1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
--------------------
NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO
BỘ PHẬN TRONG HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
1
3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
trong suốt quá trình nghiên cứu, thực sự là những bài học vô cùng quý giá đối với
tôi không chỉ trong quá trình viết luận án mà cả trong hoạt động nghiên cứu
chuyên môn sau này.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, lãnh đạo và tập thể giảng viên Khoa Kế
toán, học viện Tài chính, nơi tôi đang công tác, các Thầy Cô đã giúp đỡ, góp ý
và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu và viết luận án
của mình, những đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành
luận án này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, chồng và các con đã động viên và hỗ
trợ tôi rất nhiều về mặt thời gian, hy sinh về vật chất lẫn tinh thần để giúp tôi hoàn
thành luận án này.
Hà Nội, tháng 09 năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hồng Vân
5
7
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng
được công bố trong công trình khoa học nào, ngoại trừ một số kết quả được công bố
trong các công trình khoa học của chính tác giả và người hướng dẫn.
Những nội dung tham khảo từ tài liệu khác đều được tác giả ghi nguồn cụ thể
trong Danh mục các tài liệu tham khảo.
Hà Nội, tháng 09 năm 2017
- Thái Bình Dương
1
APEC
2
ASEAN
3
BCBP
Báo cáo bộ phận
4
BCTC
Báo cáo tài chính
5
BCTN
Báo cáo thường niên
6
10
DNNY
11
FASB
Financial Accounting Standards Ủy Ban Chuẩn mực kế toán tài
Board
chính Hoa Ky
12
GAAP
Generally Accepted Accounting Những nguyên tắc được chấp nhận
Principles
chung
13
HĐQT
14
HNX
15
18
IASC
International Accounting
Standards Committee
Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc
tế
19
IFAC
The International Federation of
Liên đoàn kế toán quốc tế
Accountants
20
IFRS
International Financial ReportingChuẩn mực báo cáo tài chính quốc
11
13
Standards
Commission
Ủy ban chứng khoán Hoa Ky
26
SFAS
Statement of Financial
Accounting Standards
Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa
Ky
27
SPSS
Statistical Package for the Socialphần mềm máy tính phục vụ công
Sciences
tác phân tích thống kê
28
TGĐ
29
TT
34
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
13
Kết quả hoạt động
Tổng giám đốc
Thị trường
15
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
15
hoạt động của một doanh nghiệp đa diện, sát sao như chính nhà quản trị của doanh
nghiệp đó, điều này giúp các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra được quyết định kinh
tế đúng đắn.
16
17
Xuất phát từ lợi ích của việc công bố thông tin BCBP và tình hình thực tiễn
TTCK Việt Nam những năm gần đây, tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện việc
công bố thông tin báo cáo bộ phận trong hệ thống báo cáo tài chính tại các doanh
nghiệp cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm Luận án
nghiên cứu, với mong muốn giải quyết những vấn đề đang tồn tại, cả về lý luận và thực
tiễn, góp phần thực hiện tốt việc công bố thông tin bộ phận trên báo cáo tài chính
(BCTC) của các DNNY.
2. Tổng quan nghiên cứu
Công bố thông tin BCBP trên BCTC của các DNNY là vấn đề đã được rất nhiều
tác giả nghiên cứu, cả tác giả trong nước và tác giả quốc tế, công trình của họ thuộc
nhiều cấp độ. Để có cái nhìn toàn cảnh về những công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài của Luận án, tác giả xin chọn giới thiệu một số công trình tiêu biểu, chỉ ra
khoảng trống nghiên cứu của từng đề tài.
2.1. Nghiên cứu nước ngoài liên quan đến công bố thông tin Báo cáo bộ
phận trên BCTC
Trong những năm gần đây, nghiên cứu tính hữu ích của việc công bố thông tin
BCBP, mức độ công bố thông tin BCBP, và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin BCBP của cả DNNY và doanh nghiệp chưa niêm yết, đã được nhiều nhà
nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán thực hiện. Trong nội dung này của Luận án, tác giả
sẽ trình bày những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tính hữu ích, mức độ công
bố và nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin BCBP.
2.1.1. Tính hữu ích của việc công bố thông tin báo cáo bộ phận trong các qui
định của SFAS No.131, IAS 14, và IFRS 8
tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản hiện có. Họ công bố một bảng các chỉ số kiểm tra dựa trên những
yêu cầu của IAS 14 bao gồm 11 yếu tố của bộ phận chính yếu (doanh thu từ bên ngoài,
doanh thu nội bộ, lợi nhuận, tài sản, cơ sở giá nội bộ, nợ phải trả, chi phí tài chính, chi
phí khấu hao, các khoản chi phí không bằng tiền khác, lợi nhuận từ liên doanh/liên kết
và đối chiếu, điều chỉnh với các tài khoản hợp nhất); ba yếu tố của các bộ phận thứ yếu
(doanh thu từ bên ngoài, tài sản và các chi phí tài chính); và hai yếu tố cho những nội
dung khác (loại hình sản phẩm/dịch vụ của các doanh nghiệp và yếu tố địa lý,
(Suwaidan và cộng sự, 2007).
Mức độ công bố thông tin và nội dung thông tin công bố rất quan trọng, phục
vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin trong quá trình ra quyết định. Nhiều học giả
cho rằng, việc công bố thông tin hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của đối tượng
sử dụng thông tin bởi nhà quản trị đã can thiệp, hạn chế cung cấp thông tin ra ngoài,
trong trường hợp thông tin đó không có lợi cho mục tiêu của họ (Akhatruddin, 2005).
Kết quả là, mức độ công bố thông tin thực tế không đáp ứng được nhu cầu thực tế của
đối tượng sử dụng thông tin, mâu thuẫn này xuất phát từ lý thuyết đại diện (The
Agency theory). Tuy nhiên, các học giả Cooke, Hossain và Karim đã khẳng định
rằng, mức độ công bố thông tin BCBP trên BCTC càng chi tiết sẽ càng làm tăng giá
18
19
trị thị trường của doanh nghiệp và tăng khả năng thanh khoản trên TTCK [Cooke,
(1989); Hossain, (2000); Karim, (1996)].
2.1.1.2. Công bố thông tin BCBP giúp dự đoán kết quả trong tương lai
Về những chuẩn mực mà sự ra đời và phát triển của nó có ảnh hưởng đến quy
định trong công bố BCBP, phải kể đến SFAS No.131, ban hành năm 1997 tại Mỹ, tiền
thân của IFRS 8 (2008) - thay thế IAS 14. Rất nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận,
SFAS No.131 ảnh hưởng rất lớn đến BCBP ở Mỹ. Các tác giả Hermann, Thomas,
Berger và Hann tiến hành khảo sát, kết quả là hơn một nửa DNNY trong mẫu nghiên
cứu đã công bố BCBP, tăng so với thời ky còn sử dụng chuẩn mực cũ [Hermann và
Bên cạnh đó, Martin và Poli cũng đã nghiên cứu, liệu công bố thông tin BCBP
theo khu vực địa lý có hữu ích cho người sử dụng BCTC từ các công ty đa quốc gia
của Mỹ đang hoạt động trong thị trường ở các nước đang phát triển hay không. Giả
thuyết này được kiểm nghiệm bằng cách ước lượng hệ số phản ứng thu nhập (ERC)
cho lợi nhuận của các công ty đang hoạt động trong thị trường ở các nước đang phát
triển so với những công ty chỉ hoạt động tại các thị trường ở các nước phát triển
(Martin và Poli, 2004). Số liệu công bố thông tin BCBP theo khu vực địa lý được thu
thập từ 111 doanh nghiệp. Vì lợi nhuận thu được từ thị trường ở các nước đang phát
triển có rủi ro hơn là lợi nhuận thu được từ thị trường ở các nước phát triển, các tác giả
này đã giả thuyết rằng, các doanh nghiệp tại thị trường ở các nước đang phát triển có hệ
số ERC thấp hơn (cụ thể là thu nhập thấp hơn) các doanh nghiệp tại thị trường ở các
nước phát triển. Tại những khu vực được nghiên cứu, họ thấy rằng, hệ số ERC của các
doanh nghiệp tại thị trường ở các nước đang phát triển (3.65) thấp hơn đáng kể so với
các doanh nghiệp chỉ hoạt động tại thị trường ở các nước phát triển. Nói cách khác, lợi
nhuận các công ty đa quốc gia thu được từ các thị trường ở các nước đang phát triển ít
hơn từ các thị trường ở các nước phát triển; điều này có nghĩa là lợi nhuận thu được từ
các khu vực địa lý khác nhau có thể khác nhau. Do đó, thông tin BCBP theo khu vực
địa lý được công bố là hữu ích cho các cổ đông vì nó cho phép họ so sánh lợi nhuận
của các doanh nghiệp, (Martin và Poli, 2004).
Ảnh hưởng từ SFAS No.131 cũng cho thấy, số lượng các doanh nghiệp công
bố thông tin BCBP theo khu vực địa lý tăng lên, đây là cơ sở để các đối tượng sử
dụng thông tin dự báo doanh thu, kết quả theo vị trí kinh doanh của doanh nghiệp.
Các tác giả đều khẳng định, cách thức công bố thông tin dựa vào quan điểm quản trị
“management approach” của SFAS No.131 đã được chứng minh là thành công hơn
so với cách thức trước đây, trên cơ sở rủi ro và lợi ích từng bộ phận “risks and
rewards-approach”.
Xem xét đặc điểm định tính của thông tin trên BCTC, các tác giả Maines,
McDaniel và Harris ủng hộ SFAS No.131, họ cho rằng, thông tin BCBP sẽ đáng tin
cậy hơn khi thông tin bộ phận được công bố từ các nhà quản trị doanh nghiệp và
thông tin bộ phận được công bố cho các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài là
là công bố thông tin BCBP theo khu vực địa lý, (Edwards và Smith, 1996).
Những bất lợi cạnh tranh trong phân tích về công bố thông tin BCBP ở trên có
thể là từ áp lực chính trị, áp lực của khách hàng hoặc áp lực từ phía đối thủ cạnh tranh.
Trước đó, đã có một số nghiên cứu về mức độ của bất lợi cạnh tranh và mối quan hệ
của bất lợi cạnh tranh với việc công bố thông tin BCBP tại thị trường ở những nước
đang phát triển như Malaysia và Jordan. Ví dụ, Talha và cộng sự đã sử dụng phương
pháp hồi quy tuyến tính với số liệu thu thập từ 116 DNNY công khai thông tin BCBP
tại Malaysia, giai đoạn 2000-2001. Họ không tìm thấy mối quan hệ giữa mức độ cạnh
21
22
tranh mà doanh nghiệp phải đối mặt với mức độ công bố thông tin BCBP. Talha và
cộng sự đã sử dụng phép hồi quy tương tự với cùng quy mô và các biến như trong
nghiên cứu của họ nhưng thêm một số biến độc lập (lựa chọn hoạt động kinh doanh
hoặc khu vực địa lý) làm tiêu chuẩn của bộ phận chính yếu, họ nhận thấy mức độ bất
lợi cạnh tranh ở các doanh nghiệp công khai thông tin bộ phận theo khu vực địa lý như
bộ phận chính yếu cao hơn. Ngoài ra, các tác giả cũng nhận thấy các doanh nghiệp lớn
hơn ở Malaysia chịu nhiều bất lợi so sánh hơn các doanh nghiệp nhỏ, quy mô doanh
nghiệp trong thị trường ở các nước đang phát triển cũng là một yếu tố ảnh hưởng,
(Talha và cộng sự, 2007).
2.1.2. Mức độ công bố thông tin BCBP, nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin BCBP
2.1.2.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về việc công bố thông tin BCBP
Nghiên cứu về mức độ công bố thông tin BCBP và đánh giá nhân tố ảnh hưởng
đến mức độ công bố thông tin BCBP đã được nhiều tác giả trên thế giới thực hiện, trên
cơ sở số liệu ở từng nước như Nigeria, Kuwait, Italia, Ấn độ, Tây Ban Nha,… Các
nghiên cứu đều sử dụng phương pháp thống kê mô tả và mô hình phân tích hồi quy đa
biến, nhằm đánh giá mức độ tuân thủ chuẩn mực kế toán về công bố thông tin BCBP
và phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin BCBP tại các
tại Kuwait năm 2008 với mô hình nghiên cứu:
Y = β0 + β1 (company size) + β2 (audit quality) + β3 (company age) + β4
(ownership diffusion) + β5 (profitability) + β6 (leverage) + β7 (growth) + β8-11
(industry 1-4) + εi
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, 56% doanh nghiệp tuân thủ quy định về
BCBP, trong đó, những doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động lâu năm, đòn bẩy tài
chính cao, khả năng sinh lợi lớn và có hoạt động kiểm toán được thực hiện bởi các công
ty kiểm toán thuộc nhóm Big 4 (nhóm gồm bốn công ty kiểm toán quốc tế hàng đầu
trên thế giới hiện nay), có mức độ công bố thông tin bộ phận cao hơn các doanh nghiệp
khác.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Manuela Lucchese và Ferdinando Di Carlo ở Ý
đề cập đến ảnh hưởng của việc thay đổi nội dung từ IAS 14 sang IFRS 8 - “An
Analysis Of Segment Disclosure under IFRS 8 and IAS 14R: Evidence from Italian
Listed Companies”. Nghiên cứu thực hiện khảo sát về ảnh hưởng của việc áp dụng
IFRS 8 trong năm đầu tiên (2008) và hai năm tiếp theo (2009, 2010) thông qua thu thập
dữ liệu của 69 DNNY tại Italia với mô hình nghiên cứu:
VoluntSDSi = β0 + β1TAt + β2ROIt + β3LEVt + β4OWNt + β5GROWTHt
+ β6BETAt+ β7FINt + εi
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, 75% DNNY tại Italia không thay đổi cách
thức công bố thông tin bộ phận khi áp dụng chuẩn mực mới. Khi chuyển đổi từ IAS
14R sang IFRS 8, chỉ có 16% doanh nghiệp tăng mức độ công bố thông tin BCBP,
23
24
thậm chí có 9% doanh nghiệp giảm lượng thông tin công bố. Điểm tích cực đáng nói
nhất của IFRS 8 là phương pháp quản trị nhưng phương pháp này lại chỉ mới thể hiện
được trên lý thuyết. Về mối liên hệ giữa mức độ công bố BCBP và các nhân tố ảnh
hưởng thuộc đặc tính của doanh nghiệp, kết quả từ nghiên cứu cho thấy, quy mô doanh
nghiệp và khả năng sinh lời là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc công bố BCBP
25
hành khảo sát mức độ tuân thủ việc công bố BCBP theo IFRS 8 của các DNNY này với
mô hình nghiên cứu:
DCSi = β 0 + β1SIZEi + β2LISTi + β3AUDITi + β4ROAi + β5LEVi +
β6IBEXi + ei
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 79% DNNY tại Tây Ban Nha tuân thủ việc công
bố BCBP theo từng lĩnh vực kinh doanh. Chỉ có 7,6% doanh nghiệp không công bố
BCBP do chỉ có duy nhất một bộ phận. Nghiên cứu kết luận rằng, quy mô doanh
nghiệp càng lớn, càng công bố nhiều thông tin BCBP hơn; khả năng sinh lợi càng cao,
mức độ công bố thông tin BCBP càng thấp. (Nuno Pardal và Ana Isabel Morais, 2010).
Một nghiên cứu điển hình ở Malaysia, tương đồng về điều kiện phát triển và
văn hoá với Việt Nam, của nhóm tác giả Samuel Jebaraj Benjamin, Saravanan
Muthaiyah, M. Srikamaladevi Marathamuthu, Uthiyakumar Murugaiah - “A Study of
Segment Reporting Practices: A Malaysian Perspective”. Nghiên cứu sử dụng phương
pháp thống kê mô tả để khảo sát một số doanh nghiệp lớn ở 5 lĩnh vực kinh doanh năm
2007 và 2008 tại Malaysia gồm: viễn thông, nước giải khát, truyền thông in ấn, điện tử
truyền thông và tiện ích xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp
không trình bày BCBP khá cao, các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận cao cũng chính
là các doanh nghiệp không trình bày BCBP. Nghiên cứu cũng đã đề cập một số giải
pháp khắc phục tình trạng không chấp hành trình bày BCBP tại quốc gia này, (Samuel
Jebaraj Benjamin, Saravanan Muthaiyah, M. Srikamaladevi Marathamuthu,
Uthiyakumar Murugaiah, 2010).
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến tính hữu ích
của việc công khai thông tin trên BCTC nói chung và công bố thông tin bộ phận nói
riêng. Các học giả đã sử dụng mô hình kinh tế định lượng để đánh giá các nhân tố chủ
yếu (liên quan đến đặc tính của doanh nghiệp, thị trường) ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin, hay thông tin BCBP của DNNY trên TTCK. Luận án này sẽ tập trung
kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố (liên quan đến đặc tính của doanh nghiệp như
ngành nghề kinh doanh, khả năng sinh lời, qui mô doanh nghiệp,...) ảnh hưởng đến
mức độ công bố thông tin BCBP, bằng việc sử dụng phương pháp phỏng vấn để đánh
doanh nghiệp và khả năng sinh lời, nghiên cứu của nhóm tác giả Mishari M. Alfaraih
và Faisal S. Alanezi đã kết luận, có mối quan hệ cùng chiều giữa qui mô doanh nghiệp
và khả năng sinh lời với mức độ công bố thông tin BCBP. Trong khi đó, kết quả nghiên
cứu của nhóm tác giả Samuel Jebaraj Benjamin, Saravanan Muthaiyah, M.
Srikamaladevi Marathamuthu, Uthiyakumar Murugaiah kết luận ngược lại, các doanh
nghiệp trong mẫu nghiên cứu có mức sinh lời càng cao thì mức độ công bố thông tin
BCBP càng thấp.
- Liên quan đến đánh giá tính hữu ích của việc công bố thông tin BCBP, đa phần
các nghiên cứu đã chứng minh bằng phương pháp thực chứng để kết luận việc công bố
thông tin BCBP có ý nghĩa đối với các đối tượng sử dụng thông tin, chủ yếu là nhà đầu
26
27
tư trên TTCK. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều chưa sử dụng đặc điểm định tính của
thông tin trên BCTC để xem xét tính hữu ích của việc công bố thông tin BCBP.
Qua những phân tích trên, có thể thấy, cần thận trọng khi xem xét các kết quả
nghiên cứu, không được chỉ dựa vào các kết quả nghiên cứu để khẳng định kết quả nào
đúng, kết quả nào sai, kết quả nào phù hợp, mà cần xem xét toàn diện để có cách nhìn
đúng đắn, đầy đủ ở mỗi kết quả nghiên cứu, nhằm vận dụng hợp lý trong từng môi
trường, từng nền kinh tế và từng doanh nghiệp tại Việt Nam. Sự khác nhau ở một số kết
quả nghiên cứu có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân sau, khác về lựa chọn mẫu
nghiên cứu khi thực nghiệm (nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau có thể phải đối mặt
với thực trạng khác biệt về văn hoá, kinh tế, chính trị, tập quán dẫn đến kết quả khác
nhau), khác về thời điểm nghiên cứu (thời điểm được chọn để lấy mẫu nghiên cứu khác
nhau dẫn đến khác về kiến thức, tầm nhìn, trình độ, kỹ thuật và công cụ phân tích,…)
và khác về trình độ phát triển kinh tế của các nước ở từng giai đoạn.
Tóm lại, trên cơ sở xem xét các nghiên cứu về tính hữu ích của việc công bố
thông tin BCBP đã được tiến hành trên thế giới, có rất nhiều tranh luận về lợi ích cũng
về lập và công bố thông tin BCBP theo IFRS 8.
2.2. Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, để hiểu rõ mục tiêu của đề tài, tính hữu ích của việc công bố
thông tin BCBP với đối tượng sử dụng thông tin, cũng như đánh giá mức độ tuân thủ
quy định và nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin BCBP, từ đó có những
đề xuất nhằm tăng cường mức độ công bố thông tin BCBP trong BCTC cũng như cải
thiện chất lượng thông tin công bố của các DNNY trên TTCK. Ngoài việc trình bày
những nghiên cứu ở nước ngoài, Luận án sẽ trình bày cụ thể các nghiên cứu liên quan
đến việc công bố thông tin BCBP tại Việt Nam.
2.2.1. Các nghiên cứu đánh giá tính hữu ích của việc công bố thông tin tài
chính (TTTC), mức độ công bố thông tin (CBTT) và nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ CBTT BCTC nói chung
Liên quan đến tính hữu ích của thông tin công bố trên BCTC của các doanh
nghiệp Việt Nam, phải kể đến nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phúc Sinh. Tác giả đã
phân tích tính hữu ích của thông tin trên BCTC, đưa ra quan điểm và đề xuất các giải
pháp để nâng cao tính hữu ích của thông tin công bố trong BCTC ở các DNNY ở Việt
Nam (Nguyễn Phúc Sinh, 2008).
Một số tác giả đã có nghiên cứu đánh giá mức độ CBTT cũng như xem xét các
nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tài chính tại các DNNY. Cụ thể, nhóm tác giả
Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài đã sử dụng phương pháp chỉ số CBTT để đo
lường mức độ CBTT. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã đánh giá các nhân tố (liên quan
đến đặc điểm công ty) ảnh hưởng đến mức độ CBTT. Qua phân tích hồi quy, kết quả
cho thấy mức độ CBTT trong BCTC của các DNNY chưa cao. Các nhân tố tác động
đến thành phần hội đồng quản trị (HĐQT) gồm, tỷ lệ sở hữu vốn HĐQT, đòn bẩy tài
chính, tỷ lệ sở hữu nước ngoài ảnh hưởng đến mức độ CBTT, các nhân tố còn lại
28
29
không ảnh hưởng (Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài, 2015). Thời gian gần
áp dụng VAS 28 trong thực tiễn còn nhiều bất cập. Thông tin về các bộ phận nếu được
công bố hợp lí sẽ hữu ích với nhiều đối tượng sử dụng BCTC doanh nghiệp. Tác giả
29
30
Phạm Thị Thủy đã nghiên cứu, đánh giá mức độ tuân thủ VAS 28 và tính hữu ích của
công bố thông tin BCBP của 30 doanh nghiệp làm mẫu (30 doanh nghiệp có giá trị vốn
hóa và tính thanh khoản cao nhất trên TTCK Việt Nam). Tuy nhiên, nghiên cứu mới
dừng ở kết quả khảo sát tổng quan áp dụng VAS28, chưa có nội dung đánh giá cụ thể
xem mức độ tuân thủ ở từng nội dung trong qui định (Phạm Thị Thủy, 2012).
Trong nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện trình bày và công bố báo
cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP. HCM”. Bằng
khảo sát BCTC của 308 doanh nghiệp có BCTC niêm yết năm 2012, nghiên cứu đã xác
định các nhân tố ảnh hưởng đến công bố BCBP theo VAS 28, đồng thời nghiên cứu
cũng mô tả chi tiết lý do các doanh nghiệp không công bố thông tin bộ phận. Kết quả
kiểm định cho thấy, có sự tương quan thuận chiều giữa quy mô doanh nghiệp, chất
lượng công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính với mức độ công bố thông tin BCBP; sự
tương quan ngược chiều giữa tỷ lệ quyền sở hữu của cổ đông nhỏ, chất lượng công ty
kiểm toán và đòn bẩy tài chính với mức độ công bố thông tin BCBP. Đồng thời, có sự
tương quan ngược chiều giữa tỷ suất sinh lời và đòn bẩy tài chính, từ đó, tác giả đã chỉ
ra nguyên nhân những tồn tại trong việc thực thi VAS 28 cũng như những hạn chế cần
được cải tiến trong khuôn khổ pháp lý ở Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng và số
lượng thông tin bộ phận được công bố (Trần Thị Thúy An, 2013).
Hơn nữa, cũng nghiên cứu về công bố thông tin bộ phận: “Hoàn thiện báo cáo
bộ phận trong kế toán Việt Nam theo hướng phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế”. Tác
giả đã chọn mẫu là 118 DNNY trên sàn giao dịch chứng khoán TP. HCM có BCTC
niêm yết năm 2010. Kết quả cho thấy, có mối liên hệ giữa khả năng sinh lời với việc
công bố thông tin BCBP. Những công ty có khả năng sinh lời thấp sẵn sàng công bố
nhiều thông tin BCBP hơn. Bằng phương pháp thống kê mô tả và kiểm định các giả
các DNNY.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế:
(1) Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận của các nghiên cứu được thực
hiện chủ yếu nhằm làm rõ việc tuân thủ VAS 28 - BCBP tại các DNNY, đánh giá mức
độ tuân thủ quy định chuẩn mực. Chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam đánh giá tính
hữu ích của việc công bố thông tin BCBP, cũng như xem xét những khó khăn khi tuân
thủ khuôn mẫu trong quá trình công bố thông tin BCBP trong BCTC.
(2) Các nghiên cứu trước khi xem xét quy định về chuẩn mực kế toán, chưa gắn
kết với yêu cầu hội tụ kế toán quốc tế cũng như chuẩn mực kế toán quốc tế, chưa gắn
kết và làm rõ đặc thù của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hội nhập. Cụ thể, sự hài
hoà theo chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 8 - BCBP chưa được nghiên cứu rõ ràng.
2.3. Kết luận
Qua việc tổng hợp kết quả nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về công bố
thông tin BCTC nói chung, công bố thông tin BCBP nói riêng có thể thấy, có nghiên
cứu đánh giá mức độ công bố thông tin BCBP và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến
31
32
mức độ công bố thông tin. Tuy nhiên, hầu hết nghiên cứu đều chỉ xem xét mức độ tuân
thủ chung chung, chưa cụ thể từng nội dung để có giải pháp cụ thể cho vấn đề tăng
cường mức độ công bố thông tin BCBP nói riêng hay chất lượng thông tin BCTC công
bố nói chung. Các nghiên cứu trên thế giới ít thực hiện bước nghiên cứu tổng thể bằng
phương pháp định tính để khám phá các nhân tố mới, mà chủ yếu thừa nhận và vận
dụng đầy đủ các nhân tố đã thực hiện ở các mô hình trước với cỡ mẫu ngày càng rộng
hơn. Trong khi đó, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào nghiên cứu mức
độ tuân thủ chuẩn mực kế toán VAS 28 - BCBP, và xem xét các nhân tố ảnh hưởng
(thuộc đặc tính doanh nghiệp) với mức độ với mức độ công bố thông tin BCBP.
Phương pháp nghiên cứu tập trung sử dụng các mô hình phân tích, chưa có nghiên cứu
nào có sự khẳng định từ phân tích định tính để kết quả logic hơn. Ngoài ra, việc đánh