MỤC LỤC
I.
Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến.........................................2
II. Mô tả giải pháp…………………………………………………3
1. Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới…………………3
1.1.
Ưu, nhược điểm của giải pháp cũ…………………………3
a/ Phương pháp thuyết trình…………………………………..........3
b/ Phương pháp phân tích ngôn ngữ……………………………......5
c/ Phương pháp luyện tập……………………………………….……7
1.2. Tiểu kết……………………………………………………………..8
2.Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến………………………………..9
2.1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực………………….9
a/ Đặc trưng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực…10
b/ Các năng lực môn Ngữ văn hướng đến…………………………..11
2.2. Về nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
THPT……………………………………………………………………….15
a/ Khái niệm phong cách ngôn ngữ…………………………………..15
b/ Phân loại phong cách ngôn ngữ…………………………………...15
c/ Đặc trưng cơ bản của các phong cách ngôn ngữ……………….…16
2.3. Dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT
theo định hướng phát triển năng lực………………………………….…..19
a/ Áp dụng một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học……....19
b/ Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong một
bài học cụ thể: Phong cách ngôn ngữ báo chí…………………………….25
III.
Nơi thường trú: số nhà 33 đường Nguyễn Hới, thôn Phúc Trọng, xã Mĩ Xá,
thành phố Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cử nhân
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: THPT chuyên Lê Hồng Phong
Điện thoại: 01234083380
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 50%
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: THPT Chuyên Lê Hồng Phong
Địa chỉ: 76 Vị Xuyên
[2]
Điện thoại: 0350640297.
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Trong những năm gần đây, nền giáo dục nước ta đang tích cực chuyển
mình, từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung chuyển sang tiếp cận năng
lực của người học. Phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều”
không còn thích hợp. Thay vào đó, dạy cách học, cách vận dụng kiến thức,
rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất được quan tâm. Trong
bối cảnh ấy, việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát
triển năng lực của người học là cần thiết.
Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là
thông qua môn học, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ
chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân,… nhằm đáp
ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh
nhất định. Các năng lực đặc thù của môn học gồm: năng lực giao tiếp tiếng
Việt và năng lực thưởng thức văn học,cảm thụ thẩm mỹ. Ngoài ra, học sinh
1.1. Ưu, nhược điểm của giải pháp cũ
a/ Phương pháp thuyết trình
Trước khi nền giáo dục nước ta chú trọng vào việc đổi mới, sáng tạo
những phương pháp dạy học tích cực thì phương pháp thuyết trình vẫn được
coi là phương pháp giảng dạy truyền thống, đã tồn tại từ rất lâu, được áp dụng
không chỉ ở môn ngữ văn mà ở hầu khắp các môn học. Hình ảnh “rót nước
vào bình” đã mô tả chính xác phương pháp dạy học này. Khi ấy, giáo viên là
người “rót” những kiến thức cần thiết vào “chiếc bình” là học sinh. Vận dụng
phương pháp thuyết trình vào việc giảng dạy nhóm bài phong cách ngôn ngữ
trong chương trình Ngữ văn THPT ta dễ dàng nhận thấy cái đích hướng tới
của việc học nhóm bài này chỉ để thực hiện những mục tiêu về kiến thức mà
bài học đề ra. Cụ thể như sau:
Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nắm được các khái niệm ngon ngữ
sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt với những đặc trưng cơ bản của nó.
Bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật nắm được khái niệm ngôn ngữ
nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật với các đặc trưng cơ bản của nó.
Bài Phong cách ngôn ngữ báo chí hiểu được khái niệm ngôn ngữ báo
chí, các thể loại chủ yếu của văn bản báo chí và đặc điểm của phong cách
ngôn ngữ báo chí.
Bài Phong cách ngôn ngữ chính luận hiểu được khái niệm ngôn ngữ
chính luận, các loại văn bản chính luận và đặc điểm của phong cách ngôn ngữ
chính luận.
[4]
Bài Phong cách ngôn ngữ khoa học nắm vững các khái niệm văn bản
khoa học, phong cách ngon ngữ khoa học và các đặc trưng của phong cách ấy.
Bài Phong cách ngôn ngữ hành chính nắm vững khái niệm ngôn ngữ
hành chính và các đặc trưng cơ bản
b/ Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Một phương pháp thường được sử dụng khi dạy học tiếng việt đặc biệt
ở những bài về phong cách ngôn ngữ là phương pháp phân tích ngôn ngữ,
Trong phương pháp này, học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo
viên, tiến hành tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, quan sát và phân tích các
hiện tượng đó theo định hướng của bài học, từ đó rút ra những nội dung lý
thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ. Bản chất của phương pháp này mang tính
quy nạp.
Ví dụ: Ở bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, SGK có đưa ra ngữ liệu
như sau:
Hãy thể hiện đúng giọng điệu đoạn ghi chép sau đây:
(Buổi trưa, tại khu tập thể X, hai bạn Lan và Hùng gọi bạn Hương đi học.)
-
Hương ơi! Đi học đi!
(Im lặng)
-
Hương ơi! Đi học đi! (Lan và Hùng gào lên)
Gì mà ầm ầm lên thế chúng mày! Không cho ai ngủ ngáy nữa à! (tiếng
một người đàn ông nói to)
Các cháu ơi, khẽ chứ! Để cho các bác ngủ trưa vơi!...Nhanh lên con,
Hương! (tiếng mẹ Hương nhẹ nhàng ôn tồn)
-
Đây rồi, ra đây! (tiếng Hương nhỏ nhẹ)
1791 cũng nói:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
(…)
(Hồ Chí Minh)
b) Bình luận thời sự
CAO TRÀO CHỐNG NHẬT, CỨU NƯỚC
Ngày 9-3-1945, ở Đông Dương, phát xít Nhật quật thực dân Pháp
xuống chân đài chính trị. Không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ, trong các
thành phố lớn, thực dân Pháp đều hạ súng xin hàng. Nhiều quân đội của
Pháp nhằm biên giới cắm đầu chạy. Riêng ở Cao Bằng và Bắc Cạn, một vài
đội quân của Pháp định thống nhất hành động với Quân Giải phóng Việt
Nam chống Nhật. Ở Bắc Cạn, họ đã cùng ta tổ chức “Ủy ban Pháp-Việt
chống Nhật”. Nhưng không bao lâu họ cũng bỏ ta chạy sang Trung Quốc. Có
thể nói là quân Pháp ở Đông Dương đã không kháng chiến và công cuộc
kháng chiến ở Đông Dương là công cuộc duy nhất của nhân dân ta (…)
(Trường Chinh, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 1, NXB
Sự thật, 1976)
[7]
c) Xã luận
VIỆT NAM ĐI TỚI
Khắp non sông Việt Nam đang bừng dậy một sinh khí mới. Sinh khí ấy
đang biểu hiện trên khuôn mặt từng người dân, trong từng thôn bản, ngõ phố,
trên từng cánh đồng, công trường, trong từng viện nghiên cứu, trên các chốt
tiền tiêu đầu sóng ngọn gió…
Rạo rực đất trời, rạo rực lòng người! (…)
Đất nước đang căng tràn sức xuân trong ý chí và khát vọng vươn tới
những kỹ năng, kỹ xảo từng môn học mà còn những kỹ năng, kỹ xảo chung
như kỹ năng kỹ xảo tư duy logic, tổ chức lao động, học tập một cách khoa
học.
Đối với nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
THPT, người giáo viên vận dụng phương pháp luyện tập nhằm thực hiện
những mục tiêu về kĩ năng cụ thể như sau:
Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nâng cao kĩ năng phân tích và sử
dụng ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
Bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có kĩ năng phân tích và sử dụng
ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Bài Phong cách ngôn ngữ báo chí biết viết một bài đưa tin trên báo
tường, biết phân tích một bài phóng sự hoặc tiểu phẩm báo chí.
Bài Phong cách ngôn ngữ chính luận biết phân tích và viết bài văn nghị
luận chính trị.
Bài Phong cách ngôn ngữ khoa học có kĩ năng phân biệt phong cách
ngôn ngữ khoa học với các phong cách ngôn ngữ khác và biết sử dụng ngôn
ngữ khoa học trong các trường hợp cần thiết.
Bài Phong cách ngôn ngữ hành chính có kĩ năng soạn thảo một số văn
bản hành chính khi cần thiết.
Phương pháp luyện tập thể hiện ưu điểm trong việc giúp người học vận
dụng và ghi nhớ những kiến thức đã học. Luyện tập là cách để học sinh rèn kĩ
năng hiệu quả và giúp các em chủ động trong việc tiếp thu kiến thức.
Tuy vậy với thời lượng có hạn cho một bài dạy, áp dụng phương pháp
luyện tập khiến người dạy phải dành nhiều thời gian cho học sinh làm bài.
Tốc độ làm bài luyện tập của học sinh không giống nhau, khó chọn được bài
luyện vừa sức trong thời gian định trước cho tất cả mọi người.
1.2. Tiểu kết
[9]
số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp
[10]
dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.
a/ Đặc trưng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp
học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu
những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học
sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng
tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…
Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và
các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm
tòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như
phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen…
để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết
và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ
học tập chung.
Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học).
Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh
với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự
xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa
chữa các sai sót.
b/ Các năng lực môn Ngữ văn hướng đến
* Năng lực giải quyết vấn đề
từ những góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm
xúc của học sinh trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống. Năng lực suy
nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm hiểu của học sinh,
không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức.
* Năng lực hợp tác
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ
để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau. Khi
làm việc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp
đỡ, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng
[12]
dân chủ. Đây là hình thức học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả
về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập.
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá
nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống. Năng lực hợp tác cho thấy khả
năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối
quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung. Đây là
một năng lực rất cần thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong
một môi trường, một không gian rộng mở của quá trình hội nhập.
Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc học sinh
cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực
hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học. Thông qua các hoạt động
nhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những
vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm
để tự điều chỉnh cá nhân mình. Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần
hình thành nhân cách của người học sinh trong bối cảnh mới.
* Năng lực tự quản bản thân
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS năng lực
giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh
mang tính đặc thù của môn học. Thông qua những bài học về sử dụng tiếng
Việt, HS được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng
phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập
những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương
châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp.
Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được giao tiếp
cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng
sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học. Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc
đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp,
coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong
những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống.
Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện
ở 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức
và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống.
* Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong
việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và
cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện,
từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện.
[14]
Như vậy, năng lực cảm thụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với
hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân. Chỉ số này mô tả khả
năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi
người, của người khác, của các nhóm cảm xúc.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn,
gắn với tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học. Quá trình
cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực
tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết).
2.2. Về nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
THPT
a/ Khái niệm phong cách ngôn ngữ
Phong cách ngôn ngữ là toàn bộ những đặc điểm về cách thức diễn đạt
tạo thành kiểu diễn đạt trong mỗi loại văn bản nhất định.
b/ Phân loại phong cách ngôn ngữ
Căn cứ vào lĩnh vực giao tiếp trong hoạt động thực tiễn, có các loại
phong cách ngôn ngữ sau:
* Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Là phong cách mang những dấu hiệu đặc trưng của ngôn ngữ dùng
trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày.
Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu thể hiện ở dạng nói, nhưng cũng có thể ở
dạng viết. Trong văn bản văn học, lời thoại của nhân vật là dạng tái hiện, mô
phỏng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày.
* Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn
chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ
của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ
ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ.
* Phong cách ngôn ngữ báo chí
Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong
nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng,
nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Ngôn ngữ báo chí được sử dụng ở những
thể loại tiêu biểu là bản tin, phóng sự, tiểu phẩm…
* Phong cách ngôn ngữ chính luận
Ngôn ngữ chính luận là ngôn ngữ được dùng trong các văn bản chính
luận hoặc lời nói miệng (khẩu ngữ) trong các buổi hội nghị, hội thảo, nói
chuyện thời sự…nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những
thuật.
-Tính truyền cảm: Thể hiện ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật làm cho người
nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu thích…như chính người nói (viết). Sức mạnh
[17]
của ngôn ngữ nghệ thuật là tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm
xúc cho người đọc.
-Tính cá thể hóa: Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt chung của cộng đồng
nhưng khi được các nhà văn nhà thơ sử dụng thì mỗi người lại có khả năng
thể hiện một giọng riêng, một phong cách riêng không dễ bắt chước, pha trộn.
Sự khác nhau về ngôn ngữ là ở cách dùng từ, đặt câu và cách sử dụng hình
ảnh, bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết. Chính những biện pháp xử
lí ngôn ngữ đã tạo ra giọng điệu riêng, phong cách nghệ thuật riêng của từng
nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật.
Tính cá thể hóa còn được thể hiện ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân
vật trong tác phẩm nghệ thuật; ở nét riêng trong cách diễn đjat từng sự việc,
từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm.
Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật những sáng tạo mới lạ, không
trùng lặp.
* Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Tính thông tin thời sự: Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ thông tin thời sự
cập nhật, truyền bá những tin tức nóng hổi hàng ngày trên mọi lĩnh vực hoạt
động của xã hội. Để đảm bảo chất lượng thông tin, ngôn ngữ phải chính xác,
nhất là những thông tin về địa điểm, thời gian, nhân vật, sự kiện.
-Tính ngắn gọn: Văn báo chí là lối văn ngắn gọn, lượng thông tin cao.
-Tính sinh động, hấp dẫn: Muốn thu hút sự chú ý của người đọc, ngôn ngữ
báo chí phải kích thích sự tò mò, hiểu biết của họ. Điều đó thể hiện ở cách
dùng từ và đặt câu, nhưng trước hết là ở những tiêu đề của bài báo.
* Phong cách ngôn ngữ chính luận
tin dựa trên cú pháp chuẩn.Câu văn liên kết thành đoạn văn và phục vụ cho
lập luận khao học. Cả văn bản cũng được tổ chức mạch lạc để phục vụ cho lập
luận lô gíc.
- Tính khách quan, phi cá thể: Ngôn ngữ khoa học không mang sắc thái cá
nhân như ngôn ngữ sinh hoạt hay ngôn ngữ nghệ thuật. Có thể có tác giả khoa
học thể hiện sắc thái cá nhân trong ngôn ngữ, nhưng hiện tượng đó là hãn hữu
và không phải là đặc trưng cần yếu của phong cách ngôn ngữ khoa học. Từ
ngữ, câu văn, kết cấu văn bản trong ngôn ngữ KH thiên về tính khái quát, trí
tuệ, lôgíc, do đó tính cá thể, tính biểu cảm không phải là đặc trưng quan trọng.
* Phong cách ngôn ngữ hành chính
- Tính khuôn mẫu: Kết cấu bắt buộc của văn bản hành chính có tính bắt buộc
gồm 3 phần:
[19]
+ Phần đầu: quốc hiệu, tiêu ngữ; tên cơ quan ban hành, số hiệu văn bản, địa
điểm, thời gian ban hành văn bản
+ Phần chính: nội dung văn bản.
+ Phần cuối: chức vụ, chữ kí và họ tên của người kí văn bản, dấu cơ quan, nơi
nhận…
- Tính minh xác: Mỗi từ chỉ có một nghĩa, mỗi câu chỉ có một ý, không dùng
lối biểu đạt hàm ý hoặc phép tu từ.
- Tính công vụ: Tính chất chung của cộng đồng hay tập thể. Những biểu đạt
tình cảm của cá nhân bị hạn chế ở mức tối đa. Các từ ngữ biểu cảm nếu dùng
chỉ mang tính khuôn mẫu, ước lệ ( kính chuyển- kính mong- kính gửi)
2.3. Dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
THPT theo định hướng phát triển năng lực
a/ Áp dụng một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học
• Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học truyền thống, người
để giúp học sinh ôn tập kiến thức một cách hệ thống.
• Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn
bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và
nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và
dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau,
mỗi một hình thức có những chức năng riêng.
Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp
thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong
thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài
lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc
nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên
hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các
nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình
thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một
hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương
pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án.
Ví dụ: Ở bài Phong cách ngôn ngữ báo chí, giáo viên có thể chia nhóm học
tập theo một số thể loại thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí như: nhóm Bản
tin, nhóm Phóng sự, nhóm Phỏng vấn, nhóm Quảng cáo, nhóm Tiểu phẩm…
Ở mỗi nhóm học tập đó, học sinh sẽ sử dụng phương pháp đóng vai để hoàn
[21]
thành nhiệm vụ được giao. Như nhóm Bản tin sẽ thu thập thông tin để viết
một bản tin về chính ngôi trường mình đang theo học, nhóm Phỏng vấn sẽ
vào vai phóng viên tiến hành phỏng vấn, trao đổi với một nhân vật nào đó
theo yêu cầu của giáo viên, nhóm Phóng sự sẽ tiến hành thực hiện một video
phóng sự về một vấn đề có tính thời sự…
• Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, liên môn.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển
hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình
huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm. Vận dụng dạy
học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn
việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình
trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông.
Ví dụ: Ở bài Phong cách ngôn ngữ hành chính, giáo viên có thể giao
nhiệm vụ cho các nhóm học sinh theo tình huống mà học sinh có thể gặp phải
trong môi trường học đường như sau: Viết đơn xin nghỉ học, Viết biên bản
bình xét hạnh kiểm theo tháng…Kiến thức về phong cách ngôn ngữ hành
chính sẽ trở thành công cụ đắc lực giúp học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ học
tập của nhóm mình.
• Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt
động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình
học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm
hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay
chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Vận
dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện
nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà
trường và xã hội.
Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng
hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học
tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có
tạo ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận
dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo,
dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học
khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành
động.
kiến thức, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức nhanh hơn. Giáo viên hoặc học
sinh có thể sử dụng phần mềm imindmap để vẽ sơ đồ tư duy cho đặc trưng
của từng phong cách ngôn ngữ.
• Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học,
việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong
[24]
dạy học bộ môn. Ở môn Ngữ văn, dạy đọc-hiểu và dạy học tích hợp được xác
định là phương pháp dạy học đặc thù.
Dạy học đọc – hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản. Vậy thế nào là
dạy học đọc hiểu? Dạy học đọc – hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho
học sinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học, mà hướng đến
việc cung cấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề
về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng
lực tự đọc một cách tích cực, chủ động có sắc thái cá nhân. Hoạt động đọc –
hiểu cần được thực hiện theo một trình tựvbn h từ dễ đến khó, từ thấp đến
cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái
hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình thành năng lực đọc – hiểu của học sinh cũng
chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng
tượng và tư duy. Năng lực đọc – hiểu còn là sự tích hợp kiến thức kỹ năng
của các phân môn cũng như kinh nghiệm sống của học sinh.
Các nhiệm vụ cơ bản của người học khi đọc – hiểu:
+ Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối…thông tin để tạo nên
hiểu biết chung về văn bản.
+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
+ Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại