm sinh: 1990
Nơi thường trú: số nhà 33 đường Nguyễn Hới, thôn Phúc Trọng, xã Mĩ Xá,
thành phố Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cử nhân
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: THPT chuyên Lê Hồng Phong
Điện thoại: 01234083380
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 50%
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: THPT Chuyên Lê Hồng Phong
Địa chỉ: 76 Vị Xuyên
Điện thoại: 0350640297.
[1]
ngữ riêng, đó chính là phong cách ngôn ngữ. Dạy học theo định hướng phát
triển năng lực học sinh áp dụng vào nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong
[2]
chương trình Ngữ văn THPT gồm: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, Phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật (lớp 10); Phong cách ngôn ngữ báo chí, Phong
cách ngôn ngữ chính luận (lớp 11); Phong cách ngôn ngữ khoa học, Phong
cách ngôn ngữ hành chính (lớp 12) không phải để minh họa cho lí thuyết dạy
học mà mục đích chính hướng tới là giúp người học có thể tìm ra câu trả lời
cho câu hỏi: Giao tiếp như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất cũng như
thể hiện được phẩm chất, năng lực, tính cách của người nói?
II. Mô tả giải pháp
1.
Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới
1.1. Ưu, nhược điểm của giải pháp cũ
a/ Phương pháp thuyết trình
Trước khi nền giáo dục nước ta chú trọng vào việc đổi mới, sáng tạo
những phương pháp dạy học tích cực thì phương pháp thuyết trình vẫn được
coi là phương pháp giảng dạy truyền thống, đã tồn tại từ rất lâu, được áp dụng
không chỉ ở môn ngữ văn mà ở hầu khắp các môn học. Hình ảnh “rót nước
vào bình” đã mô tả chính xác phương pháp dạy học này. Khi ấy, giáo viên là
người “rót” những kiến thức cần thiết vào “chiếc bình” là học sinh. Vận dụng
phương pháp thuyết trình vào việc giảng dạy nhóm bài phong cách ngôn ngữ
trong chương trình Ngữ văn THPT ta dễ dàng nhận thấy cái đích hướng tới
của việc học nhóm bài này chỉ để thực hiện những mục tiêu về kiến thức mà
bài học đề ra. Cụ thể như sau:
Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nắm được các khái niệm ngon ngữ
dung giảng dạy, nhưng người dạy cũng vẫn rất mệt mỏi như người học.
Mặt khác, chỉ có mỗi giáo viên là người trình bày, nên dường như giáo
viên là người chịu trách nhiệm duy nhất về thành công và chất lượng bài
giảng. Điều này không thể khuyến khích học sinh tích cực học tập và có tâm
lý ỷ lại vào giáo viên. Trong thực tế, rất nhiều học sinh không thể nhớ được
hết những gì mà thầy cô trình bày và thậm chí còn nhớ rất ít. Hơn nữa, việc
học sinh ghi nhớ những kiến thức mà giáo viên truyền đạt trên lớp không
đồng nghĩa với việc học sinh hiểu và có thể vận dụng được trong thực tế. Bên
cạnh đó, vì học sinh không có cơ hội để chia sẻ, đóng góp những kiến thức và
suy nghĩ, trải nghiệm của mình nên giáo viên đôi khi sẽ trình bày lại những
kiến thức mà học sinh đã biết rồi hoặc không cần thiết. Ngoài ra, giáo viên
không thể thu nhận được ý kiến phản hồi từ học sinh nên họ cũng không thể
biết được những nội dung nào mà học sinh đã hiểu, chưa hiểu và những nội
dung nào cần thiết phải điều chỉnh lại.
[4]
b/ Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Một phương pháp thường được sử dụng khi dạy học tiếng việt đặc biệt
ở những bài về phong cách ngôn ngữ là phương pháp phân tích ngôn ngữ,
Trong phương pháp này, học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo
viên, tiến hành tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, quan sát và phân tích các
hiện tượng đó theo định hướng của bài học, từ đó rút ra những nội dung lý
thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ. Bản chất của phương pháp này mang tính
quy nạp.
Ví dụ: Ở bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, SGK có đưa ra ngữ liệu
như sau:
Hãy thể hiện đúng giọng điệu đoạn ghi chép sau đây:
(Buổi trưa, tại khu tập thể X, hai bạn Lan và Hùng gọi bạn Hương đi học.)
-
-Mục đích viết văn bản
[5]
-Thái độ, quan điểm của người viết đối với những vấn đề được đề cập
đến.
a) Tuyên ngôn
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập nawm1776 của nước Mĩ.
Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự
do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm
1791 cũng nói:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
(…)
(Hồ Chí Minh)
b) Bình luận thời sự
CAO TRÀO CHỐNG NHẬT, CỨU NƯỚC
Ngày 9-3-1945, ở Đông Dương, phát xít Nhật quật thực dân Pháp
xuống chân đài chính trị. Không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ, trong các
thành phố lớn, thực dân Pháp đều hạ súng xin hàng. Nhiều quân đội của
Pháp nhằm biên giới cắm đầu chạy. Riêng ở Cao Bằng và Bắc Cạn, một vài
đội quân của Pháp định thống nhất hành động với Quân Giải phóng Việt
Nam chống Nhật. Ở Bắc Cạn, họ đã cùng ta tổ chức “Ủy ban Pháp-Việt
quyết vấn đề, nếu không bài giảng dễ đi lan man, vòng vo, lạc hướng vấn đề.
c/ Phương pháp luyện tập
Bên cạnh việc nắm vững những kiến thức về phong cách ngôn ngữ
cũng như những đặc trưng của phong cách ngôn ngữ thì việc thực hành để
luyện rèn về kĩ năng cũng vô cùng quan trọng và cần thiết. Bởi vậy phương
pháp luyện tập đã được áp dụng.
Luyện tập với tư cách là phương pháp dạy học là sự chỉ dẫn của giáo
viên, học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những
hoàn cảnh khác nhau nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo.
[7]
Tất cả các môn học nói chung và môn ngữ văn nói riêng đều cần tổ
chức luyện tập nhằm hình thành cho học sinh những hành động trí tuệ hoặc
hành động vận động tương ứng. Đó là những kỹ năng, kỹ xảo giải những bài
tập cùng một loại nhất định. Việc luyện tập không chỉ hình thành và phát triển
những kỹ năng, kỹ xảo từng môn học mà còn những kỹ năng, kỹ xảo chung
như kỹ năng kỹ xảo tư duy logic, tổ chức lao động, học tập một cách khoa
học.
Đối với nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
THPT, người giáo viên vận dụng phương pháp luyện tập nhằm thực hiện
những mục tiêu về kĩ năng cụ thể như sau:
Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nâng cao kĩ năng phân tích và sử
dụng ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
Bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có kĩ năng phân tích và sử dụng
ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Bài Phong cách ngôn ngữ báo chí biết viết một bài đưa tin trên báo
tường, biết phân tích một bài phóng sự hoặc tiểu phẩm báo chí.
Bài Phong cách ngôn ngữ chính luận biết phân tích và viết bài văn nghị
luận chính trị.
yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới
cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những
định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang
tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc
hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người
học.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận
dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một
chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự
học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát
triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập
đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để
thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết
số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp
[9]
dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.
a/ Đặc trưng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp
học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu
những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học
sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng
tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…
Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và
hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới, viết một
kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản,
thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giá các hiện tượng văn học,… quá
trình học tập các nội dung trên là quá trình giải quyết vấn đề theo quy trình đã
xác định. Quá trình giải quyết vấn đề trong môn Ngữ văn có thể được vận
dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học.
* Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong
việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập
và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu
quả để thực hiện ý tưởng. Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh
bộc lộ óc tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá.
Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu
mà môn học Ngữ văn hướng tới. Năng lực này được thể hiện trong việc xác
định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm
trong các văn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng
từ những góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm
xúc của học sinh trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống. Năng lực suy
nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm hiểu của học sinh,
không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức.
* Năng lực hợp tác
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ
để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau. Khi
làm việc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp
đỡ, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng
[11]
huống của cuộc sống.
* Năng lực giao tiếp tiếng Việt
[12]
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe,
nhằm đạt được một mục đích nào đó. Việc trao đổi thông tin được thực hiện
bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong
giao tiếp là ngôn ngữ. Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử
dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về
các phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể,
nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa
những con người với nhau trong xã hội. Năng lực giao tiếp bao gồm các thành
tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của
đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống
phù hợp để đạt được mục đích.
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS năng lực
giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh
mang tính đặc thù của môn học. Thông qua những bài học về sử dụng tiếng
Việt, HS được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng
phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập
những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương
châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp.
Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được giao tiếp
cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng
sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học. Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc
đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp,
coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong
những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống.
Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện
nhân; biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người,
cuộc sống; có những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội;
hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm
văn chương.
Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, học sinh sẽ biết rung động
trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán
những hình tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ
ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành
và phát triển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông
qua việc rèn luyện và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói. Trong quá
trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văn còn giúp học
[14]
sinh từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ
thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo
lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết).
2.2. Về nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
THPT
a/ Khái niệm phong cách ngôn ngữ
Phong cách ngôn ngữ là toàn bộ những đặc điểm về cách thức diễn đạt
tạo thành kiểu diễn đạt trong mỗi loại văn bản nhất định.
b/ Phân loại phong cách ngôn ngữ
Căn cứ vào lĩnh vực giao tiếp trong hoạt động thực tiễn, có các loại
phong cách ngôn ngữ sau:
* Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Là phong cách mang những dấu hiệu đặc trưng của ngôn ngữ dùng
trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày.
Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu thể hiện ở dạng nói, nhưng cũng có thể ở
cơ sở pháp lí.
c/ Đặc trưng cơ bản của các phong cách ngôn ngữ
* Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
-Tính cụ thể: Cụ thể về hoàn cảnh, về con người và về cách nói năng, từ
ngữ diễn đạt.
-Tính cảm xúc: Không một lời nói nào nói ra lại không mang tính cảm
xúc.
-Tính cá thể: Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, ngoài giọng nói thì cách
dùng từ ngữ, lựa chọn kiểu câu của mỗi người cũng thể hiện cá tính: mỗi
người thường có vốn từ ngữ ưa dùng riêng, có những cách nói riêng… Qua
giọng nói, từ ngữ và cách nói quen dùng, ta có thể biết được lời nói của ai,
thậm chí đoán biết được tuổi tác, giới tính, cá tính, địa phương…của họ. Lời
nói là “vẻ mặt thứ hai, diện mạo thứ hai” của con người để phân biệt người
này với người khác, người quen hay kẻ lạ, thậm chí người tốt với người xấu.
* Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
-Tính hình tượng: Là đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ nghệ
thuật.
-Tính truyền cảm: Thể hiện ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật làm cho người
nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu thích…như chính người nói (viết). Sức mạnh
[16]
của ngôn ngữ nghệ thuật là tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm
xúc cho người đọc.
-Tính cá thể hóa: Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt chung của cộng đồng
nhưng khi được các nhà văn nhà thơ sử dụng thì mỗi người lại có khả năng
thể hiện một giọng riêng, một phong cách riêng không dễ bắt chước, pha trộn.
Sự khác nhau về ngôn ngữ là ở cách dùng từ, đặt câu và cách sử dụng hình
ảnh, bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết. Chính những biện pháp xử
lí ngôn ngữ đã tạo ra giọng điệu riêng, phong cách nghệ thuật riêng của từng
cuộc tranh luận, diễn thuyết thì ngữ điệu, giọng nói được coi là phương tiện
quan rọng hỗ trợ cho lí lẽ, ngôn từ.
* Phong cách ngôn ngữ khoa học
- Tính khái quát, trừu tượng: Ngôn ngữ khoa học dùng nhiều thuật ngữ khao
học. Đó là lớp từ chuyên dùng trong từng nghành KH và chỉ dùng để biểu
hiện khái niệm khoa học: lạm phát, suy thoái, xoá đói giảm nghèo, quỹ đạo,
véc-tơ, tiệm cận...Từ ngữ trong văn bản khoa học chỉ dùng với một nghĩa,
không dùng từ đa nghĩa, không dùng các phép tu từ. Sử dụng các kí hiệu, chữ
số, những sơ đồ, bảng biểu, công thức...
Ví dụ: Làm ruộng bậc thang là cách giữ nước hiệu quả nhất của đồng bào
vùng cao.
Từ nước trong câu này chỉ có 1 nghĩa là H2O, không có nghĩa khác như Tổ
quốc, đất nước, bước đi của quân cờ, thế hơn kém...
- Tính lí trí, lôgic: Tính lí trí, lôgíc của ngôn ngữ khoa học thể hiện ở nhiều
phương tiện ngôn ngữ . Ngoài lớp từ ngữ thể hiện khái niệm và tư duy khoa
học, thì câu văn khoa học là câu văn chặt chẽ, mạch lạc, là một đơn vị thông
tin dựa trên cú pháp chuẩn.Câu văn liên kết thành đoạn văn và phục vụ cho
lập luận khao học. Cả văn bản cũng được tổ chức mạch lạc để phục vụ cho lập
luận lô gíc.
- Tính khách quan, phi cá thể: Ngôn ngữ khoa học không mang sắc thái cá
nhân như ngôn ngữ sinh hoạt hay ngôn ngữ nghệ thuật. Có thể có tác giả khoa
học thể hiện sắc thái cá nhân trong ngôn ngữ, nhưng hiện tượng đó là hãn hữu
và không phải là đặc trưng cần yếu của phong cách ngôn ngữ khoa học. Từ
ngữ, câu văn, kết cấu văn bản trong ngôn ngữ KH thiên về tính khái quát, trí
tuệ, lôgíc, do đó tính cá thể, tính biểu cảm không phải là đặc trưng quan trọng.
* Phong cách ngôn ngữ hành chính
- Tính khuôn mẫu: Kết cấu bắt buộc của văn bản hành chính có tính bắt buộc
gồm 3 phần:
[18]
Hay cũng sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ, thay vì tiến hành
trong phạm vi giờ dạy trên lớp, giáo viên nên giao thành một nhiệm vụ học
[19]
tập cho học sinh hoặc nhóm học sinh thực hiện ở nhà. Kết quả của việc thực
hiện nhiệm vụ này sẽ được học sinh(nhóm học sinh) báo cáo ở tiết học hôm
sau.
Phương pháp luyện tập sẽ là cũ mòn nếu giáo viên chỉ yêu cầu học sinh
làm các bài tập luyện tập trong SGK. Chúng ta có thể biến việc luyện tập
thành các trò chơi sau khi học sinh đã nắm được những nội dung kiến thức cơ
bản của bài học. Mô hình trò chơi có thể mô phỏng các chương trình game
show truyền hình nổi tiếng: Ai là triệu phú, Đấu trường 100, Đi tìm ô chữ bí
mật…Kiến thức khi được mã hóa thành những câu hỏi trong trò chơi sẽ tạo
sức hấp dẫn, lôi cuốn học sinh tham gia tìm lời giải. Giáo viên cũng có thể
tích hợp nội dung của tất cả các bài phong cách ngôn ngữ trong một trò chơi
để giúp học sinh ôn tập kiến thức một cách hệ thống.
• Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn
bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và
nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và
dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau,
mỗi một hình thức có những chức năng riêng.
Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp
thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong
thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài
lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc
nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên
hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các
nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình
khoa học, đặc trưng phong cách ngôn ngữ khoa học để thực hiện yêu cầu giáo
viên đưa ra một cách hiệu quả.
• Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học
được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc
sống và nghề nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường
học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối
tương tác xã hội của việc học tập. Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ
đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau,
gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, các môn học được phân theo các môn
khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan
hệ phức hợp. Vì vậy sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc
[21]
phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện
cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, liên môn.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển
hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình
huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm. Vận dụng dạy
học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn
việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình
trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông.
Ví dụ: Ở bài Phong cách ngôn ngữ hành chính, giáo viên có thể giao
nhiệm vụ cho các nhóm học sinh theo tình huống mà học sinh có thể gặp phải
trong môi trường học đường như sau: Viết đơn xin nghỉ học, Viết biên bản
bình xét hạnh kiểm theo tháng…Kiến thức về phong cách ngôn ngữ hành
chính sẽ trở thành công cụ đắc lực giúp học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ học
tập của nhóm mình.
• Vận dụng dạy học định hướng hành động
phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa
phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các
phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử
(E-Learning), mạng trường học kết nối, mạng xã hội facebook…
• Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học
sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá
trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương
pháp dạy học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù
của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại.
Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát
huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể
cá”, bản đồ tư duy…
Ví dụ: Sử dụng bản đồ tư duy đặc biệt có hiệu quả trong việc tổng hợp
kiến thức, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức nhanh hơn. Giáo viên hoặc học
sinh có thể sử dụng phần mềm imindmap để vẽ sơ đồ tư duy cho đặc trưng
của từng phong cách ngôn ngữ.
• Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học,
việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy
học bộ môn. Ở môn Ngữ văn, dạy đọc-hiểu và dạy học tích hợp được xác
định là phương pháp dạy học đặc thù.
[23]
Dạy học đọc – hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản. Vậy thế nào là
dạy học đọc hiểu? Dạy học đọc – hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho
học sinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học, mà hướng đến
việc cung cấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề
văn bản văn học trước hết là tiếp xúc với phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ;
mặt khác, việc thực hành tạo lập các văn bản thông dụng trong nhà trường và
xã hội cũng sử dụng ngôn ngữ làm công cụ. Như vậy, cả ba nội dung văn học,
tiếng Việt và tập làm văn trong môn học này đều có điểm đồng quy là tiếng
Việt và đều có mục đích là hình thành cho học sinh năng lực sử dụng tiếng
Việt trong tiếp nhận và tạo lập văn bản. ,…
Như vậy, có thể nhận thấy việc dạy đọc hiểu và tích hợp đối với nhóm bài
phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT sẽ giúp học sinh biết
vận dụng kiến thức về phong cách ngôn ngữ chức năng để đọc hiểu được
nhiều loại văn bản khác nhau theo đúng đặc trưng của nó. Hơn nữa, những
phương pháp dạy học mang tính đặc thù bộ môn này sẽ giúp học sinh phát
huy năng lực sử dụng tiếng việt cũng như dễ dàng tạo lập được văn bản theo
đúng phong cách chức năng.
• Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc
tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp
nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương
pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp
học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần
luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp
học tập trong bộ môn.
b/ Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
trong một bài học cụ thể: Phong cách ngôn ngữ báo chí
Công việc của giáo viên
Xác định mục tiêu học tập cần đạt
- Về kiến thức: Học sinh nắm được khái niệm, đặc điểm của ngôn ngữ báo chí
và phong cách ngôn ngữ báo chí, phân biệt được phong cách ngôn ngữ báo
chí với các phong cách ngôn ngữ khác bằng việc vận dụng kiến thức liên
môn.
Cụ thể, chúng tôi đã vận dụng kiến thức liên môn như sau: