Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần MISA - Pdf 47

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, trước tình hình kinh tế nước ta đang có sự hội nhập với nền
kinh tế thế giới thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên gay
gắt. Đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược và cách thức kinh doanh
linh hoạt để nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cho mình.Vì vậy việc nắm
bắt nhu cầu, thu thập và xử lý các thông tin để phân tích kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh là rất quan trọng. Từ việc phân tích kết quả sản xuất
kinh doanh giúp doanh nghiệp tìm ra những điểm mạnh và những điểm còn
hạn chế để từ đó định hướng ra các chiến lược, những quyết định đầu tư …
cho phù hợp với nguồn lực của công ty, hạn chế được những rủi ro trong đầu
tư khi không nắm bắt được thông tin.
Để giúp doanh nghiệp thấy rõ được thực trạng sản xuất kinh doanh
cũng như biện pháp để cải thiện và nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích kết quả sản xuất kinh
doanh của công ty cổ phần MISA”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần
MISA để đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của công ty.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Khái quát một số vấn đề lý luận về hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần
MISA
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố đến kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian qua.
1
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả sản xuất kinh
doanh cho công ty trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

phí có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp
bỏ ra trong một thời kỳ nhất định”.
Trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, Ngoài hoạt động sản xuất
3
kinh doanh còn có những hoạt động khác không có tính chất sản xuất như:
Bán hàng, quản lý các hoạt động mang tính chất sự nghiệp. Chi phí sản xuất
kinh doanh phát sinh thường xuyên, hàng ngày, gắn liền với từng vị trí sản
xuất, từng sản phẩm và hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc tính toán, tổng
hợp chi phí sản xuất kinh doanh cần được tiến hành trong thời gian nhất
định, có thể là quý tháng, năm.Các chi phí này cuối kỳ sẽ được bù đắp bằng
doanh thu kinh doanh trong kỳ đó của doanh nghiệp.
2.1.2.2 Phân loại chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm nhiều khoản khác
nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, mục đích… trong từng doanh
nghiệp sản xuất. Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán cần phải
tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau
nhằm nâng cao tính chi tiết của thông tin chi phí, phục vụ đắc lực cho công
tác quản lý, lập kế hoạch đồng thời tạo cơ sở tin chậy cho việc phấn đấu
giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế của chi phí. Dưới đây là một số cách
phân loại chủ yếu:
a. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung tính chất kinh
tế của chi phí
Cách phân loại này dựa trên nguyên tắc những chi phí có cùng nội
dung kinh tế được xếp vào một loại yếu tố chi phí, không kể cả chi phí đó
phát sinh ở lĩnh vực hoạt động nào, địa điểm nào và dùng vào mục đích gì
trong sản xuất kinh doanh. Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
được chia làm các yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu
- Chi phí nhân công
- Chi phí khấu hao TSCĐ

cung cấp thông tin cho việc lập BCTC, giúp việc đánh giá tình hình thực
hiện kế hoạch giá thành sản xuất, phân tích ảnh hưởng của từng khoản mục
chi phí đến giá thành sản xuất cũng như cho thấy vị trí của CPSX trong quá
trình SXKD của doanh nghiệp.
c. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với khối
lượng sản phẩm, công việc lao vụ sản xuất trong kỳ
- Chi phí cố định (định phí): là những chi phí không thay đổi về tổng
số so với khối lượng công việc hoàn thành trong một phạm vi nhất định.
- Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số, về
tỷ lệ so với khối lượng công việc hoàn thành.
Phân loại theo cách này thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra
chi phí, xác định điểm hòa vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất
kinh doanh. Đồng thời làm căn cứ để đề ra biện pháp thích hợp hạ thấp chi
phí sản xuất kinh doanh trên một đơn vị sản phẩm cũng như xác định
phương án đầu tư thích hợp.
d. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản
xuất và mối quan hệ giữa đối tượng chịu chi phí
- Chi phí trực tiếp: là những CPSX quan hệ trực tiếp cho sản phẩm
hoặc đối tượng chụ chi phí.
- Chi phí gián tiếp: là những CPSX có quan hệ đến sản xuất ra nhiều
loại sản phẩm, không phân định được cho từng đối tượng cho nên phải phân
bổ theo đối tượng nhất định.
Phân loại theo cách này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp
tập hợp chi phí và phân bổ chi phí một cách hợp lý.
Nói chung việc phân loại chi phí theo tiêu thức nào là phải phù hợp
với đặc điểm và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, là cơ sở cho việc lập kế
hoạch, phân tích kiểm tra chi phí và xác định trọng điểm quản lý chi phí
6
nhằm góp phần tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
2.1.2.3 Phạm vi chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

quả hoạt động của SXKD của doanh nghiệp, cơ sở để Nhà nước quản lý đề
ra quyết định chính xác, xác định đúng nguồn thu cho NSNN.
2.1.3 Khái niệm về hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và
dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận
lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng
sản phẩm đó. Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có
khă năng kinh doanh.“ Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện,
phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh
doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh
doanh trên thị trường”
1
Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
+ Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh
doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
+ Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối
quan hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung
cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối
quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh
đưa doanh nghiệp của mình này càng phát triển.
+ Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết
định cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động
1
Giáo trình Lý thuyết quản trị doanh nghiệp. TS.Nguyễn Thị Hồng Thuỷ và PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc
Huyền. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội- 1998, trang 5
8
kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản
xuất, thuê lao động...
+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.
2.2 Bản chất và chức năng của quá trình phân tích kết quả SXKD của

dụng nó như là một công cụ để đo lường khả năng đạt đến mục tiêu đã đặt
ra.
2.2.2 Chức năng của phân tích kết quả hoạt động SXKD
Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, con người thường xuyên phải
đánh giá kết quả từ đó để rút ra những sai lầm, thiếu sót, tìm ra những
nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả, vạch rõ tiềm năng chưa được sử dụng
và đề ra các biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời để không ngừng nâng cao
kết quả sản xuất kinh doanh.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu tổng hợp chịu
tác động của nhiều nhân tố. Mỗi biến động của từng nhân tố có thể xác định
xu hướng và mức độ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
là cụ thể hoá bản chất kết quả sản xuất kinh của doanh nghiệp.
Có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về chức năng của phân tích
chức năng của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chung nhất thì
phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có 3 chức năng cơ bản sau:
- Chức năng kiểm tra
- Chức năng quản trị
- Chức năng dự báo
*Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là thông qua phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh mà quản lý sử dụng sao cho hợp lý. Thể hiện qua các giai đoạn sau.
+ Kiểm tra quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất như: Nguyên vật liệu, lao động, …
Kiểm tra quá trình sản xuất sản phẩm: Như năng suất, chất lượng sản
10
phẩm, chất lượng lao động.
+ Kiểm tra hoạt động ngoài sản xuất như: thiết lập và sử dụng nguồn
tài chính, các hoạt động khác.
* Chức năng quản trị
Các doanh nghiệp muốn đạt được kết quả cao trong quá trình sản xuất

trao đổi các sản phẩm với nhau từ đó có thể tiến hành hợp tác cùng kinh
doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh là cơ sở thiết yếu không thể thiếu
được và nhất lại là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Nếu mỗi doanh
nghiệp biết kết hợp các yếu tố đầu vào để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh thì sẽ mang lại một hiệu quả rất lớn cho mình.
3.2. Vai trò
Hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản
trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh của mình. Khi tiến
hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, các doanh nghiệp đều
phải huy động sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có nhằm đạt được mục tiêu
là tối đa hoá lợi nhuận và hoạt động sản xuất kinh doanh là một trong những
công cụ, phương pháp để doanh nghiệp đạt được mục tiêu đó. Thông qua
việc tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh không những cho phép các
nhà quản trị đánh giá được tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp ( có đạt hiệu quả không và đạt ở mức độ nào ) mà
còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến
các hoạt động sản xuất kinh doanh, để từ đó tìm ra các biện pháp điều chỉnh
phù hợp với thực tế của thị trường, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp.
Nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh là góp phần nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Mỗi doanh nghiệp hoạt động
12
sản xuất kinh doanh trên thị trường đều gặp rất nhiều đối thủ cạnh tranh
khác nhau trong cùng ngành cũng như ngoài ngành. Do vậy chỉ có nâng cao
hoạt động sản xuất kinh doanh mới có thể tiết kiệm được chi phí, nâng cao
năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm,... mới có thể nâng cao
được sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường và tìm mọi biện pháp
để nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một tất yếu
khách quan.
Thông qua việc sử dụng các nguồn lực, từng yếu tố sản xuất sẽ quan
sát được mối qua hệ giữa yếu tố sản xuất với kết quả hoạt động kinh doanh,

3
. Đó là các quy định của nhà nước về những thủ tục, vấn đề có liên
quan đến phạm vi hoạt động SXKD của doanh nghiệp, đòi hỏi mỗi doanh
nghiệp khi tham gia vào môi trường kinh doanh cần phải nghiên cứu, tìm
hiểu và chấp hành đúng theo những quy định đó.
Môi trường pháp lý tạo môi trường hoạt động, một môi trường pháp lý
lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt
động SXKD của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo
hướng chú trọng đến các thành viên khác trong xã hội, quan tâm đến các
mục tiêu khác ngoài mục tiêu lợi nhuận. Ngoài ra các chính sách liên quan
đến các hình thức thuế, cách tính, thu thuế có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả
hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Môi trường pháp lý tạo sự bình đẳng của mọi loại hình kinh doanh, mọi
doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ như nhau trong phạm vi hoạt động của
mình. Trong nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập không thể tránh khỏi
hiện tượng những doanh nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh sẽ thâu tóm
3
Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, GS.TS. Ngô Đình Giao. NXB Khoa học
kỹ thuật, Hà Nội- 1997, trang422.
14
những doanh nghiệp nhỏ. Nhà nước đứng ra bảo vệ quyền lợi cho các doanh
nghiệp “yếu thế ” có thể duy trì hoạt động SXKD của mình và điều chỉnh
các lĩnh vực sản xuất cho phù hợp với cơ chế, đường lối kinh tế chung cho
toàn xã hội.
Tính công bằng và nghiêm minh của luật pháp ở bất kỳ mức độ nào đều
có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Nếu môi
trường kinh doanh mà mọi thành viên đều tuân thủ pháp luật thì hiệu quả
tổng thể sẽ lớn hơn, ngược lại, nhiều doanh nghiệp sẽ tiến hành những hoạt
động kinh doanh bất chính, sản xuất hàng giả, trốn lậu thuế, gian lận thương
mại, vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường làm hại tới xã hội.

SXKD và kết quả SXKD của mỗi doanh nghiệp.
Ngoài ra, tình hình kinh doanh hay sự xuất hiện thêm của các đối thủ
cạnh tranh cũng buộc doanh nghiệp cần quan tâm đến chiến lược kinh doanh
của mình. Một môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ thúc đẩy các doanh
nghiệp cùng phát triển, cùng hướng tới mục tiêu hiệu quả SXKD của mình.
Tạo điều kiện để các cơ quan quản lý kinh tế nhà nước làm tốt công tác dự
báo điều tiết đúng đắn các hoạt động và có các chính sách mang lại hiệu quả
kinh tế cho các doanh nghiệp.
d Môi trường thông tin
Trong nền kinh tế thị trường cuộc cách mạng về thông tin đang diễn ra
mạnh mẽ bên cạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Để làm bất kỳ một
khâu nào của quá trình SXKD cần phải có thông tin, vì thông tin bao trùm
lên các lĩnh vực, thông tin để điều tra khai thác thị trường cho ra một sản
phẩm mới, thông tin về kỹ thuật sản xuất, thông tin về thị trường tiêu thụ sản
phẩm, thông tin về các đối thủ cạnh tranh, thông tin về kinh nghiệm thành
4
Đoạn này được tóm tắt từ Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, GS.TS. Ngô
Đình Giao. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội- 1997, trang 424.
16
công hay nguyên nhân thất bại của các doanh nghiệp đi trước. Doanh nghiệp
muốn hoạt động SXKD của mình có hiệu quả thì phải có một hệ thống thông
tin đầy đủ, kịp thời, chính xác. Ngày nay thông tin được coi là đối tượng
kinh doanh, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế thông tin hoá.
Biết khai thác và sử dụng thông tin một cách hợp lý thì việc thành công
trong kinh doanh là rất cao, đem lại thắng lợi trong cạnh tranh, giúp doanh
nghiệp xác định phương hướng kinh doanh tận dụng được thời cơ hợp lý
mang lại kết quả kinh doanh thắng lợi
e. Môi trường quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay thì môi trường quốc
tế có sức ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

nghiệp, sự sắp xếp này nếu hợp lý, khoa học, các thế mạnh của từng bộ phận
và của từng cá nhân được phát huy tối đa thì hiệu quả công việc là lớn nhất,
khi đó không khí làm việc hiệu quả bao trùm cả doanh nghiệp. Không phải
bất lỳ một doanh nghiệp nào cũng có cơ cấu tổ chức hợp lý và phát huy hiệu
quả ngay, việc này cần đến một bộ máy quản trị có trình độ và khả năng
kinh doanh, thành công trong cơ cấu tổ chức là thành công bước đầu trong
kế hoạch kinh doanh.
Ngược lại nếu cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bất hợp lý, có sự chồng
chéo về chức năng, nhiệm vụ không rõ ràng, các bộ phận hoạt động kém
hiệu quả, không khí làm việc căng thẳng cạnh tranh không lành mạnh, tinh
thần trách nhiệm và ý thức xây dựng tổ chức bị hạn chế thì kết quả hoạt
động SXKD sẽ không cao.
18
b. Nhân tố lao động và vốn
Con người điều hành và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp, kết
hợp các yếu tố sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, để
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh
nghiệp là vấn đề lao động. Công tác tuyển dụng được tiến hành nhằm đảm
bảo trình độ và tay nghề của người lao động. Có như vậy thì kế hoạch sản
xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD mới thực hiện được CPH. Có
thể nói chất lượng lao động là điều kiện cần để tiến hành hoạt động SXKD
và công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện đủ để doanh nghiệp tiến
hành hoạt động SXKD có hiệu quả cao.
Trong quá trình SXKD lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể có
những sáng tạo khoa học và có thể áp dụng vào hoạt động sản xuất nhằm
nâng cao hiệu quả SXKD. Lực lượng lao động tạo ra những sản phẩm (dịch
vụ) có kiểu dáng và tính năng mới đáp ứng thị hiếu thị trường làm tăng
lượng hàng hoá dịch vụ tiêu thụ được của doanh nghiệp, tăng doanh thu làm
cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Lực lượng lao động là nhân tố quan trọng liên quan trực tiếp đến năng

SXKD. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những yếu tố nền
tảng cơ sở thì nguyên liệu đóng vai trò quyết định, có nó thì hoạt động
SXKD mới được tiến hành.
Kế hoạch SXKD có thực hiện thắng lợi được hay không phần lớn phụ
thuộc vào nguồn nguyên liệu có được đảm bảo hay không.
2.5 Phương pháp xác định kết quả sản xuất kinh doanh
2.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh
2.5.1.1 Một số khái niệm
20
- Doanh số bán hàng (doanh thu): Tiền thu được từ bán hàng hoá dịch
vụ.
- Doanh thu thuần = Tổng doanh thu – Các khoản giảm trừ
- Chi phí sản xuất = chi phí cố định + chi phí biến đổi.
- Lãi gộp là phần còn lại của doanh số bán sau khi trừ chi phí biến đổi.
- Giá vốn hàng bán: Phản ánh giá trị gốc của sản phẩm hàng hoá,
thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
- Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán
- Chi phí bán hang: Phản ánh tổng chi phí bán hang trừ vào kết quả
sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí quản lý: Là các chi phí bỏ ra trong công tác quản trị doanh
nghiệp được trừ vào kết quả kinh doanh trong kỳ.
- Kết quả hoạt động tài chính: là số chênh lệch giữa thu và chi của
hoạt động tài chính trong một thời kỳ nhất định. Kết quả đó được xác định
theo công thức:
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận từ hoạt
động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận từ hoạt động tài chính sau khi đã
trừ đi các khoản chi phí.
- Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa thu nhập khác với chi phí
21
Thu nhập từ hoạt

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ các hoạt động khác của
công ty thì cuối kỳ kế toán có nhiệm vụ tổng hợp lại để xác định kết quả
kinh doanh trong kỳ. Từ kết quả kinh doanh đó xác định thuế phải nộp cho
nhà nước.
2.5.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động SXKD
*Năng suất lao động bình quân
Tổng doanh thu
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân cho biết một lao động tạo ra
được mấy đồng doanh thu trong kỳ.
*Lợi nhuận bình quân trên một lao động
Lợi nhuận trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Lợi nhuận bình quân trên một lao động cho biết bình quân trong một năm
doanh nghiệp được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một lao động.
22
Năng suất lao động bình quân =
LN bình quân một lao động =
LN từ hoạt
động SXKD
Tổng LN
trước thuế
=
LN từ
HĐTC
+
LN
Khác
+
Tổng LN Trước

Trong đó: Chi phí kinh doanh bao gồm giá vốn, chi phí bán hàng, chi
23
Sức sản xuất của vốn cố định =
Sức sinh lời của vốn cố định =
Sức sinh lời của vốn lưu động =
Sức sinh lời của vốn lưu động =
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí =
phí quản lý, chi phí lãi vay. Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng các loại
chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ này cho biết cứ một đồng
doanh thu sẽ được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
* Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Lợi nhuận trong kỳ
Doanh thu thuần
* Tỷ lệ lợi nhuận so với vốn chủ sở hữu
LN sau thuế
Vốn chủ sở hữu
PHẦN III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Lịch sử ra đời của công ty
3.1.1.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần MiSa
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới, kinh tế Viêt
24
Tỷ suất lợi nhuận trên DT =
Tỷ lệ lợi nhuận so với vốn chủ sở hữu =
Nam đã và đang bước vào thời kì hoạt động sôi nổi và hiệu quả. Góp phần
cơ bản tạo nên bức tranh chung này là sự gia nhâp Tổ chức thương mai thế
giới WTO , là sự đầu tư và tham gia hoạt động sản xuấ kinh doanh của rất
nhiêu doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau. Để có thể tồn
tại và phát triển được, mỗi công ty phải có được chiến lược kinh doanh đúng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status