BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
----------------
VÕ THỊ THÚY HÀ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN
NGÀNH SẢN XUẤT KINH DOANH BĂNG ĐĨA NHẠC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Năm 2000
LỜI MỞ ĐẦU
Người Việt Nam vốn rất yêu thích hoạt động văn hóa-nghệ thuật nên các
hoạt động thuộc về văn hóa tinh thần nhằm thỏa mãn những nhu cầu tinh thần của
con người được người dân hưởng ứng và ủng hộ rất nhiệt tình. Cùng với sự tăng
trưởng kinh tế, đời sống người dân ngày càng được nâng cao đồng nghóa với việc
nhu cầu thưởng thức các hình thức nghệ thuật ngày càng được quan tâm và chú ý.
Một trong những nhu cầu đó là nhu cầu thưởng thức âm nhạc.
Có nhiều cách thưởng thức âm nhạc. Có thể nghe và xem nhạc tại các buổi
hòa nhạc, ca nhạc, giao lưu với các ca só, nhạc só . Có thể nghe và xem nhạc qua
radio và tivi, cũng có thể nghe và xem nhạc qua băng đóa nhạc. Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài, chứng tôi xin đề cập đến một phần của nhu cầu thưởng thức
âm nhạc đó là thưởng thức âm nhạc qua băng đóa nhạc.
Thò trường băng đóa nhạc là một thò trường rất hấp dẫn và sôi động hiện nay.
Các công ty băng đóa thật sự hoạt động khởi sắc từ đầu năm 1997 khi nhạc Việt
Nam lên ngôi. Đời sống vật chất của người dân càng được nâng cao thì đời sống
tinh thần càng được quan tâm thỏa mãn. Nhu cầu về băng đóa nhạc ngày càng tăng
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng, luận văn có phạm vi nghiên
cứu như sau:
•
Lý luận về Marketing.
•
Phân tích thực trạng Marketing của ngành sản xuất kinh doanh
băng đóa thành phố.
•
Nhận diện đối thủ cạnh tranh.
•
Một số biện pháp marketing nhằm phát triển ngành băng đóa
thành phố dựa trên 4 thành phần chính của marketing mix.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp
mô tả thực trạng, phân tích và tổng hợp các hoạt động marketing từ đó đề ra các
giải pháp cụ thể nhằm phát triển ngành băng đóa nhạc. Luận văn sử dụng các
1
nguồn số liệu từ báo chí, báo cáo nội bộ của các công ty trong ngành, báo cáo tổng
hợp của Sở Văn Hóa Thông Tin, đặc biệt là những nhận xét và dự báo của các
chuyên gia trong lónh vực băng đóa. Luận văn đề ra những biện pháp marketing
nhằm mục đích tạo ra những cuộc trao đổi để thỏa mãn các mục tiêu của cá
nhân, của các tổ chức xã hội.
• Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với những quan điểm trên và thấy
rằng hoạt động Marketing tham gia vào toàn bộ quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp từ khi chưa sản xuất ra sản phẩm hoặc dòch vụ đến sau khi đã
trao đổi, buôn bán trên thò trường.
Các mục tiêu của hoạt động Marketing.
-
Tối đa hóa tiêu thụ
-
Tối đa hóa thỏa mãn khách hàng
-
Tối đa hóa lựa chọn
-
Tối đa hóa chất lượng đời sống.
3
Để đạt được các mục tiêu này, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành
nghề khác nhau vận dụng các biện pháp marketing khác nhau tùy theo đặc điểm
kinh doanh của từng ngành nghề. Trong sản xuất kinh doanh băng đóa nhạc,
marketing góp phần rất lớn vào sự thành công của các chương trình nhạc được giới
điểm khách hàng để thỏa mãn một cách cao nhất nhu cầu của họ và đem lại lợi ích
cao nhất cho doanh nghiệp.
Các tiêu thức thường được sử dụng để phân khúc thò trường là: vùng đòa lý,
nhân khẩu học, tâm lý, hành vi mua sắm…trong ngành kinh doanh băng đóa, vùng
4
đòa lý là tiêu thức thường được chọn để phân khúc thò trường vì mỗi vùng thường
có nhu cầu và sở thích khác nhau.
1.2.2
Xác đònh thò trường mục tiêu
Việc phân khúc thò trường làm bộc lộ những cơ hội của khúc thò trường đang
xuất hiện. Các công ty phải đánh giá các khúc thò trường khác nhau và quyết đònh
chọn bao nhiêu khúc thò trường và những khúc thò trường nào là thò trường mục
tiêu. Thực tế hoạt động marketing của doanh nghiệp thường không bao quát toàn
bộ thò trường. Phải phục vụ quá nhiều thò hiếu khác nhau sẽ dẫn đến không thỏa
mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Do đó phân khúc thò trường giúp doanh nghiệp
chọn những khúc thò trường hấp dẫn nhất.
Các tiêu chuẩn thường được sử dụng để chọn thò trường mục tiêu:
•
Độ hấp dẫn của phân khúc
Độ hấp dẫn của phân khúc thường được dựa trên: qui mô khách hàng, sức
tiêu thụ hiện tại mạnh, nhu cầu đa dạng và phong phú, công ty có khả năng đổi
mới sản phẩm trong tiêu dùng, có lợi thế cạnh tranh, nhòp độ tăng trưởng cao, mức
độ lợi nhuận cao, môi trường vó mô thuận lợi…
-
Phân phối – Place
-
Chiêu thò - cổ động – Promotion
Nghiên cứu về marketing là phải nói đến marketing mix. Marketing mix là
những hoạt động phối hợp các thành phần chính của marketing thành những biện
pháp phù hợp với tình hình thực tế của thò trường mục tiêu và các phân khúc trong
thò trường nhằm đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
1.3.1
Chiến lược sản phẩm - Product.
Sản phẩm là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất trong marketing mix. Chiến
lược sản phẩm đòi hỏi phải đưa ra những quyết đònh hài hòa về danh mục, chủng
loại sản phẩm, nhãn hiệu, bao bì.
1.3.1.1 Những quyết đònh về danh mục sản phẩm.
Danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những loại sản phẩm và mặt hàng
mà một người bán cụ thể đưa ra để bán cho những người mua.
6
Danh mục sản phẩm của một doanh nghiệp có chiều rộng, chiều dài, chiều
sâu và mật độ nhất đònh. Chiều rộng danh mục sản phẩm là những loại sản phẩm
của một người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với sản phẩm của
đối thủ cạnh tranh.
Một nhãn hiệu có thể mang theo sáu cấp độ ý nghóa: nhãn hiệu trước tiên
trong ý nghó những thuộc tính nhất đònh, gợi lên những ích lợi thực tế hay tình cảm,
nói lên một điều gì đó về giá trò của ngừoi sản xuất, thể hiện một nền văn hóa
nhất đònh, phát họa một nhân cách nhất đònh, thể hiện khách hàng mua hay sử
dụng sản phẩm đó.
ại thành phố Hồ Chí Minh, các nhãn hiệu băng đóa nhạc như Phương Nam
Film, Saigon Audio, Hãng Phim Trẻ, Bến Thành Audio… được người tiêu dùng
nhận biết và tin tưởng ở một mức độ nhất đònh. Uy tín của nhãn hiệu đem lại lợi
thế cạnh tranh cho công ty.
1.3.1.4
Quyết đònh về bao bì .
Bao gói là những hoạt động thiết kế và sản xuất hộp đựng hay giấy gói cho
sản phẩm. Bao bì là công cụ marketing đắc lực. Bao bì thiết kế tốt có thể tạo ra giá
trò thuận tiện cho người tiêu dùng và giá trò khuyến mãi cho người sản xuất.
1.3.2
Chiến lược giá
Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết đònh thò phần của
công ty và khả năng sinh lời của nó. Giá cả là yếu tố duy nhất trong marketing mix
tạo ra thu nhập. Giá cả cũng là một trong những yếu tố linh hoạt nhất của
marketing mix.
Khi xây dựng chính sách đònh giá, công ty phải xem xét nhiều yếu tố. Có
sáu bước để ấn đònh giá: lựa chọn mục tiêu đònh giá, xác đònh nhu cầu, ước tính giá
Bên cạnh việc xác đònh chi phí của bản thân, công ty cần phân tích giá cả
hàng hóa và những phản ứng của đối thủ cạnh tranh để có thể xác đònh giá của
mình một cách hợp lý hơn. Giá cả và chất lượng hàng hoá của đối thủ cạnh tranh
là yếu tố rất quan trọng trong việc đònh giá sản phẩm của công ty.
9
1.3.2.3 Lựa chọn phương pháp đònh giá và xác đònh giá cuối cùng
Có nhiều phương pháp đònh giá khác nhau như phương pháp đònh giá bằng
cách cộng lời vào chi phí, theo lợi nhuận mục tiêu, theo giá trò người mua nghó sản
phẩm xứng đáng như vậy, theo mức giá hiện hành… Tùy theo mục tiêu ngắn và dài
hạn của mình mà doanh nghiệp lựa chọn phương pháp đònh giá phù hợp. Trong
ngành công nghiệp băng đóa nhạc thế giới, thông thường các doanh nghiệp thường
áp dụng phương pháp đònh giá theo lợi nhuận mục tiêu.
Các phương pháp đònh giá giúp doanh nghiệp thu hẹp khoản giá để lựa chọn
giá cuối cùng. Phối hợp giá với các yếu tố khác của marketing mix và yếu tố tâm
lý để đảm bảo chắc chắn rằng nó sẽ được thò trường chấp nhận.
1.3.3
Chiến lược phân phối
Theo Philip Kotler thì kênh phân phối có thể được xem như những tập hợp
các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm hay dòch
vụ hiện có để sử dụng hay tiêu dùng. Kênh phân phối thực hiện công việc chuyển
hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Sơ đồ 1: Hai cách phân phối chủ yếu được áp dụng: Cách cổ điển và cách
hiện đại
Doanh
nghiệp 1
10
khác nhau thì doanh nghiệp khó có thể đáp ứng tốt được. Lúc đó kênh phân phối
hiện đại tức là quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp sẽ thông qua nhà phân
phối. Nhà phân phối có thể là người bán sỉ, bán lẻ, nhà phân phối trong kênh phân
phối.
Như vậy kênh phân phối là một hệ thống các nhà phân phối, làm trung gian,
có nhiệm vụ chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Kênh phân phối bao gồm chiều dài của kênh phân phối tức là số cấp của
kênh, chiều rộng là số lượng trung gian ở mỗi cấp. Tùy vào điều kiện và đặc điểm
hàng hóa mà sử dụng các kênh phân phối một cách có hiệu quả. Kênh một cấp có
một người trung gian. Kênh hai cấp có hai trung gian. Trên thò trường người tiêu
dùng thì thường là một người bán sỉ và một người bán lẻ. Theo quan điểm của
người sản xuất thì càng nhiều cấp phân phối càng khó nhận được những thông tin
phản hồi của người tiêu dùng chính xác.
Sơ đồ 2: Các kênh phân phối hàng tiêu dùng
Người
bán lẻ
Khách hàng
Nhà sản
xuất
Người
bán sỉ
Người
bán sỉ
hiệu quả cao.
Đa số các công ty băng đóa lớn trên thế giới đều có hệ thống phát hành
riêng của mình. Họ có chuỗi các cửa hàng tự chọn để bán và giới thiệu sản phẩm.
Bên cạnh đó, các công ty ký hợp đồng với một vài nhà phân phối trung gian để
phát hành băng đóa trên toàn thế giới.
1.3.4 Chiến lược chiêu thò, cổ động.
Marketing hiện đại đòi hỏi nhiều yếu tố hơn là việc phát triển sản phẩm,
đònh giá sao cho có sức hấp dẫn và tạo điều kiện cho khách hàng mục tiêu có thể
tiếp cận được sản phẩm hay dòch vụ cung cấp. Chiêu thò-cổ động là là một thành
phần trong marketing mix. Mục đích của chiêu thò-cổ động là làm cho cung cầu
gặp nhau, người bán thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của người mua. Chiêu thò-cổ động
phối hợp với chiến lược sản phẩm, giá cả và phân phối làm cho hàng hóa bán được
nhiều hơn, nhanh hơn và uy tín của công ty được nâng cao. Chiêu thò cổ động vừa
12
là khoa học, vừa là nghệ thuật. Nó đòi hỏi sự sáng tạo, linh hoạt, khéo léo trong
quá trình thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu đã vạch ra với chi phí thấp nhất.
Hệ thống chiêu thò cổ động bao gồm sự phối hợp năm công cụ chủ yếu
sau:
-
Quảng cáo (Advertising): là việc sử dụng không gian và thời gian để
giới thiệu gián tiếp và khuyếch trương các ý tưởng, hàng hóa hay dòch vụ
cho khách hàng.
-
Marketing trực tiếp (Direct marketing): sử dụng thư, điện thoại và
ngân sách
Lựa chọn phối
hợp phương thức
động
Đánh giá, đo
lường kết quả
chiêu thò cổ động
• Xác đònh mục tiêu: doanh nghiệp căn cứ vào mục tiêu chung của
mình để xác đònh nhiệm vụ, mục tiêu của hoạt động chiêu thò-cổ động.
13
• Xây dựng ngân sách chiêu thò, cổ động: doanh nghiệp sẽ quyết
đònh chi bao nhiêu cho chiêu thò cổ động căn cứ theo khả năng, theo tỷ lệ
phần trăm doanh số, theo chi phí của đối thủ cạnh tranh hoặc theo mục tiêu
và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
• Lựa chọn phương thức phối hợp chiêu thò cổ động: có thể sử dụng
phối hợp nhiều hoạt động chiêu thò cổ động khác nhau ở một tỷ lệ nhất đònh
trong một thời gian để đạt được hiệu quả cao nhất.
• Sau khi lựa chọn các phương thức phối hợp hoạt động chiêu thò cổ
động, doanh nghiệp thể sẽ lựa chọn nội dung chiêu thò tương ứng và phương
tiện chiêu thò thích hợp để đạt được được mục tiêu đề ra với ngân sách đã
đònh.
• Đánh giá, đo lường kết quả: căn cứ vào mục tiêu đưa ra ban đầu,
băng đóa rất phong phú. Một số là doanh nghiệp Nhà nước như Saigon Audio, Hồ
Gươm Audio, VAFACO, Hãng Phim Trẻ, Bến Thành Audio, Trùng Dương, Rạng
Đông…, một số là công ty cổ phần và tư nhân như Phương Nam Film, Kim Lợi
studio, Lạc Hồng, Đông Hải, Viết Tân…Các hãng và trung tâm băng nhạc này
thường hợp tác với nhau sản xuất và phát hành các chương trình mới.
Theo báo cáo năm 1999 của Sở Văn Hóa Thông Tin Thành Phố thì các hãng
và trung tâm băng nhạc thành phố đầu tư máy móc thiết bò gồm máy quay, phòng
thu âm và các thiết bò hỗ trợ trên 20 tỷ đồng Việt Nam. Vốn đầu tư trong cả nước
cho máy móc thiết bò là 26 tỷ đồng gồm vốn Nhà nước và tư nhân hợp tác. Việc
hợp tác góp vốn này có tác dụng tích cực trong việc hiện đại hóa máy móc thiết bò
của các hãng băng đóa Nhà nước vốn đã lạc hậu. Ngoài vốn đầu tư cho máy móc
thiết bò thì vốn hoạt động của các hãng băng đóa trong cả nước là trên 30 tỷ đồng
trong đó thành phố Hồ Chí Minh chiếm 80% trong tổng số vốn hoạt động. Bên
cạnh nguồn vốn hoạt động, cả nước có hơn 1.000 nhân lực hoạt động trong lónh vực
sản xuất kinh doanh băng đóa, riêng thành phố Hồ Chí Minh có hơn 800 người.
15
2.1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của ngành sản xuất và kinh doanh
băng đóa nhạc.
Nhiệm vụ xã hội chủ yếu của các hãng băng đóa và trung tâm băng nhạc là
phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho toàn xã hội. Bộ Văn Hóa Thông Tin xác
đònh trách nhiệm của các hãng băng đóa là góp phần xây dựng, phát triển nền văn
hóa Việt Nam. Đó là nền văn hóa xây dựng trên cơ sở di sản văn hóa truyền
thống, vốn là niềm tự hào của bao thế hệ người Việt Nam. Điều này đòi hỏi các
hãng băng đóa cho ra đời những sản phẩm âm nhạc chất lượng cao góp phần nâng
cao đời sống văn hóa người dân thông qua việc thưởng thức âm nhạc. Song song
đó, các hãng băng đóa phải phát triển vững mạnh góp phần phát triển ngành công
nghệ giải trí và kinh tế cả nước, đóng góp vào ngân sách. Nhà nước ta nhận thức rõ
thò trường là: Đêm Thu, Mơ Hoa…với những ca khúc trữ tình lãng mạng: Lời
Người Ra Đi, Mơ Hoa… mở đầu cho thời kỳ hoàng kim của các giọng ca Bảo
Yến, Nhã Phương và sự trở lại của Lan Ngọc, Ngọc Yến.
Năm 1990, phong trào nhạc ngoại lời Việt trở nên thònh hành. Có những
album được tiêu thụ cả trăm ngàn bản cassette như Samba Mabo, Himalaya,
Single Bell… với các giọng ca Thanh Lan, Trang Kim Yến, Sỹ Đan…Bên cạnh đó
còn có một dòng nhạc khác cũng thònh hành không kém đó là dòng “nhạc quê
hương” với những ca só như : Đình Văn, Phương Dung mà nhạc só phối âm tiêu
biểu lúc đó là Quốc Dũng.
Năm 1991-1992, có thêm Hãng Phim Trẻ, Bến Thành, Phương Nam Film
làm thò trường băng đóa nhạc phong phú hơn. Hãng Phim Trẻ đưa ra hai giọng ca
độc quyền là Ngọc Sơn và Thu Hiền, mỗi chương trình phát hành hơn 70.000 bảng
cassette. Chương trình Mưa Bụi từ 1-4 là băng video ca nhạc đầu tiên được tiêu thụ
với số lượng trên 100.000 bảng chưa kể số lượng in lậu. Bên cạnh đó cũng có dòng
nhạc Hong Kong với các album: Mộng Tình Đầu, Cánh Chim Bạt Gióù… với các
giọng ca Sỹ Ben, Cảnh Hàn. Cùng lúc đó thò trường cũng xuất hiện chương trình
video ca nhạc thiếu nhi Cả Nhà Thương Nhau của Bến Thành Audio bán không
dưới 100.000 bảng.
Sau liên hoan pop-rock Đầm Sen 1992, các video nhạc trẻ đầu tiên ra đời
với những gương mặt mới như Ba Con Mèo, Phương Thảo-Ngọc Lễ... Đây là thời
17
kỳ thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời các trung tâm băng nhạc như Thất Sơn, Phú
Nhuận, Bình Tây…đây là lúc thònh vượng của các công ty và trung tâm băng đóa
nhạc thành phố.
Từ năm 1995 ca nhạc trong nước xuống dốc, trầm trọng nhất là năm 1996.
Các giọng cải lương Vũ Linh, Ngọc Huyền, Tài Linh chuyển sang ca nhạc, các cây
hài chiếm lónh kệ băng đóa với các chương trình: Đại Hội Danh Hài, Bảo Chung,
của xã hội. Khi đời sống ổn đònh, mức sống được nâng cao thì nhu cầu giải trí càng
trở nên cần thiết. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thò trường, sản phẩm
băng đóa nhạc hiện nay có nhiều nguồn cung cấp khác nhau như các sản phẩm
chính thức làm tại Việt Nam, các sản phẩm chính thức nhập từ nước ngoài, các sản
phẩm nhập lậu từ Trung Quốc và hàng giả được làm tại Việt Nam.
Các sản phẩm chính thức được sản xuất tại Việt Nam mà cụ thể là được
sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh được các doanh nghiệp kinh doanh văn hóa
phẩm phát hành như: Phương Nam Film, Saigon Audio, Bến Thành, Vafaco, Công
Ty Đông Hải, Hãng Phim Trẻ-Kim Lợi, Trung Tâm Băng Nhạc Trùng Dương,
Rạng Đông…
Nguồn sản phẩm chính thức được nhập từ nước ngoài do các công ty
trong nước ký kết với các hãng băng đóa nước ngoài để mua thành phẩm hoặc bản
quyền để sản xuất trong nước như Saigon Audio, Phương Nam Film ký với
Universal Music. Các hãng băng đóa cũng có thể mua thẳng từ trung tâm bán sỉ
các nước không thông qua hãng băng đóa nước ngoài.
Bên cạnh đó các sản phẩm băng đóa lậu được cung cấp cho thò trường qua
nhiều ngã từ các nước xung quanh như Lào, Campuchia, Trung Quốc. Đáng ngại
nhất là sản phẩm được nhập lậu từ Trung Quốc với giá rẻ. Một số tổ chức đem
chương trình đặt hàng gia công tại Trung Quốc sau đó nhập lậu trở lại thành phố.
Ngoài ra băng đóa còn có thể sản xuất lậu ngay trong nước bằng cách lấy các
19
chương trình ăn khách mới tung ra đem in sang lậu tại một số đầu mối trong thành
phố sau đó tung ra thò trường.
So với cả nước thì thành phố Hồ Chí Minh là khu vực có cơ sở hạ tầng và vò
trí đòa lý thuận lợi, mức độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất nước. Mức sống
của người dân khá ổn đònh và cao hơn nhiều so với các khu vực khác. Cũng vì
những lý do đó mà nhu cầu giải trí và thưởng thức văn hóa-nghệ thuật ở thành phố
1.5
Video, Cassette ( triệu
cái)
Doanh Thu (Tỷ đồng)
1.0
1.2
1.5
1.2
43
70
100
80
* Nguồn: Báo cáo Volume của Universal Music năm 1999
20
Theo tính toán của các hãng băng đóa thành phố và thống kê của Sở Văn
Hóa Thông Tin, lượng băng đóa phát hành của các hãng từ năm 1998 đến nay có
2000 đã giảm từ 20-50% khiến các hãng sản xuất băng đóa không dám tung ra
chương trình mới vì nạn ăn cắp bản quyền và sao chép lậu. Tính đến đầu tháng
5/2000 thì số lượng chương trình phát hành giảm 50% so với năm 1999 và số băng
đóa tiêu thụ chỉ đạt mức 200 ngàn đóa. Số lượng băng đóa phát hành chủ yếu được
tiêu thụ tại thành phố Hồ Chí Minh. Các thành phố lớn khác như Hà Nội, Hải
Phòng, Cần Thơ, Huế, Đà Nẵng… chỉ tiêu thụ bằng ¼ thành phố Hồ Chí Minh.
Số lượng băng đóa được tiêu thụ của các hãng băng đóa thành phố trong
những năm gần đây phản ánh sự phát triển không ngừng của thò trường băng đóa
nhạc giải trí và tác động của nền kinh tế cũng như thò hiếu của công chúng đến
ngành công nghiệp băng đóa. Để hiểu rõ hơn thực trạng và thông qua đó có những
tác động marketing phù hợp nhằm phát triển ngành công nghiệp giải trí này ta cần
tìm hiểu, phân tích thực trạng marketing của ngành sản xuất kinh doanh băng đóa
nhạc thành phố Hồ Chí Minh một cách hệ thống và khoa học.
2.2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MARKETING NGÀNH SẢN XUẤT
KINH DOANH BĂNG ĐĨA NHẠC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.2.1 Phân khúc thò trường, lựa chọn thò trường mục tiêu, khách
hàng thò trường băng đóa và thói quen mua sắm.
Hiện nay, với qui mô dân số Việt Nam trên 78 triệu người trong đó Thành
phố Hồ Chí Minh chiếm trên 5 triệu người, Hà Nội hơn 3 triệu người, Cần Thơ,
Hải Phòng, Huế trên 2 triệu người1…thì nhu cầu băng đóa của thò trường là rất lớn.
Do sự phát triển kinh tế giữa các vùng không đồng đều nhau nên thu nhập chênh
lệch lớn giữa nông thôn và thành thò. Các trung tâm đô thò có thu nhập cao hơn
nhiều lần so với các vùng nông thôn. Môi trường chính trò Việt Nam ổn đònh và
khung pháp luật ngày càng được cải thiện. Kinh tế đạt mức tăng trưởng cao mặc dù
1
Niên giám thống kê 1999
…
•
Thò trường băng đóa nhạc là một trong những thò trường sôi
động nhất hiện nay với nhiều đối tượng khách hàng mà chủ yếu là giới trẻ,
những người rất nhạy cảm với sự thay đổi trong cuộc sống. Ngành băng đóa
thành phố xác đònh mục tiêu là phục vụ tập trung vào hai trung tâm lớn
có sự phát triển kinh tế mạnh nhất và điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi của
cả nước là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ đó mở rộng ra các vùng
khác.
-
Từ nay đến năm 2005 ngành băng đóa thành phố tập trung vào
phát triển hai khu vực thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội và từng bước mở
2
3
Thời báo Kinh Tế Việt Nam (VET) 20/11/99 và báo Saigon Times Daily 01/2000
Niên Giám Thống Kê 1999
23