THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương
trình Ngữ văn THPT theo định hướng phát triển năng lực
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chương trình Ngữ văn THPT lớp 10,11,12
ban cơ bản
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016
4. Tác giả:
Họ và tên: Vũ Lan Phương
Năm sinh: 1976
Nơi thường trú: 11/64 Trần Nhật Duật
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: THPT Chuyên Lê Hồng Phong
Điện thoại: 0932251976
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 50%
5. Đồng tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Hương Quỳnh
Năm sinh: 1990
Nơi thường trú: số nhà 33 đường Nguyễn Hới, thôn Phúc Trọng, xã Mĩ Xá,
thành phố Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cử nhân
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: THPT chuyên Lê Hồng Phong
Điện thoại: 01234083380
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 50%
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: THPT Chuyên Lê Hồng Phong
Địa chỉ: 76 Vị Xuyên
Điện thoại: 0350640297.
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
tín hiệu). Các cách thức thể hiện tập hợp thành những kiểu phương tiện ngôn
ngữ riêng, đó chính là phong cách ngôn ngữ. Dạy học theo định hướng phát
triển năng lực học sinh áp dụng vào nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong
chương trình Ngữ văn THPT gồm: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, Phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật (lớp 10); Phong cách ngôn ngữ báo chí, Phong
cách ngôn ngữ chính luận (lớp 11); Phong cách ngôn ngữ khoa học, Phong
cách ngôn ngữ hành chính (lớp 12) không phải để minh họa cho lí thuyết dạy
học mà mục đích chính hướng tới là giúp người học có thể tìm ra câu trả lời
cho câu hỏi: Giao tiếp như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất cũng như
thể hiện được phẩm chất, năng lực, tính cách của người nói?
II. Mô tả giải pháp
1.
Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới
1.1. Ưu, nhược điểm của giải pháp cũ
a/ Phương pháp thuyết trình
Trước khi nền giáo dục nước ta chú trọng vào việc đổi mới, sáng tạo
những phương pháp dạy học tích cực thì phương pháp thuyết trình vẫn được
coi là phương pháp giảng dạy truyền thống, đã tồn tại từ rất lâu, được áp dụng
không chỉ ở môn ngữ văn mà ở hầu khắp các môn học. Hình ảnh “rót nước
vào bình” đã mô tả chính xác phương pháp dạy học này. Khi ấy, giáo viên là
người “rót” những kiến thức cần thiết vào “chiếc bình” là học sinh. Vận dụng
[2]
phương pháp thuyết trình vào việc giảng dạy nhóm bài phong cách ngôn ngữ
trong chương trình Ngữ văn THPT ta dễ dàng nhận thấy cái đích hướng tới
của việc học nhóm bài này chỉ để thực hiện những mục tiêu về kiến thức mà
bài học đề ra. Cụ thể như sau:
Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nắm được các khái niệm ngon ngữ
sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt với những đặc trưng cơ bản của nó.
lý ỷ lại vào giáo viên. Trong thực tế, rất nhiều học sinh không thể nhớ được
hết những gì mà thầy cô trình bày và thậm chí còn nhớ rất ít. Hơn nữa, việc
học sinh ghi nhớ những kiến thức mà giáo viên truyền đạt trên lớp không
đồng nghĩa với việc học sinh hiểu và có thể vận dụng được trong thực tế. Bên
cạnh đó, vì học sinh không có cơ hội để chia sẻ, đóng góp những kiến thức và
[3]
suy nghĩ, trải nghiệm của mình nên giáo viên đôi khi sẽ trình bày lại những
kiến thức mà học sinh đã biết rồi hoặc không cần thiết. Ngoài ra, giáo viên
không thể thu nhận được ý kiến phản hồi từ học sinh nên họ cũng không thể
biết được những nội dung nào mà học sinh đã hiểu, chưa hiểu và những nội
dung nào cần thiết phải điều chỉnh lại.
b/ Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Một phương pháp thường được sử dụng khi dạy học tiếng việt đặc biệt
ở những bài về phong cách ngôn ngữ là phương pháp phân tích ngôn ngữ,
Trong phương pháp này, học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo
viên, tiến hành tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, quan sát và phân tích các
hiện tượng đó theo định hướng của bài học, từ đó rút ra những nội dung lý
thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ. Bản chất của phương pháp này mang tính
quy nạp.
Ví dụ: Ở bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, SGK có đưa ra ngữ liệu
như sau:
Hãy thể hiện đúng giọng điệu đoạn ghi chép sau đây:
(Buổi trưa, tại khu tập thể X, hai bạn Lan và Hùng gọi bạn Hương đi học.)
Hương ơi! Đi học đi!
(Im lặng)
Hương ơi! Đi học đi! (Lan và Hùng gào lên)
Gì mà ầm ầm lên thế chúng mày! Không cho ai ngủ ngáy nữa à! (tiếng
một người đàn ông nói to)
được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
(…)
(Hồ Chí Minh)
b) Bình luận thời sự
CAO TRÀO CHỐNG NHẬT, CỨU NƯỚC
Ngày 9-3-1945, ở Đông Dương, phát xít Nhật quật thực dân Pháp
xuống chân đài chính trị. Không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ, trong các
thành phố lớn, thực dân Pháp đều hạ súng xin hàng. Nhiều quân đội của
Pháp nhằm biên giới cắm đầu chạy. Riêng ở Cao Bằng và Bắc Cạn, một vài
đội quân của Pháp định thống nhất hành động với Quân Giải phóng Việt
Nam chống Nhật. Ở Bắc Cạn, họ đã cùng ta tổ chức “Ủy ban Pháp-Việt
chống Nhật”. Nhưng không bao lâu họ cũng bỏ ta chạy sang Trung Quốc. Có
thể nói là quân Pháp ở Đông Dương đã không kháng chiến và công cuộc
kháng chiến ở Đông Dương là công cuộc duy nhất của nhân dân ta (…)
(Trường Chinh, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 1, NXB
Sự thật, 1976)
c) Xã luận
VIỆT NAM ĐI TỚI
Khắp non sông Việt Nam đang bừng dậy một sinh khí mới. Sinh khí ấy
đang biểu hiện trên khuôn mặt từng người dân, trong từng thôn bản, ngõ phố,
trên từng cánh đồng, công trường, trong từng viện nghiên cứu, trên các chốt
tiền tiêu đầu sóng ngọn gió…
Rạo rực đất trời, rạo rực lòng người! (…)
Đất nước đang căng tràn sức xuân trong ý chí và khát vọng vươn tới
của 80 triệu người con đất Việt. Nguồn sinh lực mới được kết tụ và nhân lên
trong xuân Giáp Thân đang hứa hẹn tạo ra một sức băng lướt mới trên con
đường dài xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
[5]
những mục tiêu về kĩ năng cụ thể như sau:
Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nâng cao kĩ năng phân tích và sử
dụng ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
Bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có kĩ năng phân tích và sử dụng
ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Bài Phong cách ngôn ngữ báo chí biết viết một bài đưa tin trên báo
tường, biết phân tích một bài phóng sự hoặc tiểu phẩm báo chí.
Bài Phong cách ngôn ngữ chính luận biết phân tích và viết bài văn nghị
luận chính trị.
[6]
Bài Phong cách ngôn ngữ khoa học có kĩ năng phân biệt phong cách
ngôn ngữ khoa học với các phong cách ngôn ngữ khác và biết sử dụng ngôn
ngữ khoa học trong các trường hợp cần thiết.
Bài Phong cách ngôn ngữ hành chính có kĩ năng soạn thảo một số văn
bản hành chính khi cần thiết.
Phương pháp luyện tập thể hiện ưu điểm trong việc giúp người học vận
dụng và ghi nhớ những kiến thức đã học. Luyện tập là cách để học sinh rèn kĩ
năng hiệu quả và giúp các em chủ động trong việc tiếp thu kiến thức.
Tuy vậy với thời lượng có hạn cho một bài dạy, áp dụng phương pháp
luyện tập khiến người dạy phải dành nhiều thời gian cho học sinh làm bài.
Tốc độ làm bài luyện tập của học sinh không giống nhau, khó chọn được bài
luyện vừa sức trong thời gian định trước cho tất cả mọi người.
1.2. Tiểu kết
Các phương pháp dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong
chương trình Ngữ văn THPT mang tính truyền thống như thuyết trình, phân
tích ngôn ngữ, luyện tập… luôn quan trọng. Đổi mới không có nghĩa là loại
bỏ phương pháp này mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả
dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.
a/ Đặc trưng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp
học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu
những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học
sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng
tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…
Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và
các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm
tòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như
phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen…
để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết
và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ
học tập chung.
Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học).
Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh
với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác
định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa
các sai sót.
b/ Các năng lực môn Ngữ văn hướng đến
* Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề là một năng lực chung, thể hiện khả năng
của mỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn
đề trong học tập và cuộc sống mà không có định hướng trước về kết quả, và
tìm các giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua
đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ
để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau. Khi
làm việc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp
đỡ, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng
dân chủ. Đây là hình thức học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả
về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập.
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá
nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống. Năng lực hợp tác cho thấy khả
năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối
quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung. Đây là
một năng lực rất cần thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong
một môi trường, một không gian rộng mở của quá trình hội nhập.
Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc học sinh
cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực
hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học. Thông qua các hoạt động
nhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những
vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm
để tự điều chỉnh cá nhân mình. Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần
hình thành nhân cách của người học sinh trong bối cảnh mới.
* Năng lực tự quản bản thân
[9]
Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con người trong việc kiểm
soát cảm xúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc
biết lập kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều
chỉnh hành vi của cá nhân trong các bối cảnh khác nhau. Khả năng tự quản
bản thân giúp mỗi người luôn chủ động và có trách nhiệm đối với những suy
nghĩ, việc làm của mình, sống có kỉ luật, biết tôn trọng người khác và tôn
sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học. Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc
đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp,
coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong
những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống.
[10]
Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện
ở 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức
và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống.
* Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong
việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và
cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện,
từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện.
Như vậy, năng lực cảm thụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với
hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân. Chỉ số này mô tả khả
năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi
người, của người khác, của các nhóm cảm xúc.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn,
gắn với tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học. Quá trình
tiếp xúc với tác phẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới
hình tượng của tác phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa
tâm hồn của mình. Năng lực cảm xúc, như trên đã nói, được thể hiện ở nhiều
khía cạnh; trong quá trình người học tiếp nhận tác phẩm văn chương năng lực
cảm xúc được thể hiện ở những phương diện sau:
– Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những
hình ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người,
cuộc sống qua ngôn ngữ nghệ thuật.
Căn cứ vào lĩnh vực giao tiếp trong hoạt động thực tiễn, có các loại
phong cách ngôn ngữ sau:
* Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Là phong cách mang những dấu hiệu đặc trưng của ngôn ngữ dùng
trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày.
Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu thể hiện ở dạng nói, nhưng cũng có thể ở
dạng viết. Trong văn bản văn học, lời thoại của nhân vật là dạng tái hiện, mô
phỏng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày.
* Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn
chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ
của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ
ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ.
* Phong cách ngôn ngữ báo chí
Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong
nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng,
nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Ngôn ngữ báo chí được sử dụng ở những
thể loại tiêu biểu là bản tin, phóng sự, tiểu phẩm…
* Phong cách ngôn ngữ chính luận
Ngôn ngữ chính luận là ngôn ngữ được dùng trong các văn bản chính
luận hoặc lời nói miệng (khẩu ngữ) trong các buổi hội nghị, hội thảo, nói
chuyện thời sự…nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những
vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng…theo một quan điểm chính trị
nhất định.
* Phong cách ngôn ngữ khoa học
Là ngôn ngữ được dùng trong phạm vi giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa
học.
+ Dạng viết : sử dụng từ ngữ khoa học và các kí hiệu, công thức, sơ đồ…
+ Dạng nói : yêu cầu cao về phát âm, diễn đạt trên cơ sở một đề cương.
* Phong cách ngôn ngữ hành chính
Sự khác nhau về ngôn ngữ là ở cách dùng từ, đặt câu và cách sử dụng hình
ảnh, bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết. Chính những biện pháp xử
lí ngôn ngữ đã tạo ra giọng điệu riêng, phong cách nghệ thuật riêng của từng
nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật.
Tính cá thể hóa còn được thể hiện ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân
vật trong tác phẩm nghệ thuật; ở nét riêng trong cách diễn đjat từng sự việc,
từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm.
Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật những sáng tạo mới lạ, không
trùng lặp.
* Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Tính thông tin thời sự: Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ thông tin thời sự
cập nhật, truyền bá những tin tức nóng hổi hàng ngày trên mọi lĩnh vực hoạt
[13]
động của xã hội. Để đảm bảo chất lượng thông tin, ngôn ngữ phải chính xác,
nhất là những thông tin về địa điểm, thời gian, nhân vật, sự kiện.
-Tính ngắn gọn: Văn báo chí là lối văn ngắn gọn, lượng thông tin cao.
-Tính sinh động, hấp dẫn: Muốn thu hút sự chú ý của người đọc, ngôn ngữ
báo chí phải kích thích sự tò mò, hiểu biết của họ. Điều đó thể hiện ở cách
dùng từ và đặt câu, nhưng trước hết là ở những tiêu đề của bài báo.
* Phong cách ngôn ngữ chính luận
-Tính công khai về quan điểm chính trị: Tuy đề tài của những văn bản
chính luận là những vấn đề thời sự trong cuộc sống nhưng ngôn từ chính luận
không chỉ có chức năng thông tin một cách khách quan mà phải thể hiện
đường lối, quan điểm, thái độ chính trị của người viết (hay nói) một cách công
khai, dứt khoát, không che giấu, úp mở.
-Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận: Trừ những lời phát biểu đơn lẻ,
phong cách chính luận thể hiện tính chặt chẽ của hệ thống lập luận.
-Tính truyền cảm, thuyết phục:Ngôn ngữ chính luận là công cụ để trình
tuệ, lôgíc, do đó tính cá thể, tính biểu cảm không phải là đặc trưng quan trọng.
* Phong cách ngôn ngữ hành chính
- Tính khuôn mẫu: Kết cấu bắt buộc của văn bản hành chính có tính bắt buộc
gồm 3 phần:
+ Phần đầu: quốc hiệu, tiêu ngữ; tên cơ quan ban hành, số hiệu văn bản, địa
điểm, thời gian ban hành văn bản
+ Phần chính: nội dung văn bản.
+ Phần cuối: chức vụ, chữ kí và họ tên của người kí văn bản, dấu cơ quan, nơi
nhận…
- Tính minh xác: Mỗi từ chỉ có một nghĩa, mỗi câu chỉ có một ý, không dùng
lối biểu đạt hàm ý hoặc phép tu từ.
- Tính công vụ: Tính chất chung của cộng đồng hay tập thể. Những biểu đạt
tình cảm của cá nhân bị hạn chế ở mức tối đa. Các từ ngữ biểu cảm nếu dùng
chỉ mang tính khuôn mẫu, ước lệ ( kính chuyển- kính mong- kính gửi)
2.3. Dạy học nhóm bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn
THPT theo định hướng phát triển năng lực
a/ Áp dụng một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học
• Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học truyền thống, người
giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các
kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ
thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm
mẫu trong luyện tập.
Những phương pháp mang tính truyền thống như thuyết trình, phân tích
ngôn ngữ, luyện tập vẫn có thể phát huy tác dụng nếu người giáo viên biết
cách vận dụng chúng hợp lí.
Ví dụ: Thay vì giáo viên thuyết trình nội dung học tập của bài học về các
phong cách ngôn ngữ khác nhau cho học sinh, học sinh có thể thuyết trình
những vấn đề mình hoặc nhóm học tập của mình đã tiếp cận được trong quá
trình tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu. Hoạt động này có thể tích hợp với bài
nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên
hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các
nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình
thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một
hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương
pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án.
Ví dụ: Ở bài Phong cách ngôn ngữ báo chí, giáo viên có thể chia nhóm học
tập theo một số thể loại thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí như: nhóm Bản
tin, nhóm Phóng sự, nhóm Phỏng vấn, nhóm Quảng cáo, nhóm Tiểu phẩm…
Ở mỗi nhóm học tập đó, học sinh sẽ sử dụng phương pháp đóng vai để hoàn
thành nhiệm vụ được giao. Như nhóm Bản tin sẽ thu thập thông tin để viết
một bản tin về chính ngôi trường mình đang theo học, nhóm Phỏng vấn sẽ
vào vai phóng viên tiến hành phỏng vấn, trao đổi với một nhân vật nào đó
theo yêu cầu của giáo viên, nhóm Phóng sự sẽ tiến hành thực hiện một video
phóng sự về một vấn đề có tính thời sự…
• Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải
quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng
nhận biết và giải quyết vấn đề. Nội dung học tập được đặt trong một tình
huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua
việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương
pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy
[16]
tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy
học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh.
Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng
có thể là những tình huống gắn với thực tiễn.
Ví dụ: Giáo viên có thể yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức của bài học
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt
động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình
học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm
hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay
chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Vận
dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện
[17]
nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà
trường và xã hội.
Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng
hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học
tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có
tạo ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng
nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học
định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá,
sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành động.
Ví dụ: Có thể tiến hành dự án học tập nhóm bài Phong cách ngôn ngữ
trong chương trình Ngữ văn THPT, khi đó học sinh sẽ tự mình thực hiện
những nhiệm vụ học tập mà giáo viên đưa ra như tìm hiểu về lí thuyết, tiến
hành trải nghiệm thực tế để thu thập thông tin, kết thúc dự án, mỗi nhóm học
sinh phải có được sản phẩm hoàn thiện của nhóm mình, sản phẩm ấy phải có
ý nghĩa trong việc tiếp cận mục tiêu bài học, đồng thời phát triển năng lực và
phẩm chất cần thiết cho học sinh.
• Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin
hợp lý hỗ trợ dạy học
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp
dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy
học. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là
về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng
lực tự đọc một cách tích cực, chủ động có sắc thái cá nhân. Hoạt động đọc –
hiểu cần được thực hiện theo một trình tựvbn h từ dễ đến khó, từ thấp đến
cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái
hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình thành năng lực đọc – hiểu của học sinh cũng
chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng
tượng và tư duy. Năng lực đọc – hiểu còn là sự tích hợp kiến thức kỹ năng của
các phân môn cũng như kinh nghiệm sống của học sinh.
Các nhiệm vụ cơ bản của người học khi đọc – hiểu:
+ Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối…thông tin để tạo nên
hiểu biết chung về văn bản.
+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
+ Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại
văn bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống.
Để đáp ứng với yêu cầu dạy học Ngữ văn theo hướng hình thành và phát
triển năng lực, cần chú ý đến việc tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo hướng
tích hợp. Quá trình dạy học tích hợp lấy chủ thể người học làm xuất phát điểm
và đích đến, trong đó tích hợp là việc tổ chức nội dung dạy học của giáo viên
sao cho học sinh có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại
hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó phát triển được những năng
lực cần thiết. Trong môn học Ngữ văn, dạy học tích hợp là việc tổ chức các
nội dung của các phân môn văn học, tiếng Việt, làm văn trong các bài học,
giúp học sinh từng bước nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong việc tiếp
nhận và tạo lập các văn bản thuộc các kiểu loại và phương thức biểu đạt. Bởi
tác phẩm văn học vẫn luôn được coi là nghệ thuật của ngôn từ, việc tiếp nhận
văn bản văn học trước hết là tiếp xúc với phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ;
mặt khác, việc thực hành tạo lập các văn bản thông dụng trong nhà trường và
xã hội cũng sử dụng ngôn ngữ làm công cụ. Như vậy, cả ba nội dung văn học,
Phân môn Tên bài, hoặc tên đơn Lớp
vị kiến thức, kĩ năng
của phân môn liên
quan
Kiến thức hoặc kĩ năng
vận dụng
Ngữ văn
10
Học sinh hiểu và biết cách
viết báo cáo trình bày về nội
dung và đặc sắc nghệ thuật
của chèo cổ .
Luyện tập văn thuyết 10
minh
Nắm vững kỹ năng thuyết
minh để trình bày thuyết
phục vấn đề
Hình thức kết cấu văn 10
bản thuyết minh
Xây dựng bố cục bài thuyết
minh
Biết cách viết một văn bản
quảng cáo
Phỏng vấn và trả lời 11
phỏng vấn
Biết cách tiến hành một bài
phỏng vấn
Bảng biểu, sơ đồ
Khảo sát, nhận xét bảng
thống kê
- Về kĩ năng: Hình thành ở học sinh một số kĩ năng cơ bản: kĩ năng viết một
bản tin ngắn, kĩ năng viết tiểu phẩm, viết quảng cáo…;kĩ năng phân tích, lĩnh
hội một bản tin, phóng sự, tiểu phẩm…
- Về phẩm chất, thái độ: tích cực tham gia hoạt động cùng nhóm học tập,
không ngừng tìm tòi, sáng tạo để tạo ra sản phẩm tốt nhất.
- Về năng lực: phát triển năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác,
năng lực thẩm mĩ, năng lực sử dụng tiếng việt.
Tiến trình bài học
- Triển khai với đối tượng là học sinh lớp 11 chuyên Sinh
- Thời gian triển khai: 1 tuần theo đúng kế hoạch phân bố chương trình
của tổ chuyên môn.
Xác định chủ đề:
* Định hướng: Đây là khâu quan trọng, cũng là bước đầu tiên sẽ định
hướng mục tiêu cho học sinh. Để khơi gợi hứng thú, giáo viên sẽ đặt người
học vào tình huống, dẫn dắt ý tưởng thông qua những câu hỏi, chia nhóm làm
việc theo hứng thú và theo năng lực. Học sinh không bị áp đặt và sẽ lựa chọn
* Cụ thể
- Nêu tình huống: Hiện nay, nhắc tới các văn bản báo chí chúng ta
thường nghĩ tới những thể loại nào?
- Nhóm 1: Viết một bản tin để đăng lên website của trường mục tin tức
nhà trường.
- Nhóm 2: Phỏng vấn thầy (cô) giáo của mình về phương pháp học tập
một bộ môn mà em yêu thích
- Nhóm 3: Xây dựng một bài trình chiếu poverpoint để quảng cáo cho
ngành du lịch của quê hương em.
Nhiệm vụ của học sinh không chỉ là tìm hiểu về lý thuyết mà cần được
chứng thực bằng những hành động thực tế có ý nghĩa. Vì vậy, mục tiêu của cả
ba nhóm sẽ mở rộng và đòi hỏi người học phải thể hiện thông qua những trải
nghiệm sáng tạo lý thú.
-> Nêu câu hỏi chính là dẫn học sinh vào mạch nối kết của chủ đề, cũng
là mục tiêu cao nhất của kế hoạch học tập. Giáo viên sẽ khắc sâu lại bằng sơ
đồ tư duy. Trên cơ sở đó, học sinh sẽ cân nhắc để lựa chọn mục tiêu, chủ đề
và tạo nhóm phù hợp cả hứng thú, năng lực người học.
Sơ đồ tư duy phân công nhiệm vụ
[22]
Phong cách ngôn
ngữ báo chí
Nhóm 1
Viết một bản tin
Nhóm 2
trưởng), Thu
Hà,
Ngọc
Huy
Phương
tiện
Thời hạn Dự kiến sản phẩm
hoàn
thành
Tìm hiểu , SGK, máy 1 tuần
thế nào là tính
bản
tin,
cách viết
bản tin
Thu
Hồng, Điều
Đinh Trang, khảo
Trang A,
tin
chung
nhà
tra, Phiếu hỏi
sát
tức
Vũ Thái
tin để viết
bài, gạch ý
cho
bản
tin,
viết
tin,
sửa
chữa
Sản phẩm hoàn thiện
1 tuần
* Nhóm 2: Phỏng vấn thầy (cô) giáo của mình về phương pháp học tập
một bộ môn mà em yêu thích.
- Để thực hiện nhiệm vụ nhóm 2 cần tích hợp kiến thức với bài Phỏng
vấn và trả lời phỏng vấn trong SGK lớp 11 tập 1 để hiểu được lí thuyết chung,
lựa chọn đối tượng phỏng vấn và xây dựng nội dung, câu hỏi phỏng vấn.
- Nhóm hoàn thiện và trình bày kế hoạch
Tên
viên
thành Nhiệm vụ
Minh Tuyết
(nhóm
trưởng), Ngọc
Châm, Mai
Ánh, hỏi
phỏng
Ngọc Ánh,
vấn
Hệ thống câu
hỏi
Ngọc
Anh
Tìm thông tin
khái
lược
chung
về
phỏng vấn
Phương
tiện
Cúc, Tiến
Đào,
1 tuần
hành Máy ảnh, 1 tuần
máy ghi âm,
[24]
tiện
Thời
hạn Dự kiến
hoàn thành phẩm
Tìm thông tin SGK lớp 10 1 tuần
khái lược về
quảng cáo và
viết
quảng
cáo
Anh
Đức, Tìm thông tin
Bảo Anh, Thu để giới thiệu
Nga
về mảnh đất
quê
hương
mình
Sách, máy 1 tuần
tính
nối
mạng, máy
ảnh
sản
chỉnh
Thực hiện nhiệm vụ
* Học sinh : Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của nhóm trưởng
và bám sát mục tiêu của cả nhóm để triển khai chủ đề.
* Học sinh sẽ báo cáo tiến độ cho giáo viên : Nhóm trưởng phụ trách
Báo cáo sản phẩm
Nhóm 1
Thực hiện nhiệm vụ: Viết bản tin để đăng lên website mục tin tức nhà
trường.
Nhóm trưởng nhóm 1 thuyết trình quá trình tạo ra sản phẩm của nhóm
mình:
*Trước tiên cả nhóm cùng tìm hiểu lí thuyết về mục đích, yêu cầu và cách
viết bản tin:
[25]