Lời mở đầu
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta khó có thể tránh khỏi các tranh chấp chấp về
dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động,... khi đó quyền và lợi ích hợp pháp của
chúng ta có thể sẽ bị xâm phạm. Và để có thể bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể,
pháp luật có quy định những biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể
như biện pháp hình sự, hành chính... Nhưng đặc biệt hơn cả trong các biện pháp
bảo vệ đó là biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự nhờ đó
mà chủ thể có thể tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngoài ra,
cũng để đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách nhanh chóng và công bằng cho các
chủ thể thì pháp luật cũng quy định về thủ tục thụ lý vụ án.
Khởi kiện và thụ lý vụ án là các thủ tục tố tụng có ý nghĩa pháp lý hết sức quan
trọng của tố tụng dân sự, nếu không có khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự thì sẽ
không làm phát sinh những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án
và giải quyết vụ án dân sự. Do đó trong bài tiểu luận dưới đây em xin phép được
trình bày “ Những quy định của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện và thụ lý vụ án
dân sự”
Do còn đang trong quá trình nghiên cứu, học hỏi cũng như chưa có nhiều kinh
nghiệm thực tế nên bài viết có thể còn nhiều thiếu xót mong thầy, cô có thể nhận
xét và đánh giá để bài tiều luận hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Nội Dung
I.
Khởi kiện vụ án dân sự
Theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì vụ án dân sự là các tranh
chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các quan
lao động, đất đai, nhà ở hay nói cách khác là quan hệ dân sự. Như vậy thì các chủ
thể không có quyền, lợi ích dân sự thì không có quyền khởi kiện.
Các chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình, được
quy định tại Điều 188 Bộ luật tố tụng Dân sự, theo đó khi cá nhân, cơ quan, tổ chức
nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện
để bảo vệ.
Bên cạnh đó, để có thể bảo vệ lợi ích để có thể bảo vệ lợi ích của người khác, cộng
đồng, nhà nước,... thì pháp luật cũng quy định trong một số trường hợp thì các chủ
thể dù quyền và lợi ích của mình không bị xâm hại nhưng vẫn có quyền khởi kiện
bao gồm: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình,
cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
cũng có quyền khởi kiện trong trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người khác.
b) Điều kiện về thẩm quyền của tòa án
Vụ án được khởi kiện cần phải đúng thẩm quyền của tòa án. Tòa án chỉ thụ lý vụ án
dân sự đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Việc xác
định đúng thẩm quyền của tòa án là một việc vô cùng quan trọng, nó sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của các
3
bên. Ngoài ra thì việc xác định đúng thẩm quyền của tòa án cũng góp phần cho các
Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ và người dân dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện,
trách sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án.
c) Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật.
Sự việc khởi kiện phải chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có
hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật. Nếu sự việc đã được Tòa án
hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết bằng một bản án
phương chấm dứt hợp đồng lao động; bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt
hợp đồng lao động…Và một số tranh chấp về quyền sử dụng đất (Điều 202 Luật
đất đai năm 2013).
2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự.
Theo khoản 3 điều 150 bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là thời hạn
mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền
khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ngoài ra, trong bộ luật tố
tụng dân sự cũng quy định khá cụ thể về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải
quyết việc dân sự.
1 Tham khảo tại bài viết “ Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả
Đoàn Thị Ngọc Hải tại địa chỉ : />
5
Điều 184. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo
quy định của Bộ luật dân sự.
2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của
một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án
cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời
hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung để có thể dẫn chiếu
các quy định tương ứng sang bộ luật dân sự. theo đó thì ở bộ luật dân sự 2015 có
quy định về thời hạn khởi kiện ở một số điều như sau:
Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm,
kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp
Ngoài ra theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
nêu trên, việc áp dụng thời hiệu này sẽ không tự động phát sinh mà chỉ được áp
dụng nếu như có yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên và yêu cầu
phải được đưa ra trước khi Tòa án đưa ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
7
Điều này trên thực tế được hiểu là Tòa án sẽ không được từ chối thụ lý vụ việc vì
đã hết thời hiệu khởi kiện. Bất cứ yêu cầu hợp lý của nguyên đơn – nguyên đơn
chứng minh là người có quyền yêu cầu thì Tòa án đều phải thụ lý giải quyết. Sau
khi Tòa án thụ lý thì theo yêu cầu của một bên hoặc hai bên Tòa án sẽ áp dụng thời
hiệu khởi kiện để xét xem vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện chưa, nếu có căn cứ
để cho rằng vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện thì tòa án khi đó mới ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ việc với lý do là vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện.2
3. Về thẩm quyền giải quyết việc khởi kiện vụ án dân sự
Về phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án: được quy định tại điều 26, 28, 32 bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 khi có tranh chấp người khởi kiện cần phải xác định
tranh chấp đó là lĩnh vực nào được quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự, chỉ những
tranh chấp dân sự rơi vào các điều luật đã 26,26,32 ở trên mới thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nói chung.
Về thẩm quyền theo cấp của Tòa án: quy định tại các Điều 35, 36, 37, 38 bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015. Hệ thống Tòa án nhân dân của Việt Nam gồm: Tòa án nhân
dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Tòa án nhân dân
cấp huyện. Khi có nhu cầu khởi kiện một trách chấp ra tòa án giải quyết thì người
khởi kiện cần xác định được thẩm quyền của Tòa án xét xử theo cấp là Tòa án cấp
nào.
Về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ: được quy định tại điều 39 bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015. Sau khi người khởi kiện xác định được thẩm quyền chung, thẩm
quyền theo cấp thì người khởi kiện cần xác định thêm Tòa án theo lãnh thổ là người
khởi kiện có thể xác định được chính xác Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh
và cào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết để giải quyết theo thủ tục dân sự. Hoạt
động này được gọi là thụ lý vụ án và được quy định tại điều 195 bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015
Điều 195. Thụ lý vụ án
9
1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho
người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong
trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người
khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận
được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải
nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
3. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm
ứng án phí.
4. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí
thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ
kèm theo.
Việc thụ lý vụ án là bước khởi đầu trong quá trình tố tụng, có ý nghĩa quan trọng
trong việc đảm bảo tòa án phải giải quyết vụ án trong thời gian luật định kể từ thời
điểm tòa án thị lý giải quyết vụ án, đây cũng là cơ sở để thực hiện các thủ tục tố
tụng tiếp theo của tòa án như: xác minh, thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ, tiến
hành hòa giải,...
Bên cạnh đó việc thụ lý vụ án dân sự có ý nghĩa góp phần bảo vệ kịp thời những
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các lĩnh vực dân sự, đồng thời
giảm bớt được những tranh chấp mâu thuẫn kéo dài trong nội bộ nhân dân, tạo
niềm tin của nhân dân vào các cơ quan pháp luật nói chung và cơ quan Tòa án nói
riêng.
11
phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho
người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án
Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem
xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút
gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản
1 Điều 317 của Bộ luật này;
+ Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi
kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
+ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án.
b) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.
Theo quy định tại Điều 193 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015:
Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189
của Bộ luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần
sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do
Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có
thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày. Văn bản thông báo có thể được giao trực
tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho người khởi kiện qua dịch vụ bưu chính và phải ghi
chú vào sổ nhận đơn để theo dõi. Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi
kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện.
12
nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc
Tòa án đã thụ lý vụ án.
Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại
trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày thụ lý vụ án.
2. Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện;
d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết;
đ) Vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn;
e) Danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;
g) Thời hạn bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có ý kiến bằng văn
bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm
theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có);
h) Hậu quả pháp lý của việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không
nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện.
3. Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu,
chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung
cấp.
14
15
III.
Kết luận