ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP DẠY TỐT CÁC BÀI THỰC HÀNH Ở BỘ MÔN SINH HỌC 9 TRONG ĐIỀU KIỆN THIẾU THIẾT BỊ DẠY HỌC - Pdf 47

TÊN ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP DẠY TỐT CÁC BÀI THỰC HÀNH Ở BỘ MÔN
SINH HỌC 9 TRONG ĐIỀU KIỆN THIẾU THIẾT BỊ DẠY HỌC .
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1)Lý do chọn đề tài:
Sinh học là một khoa học thực nghiệm. Các kiến thức sinh học cần được hình
thành theo phương pháp quan sát, thí nghiệm, thực hành. Các bài thực hành
không những giúp cho các em củng cố lại kiến thức đã học, khẳng định tính khoa
học chính xác giữa lý luận và thực tiễn mà còn kích thích lòng say mê nghiên
cứu, yêu khoa học của học sinh.
Tuy nhiên trong điều kiện thiết bị dạy học của cả nước vừa thiếu lại vừa
không đồng bộ, đặc biệt là các tiết thực hành ở bộ môn sinh học 9, việc thiếu
thiết bị càng trở nên trầm trọng hơn đối với các trường ở vùng nông thôn như ở
trường chúng tôi (trường THCS Phan Tây Hồ -Huyện Phú Ninh). Do đó nhóm
giáo viên sinh học 9 của trường chúng tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Phương pháp dạy tốt các bài thực hành ở bộ môn sinh học 9 trong điều kiện
thiếu thiết bị dạy học”.
1) Phạm vi nghiên cứu:
Tiến hành nghiên cứu trong 2 năm từ năm học 2005-2006 đến năm học 20062007 nhằm mục đích dạy tốt các tiết thực hành, đáp ứng được yêu cầu đổi mới
phương pháp dạy học.
2) Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 9.
3) Giới hạn đề tài: Chương trình sinh 9 kiến thức rất nhiều, vừa lý thuyết, vừa
thực hành. Đối với phần thực hành với phạm vi đề tài, chúng tôi không thể phân
tích hết tất cả các bài thực hành trong SGK, nên chỉ giới hạn ở một số bài có nội
dung nổi bậc để phân tích và nêu các phương án giảng dạy thích hợp.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I/ Cơ sở lý luận:
1) Khái niệm về thiết bị dạy học:
Thiết bị dạy học (TBDH) là một trong những điều kiện vật chất của nhà
trường.
TBDH có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục tiêu ,nguyên lý giáo dục

dùng dạy học còn thiếu rất nhiều: bộ môn sinh Lớp 6, 7 chỉ có 1 bộ, lớp 8 không
có bộ nào, lớp 9 không đầy đủ chỉ có 1 ít tranh vẽ, một số mô hình ARN, và tổng
hợp prôtêin.
- Việc thay sách giáo khoa lớp 9 đã thực hiện được 2 năm từ năm học
2005-2006 đến nay, chúng tôi đã có được những thuận lợi và khó khăn khi chọn
đề tài này.
a.Thuận lợi:
- Nhóm sinh 9 gồm 2 giáo viên được bố trí giảng dạy liên tục trong 2 năm
thực hiện thay sách lớp 9.
- Là trường ở vùng nông thôn nên các bài thực hành ở phần sinh vật và
môi trường học sinh dễ tiếp cận với các yêu cầu mà giáo viên đặt ra .
-Số lớp nhiều: 7 lớp 9, do đó dễ tiến hành thí nghiệm và kiểm chứng .
b.Khó khăn :
- Thiết bị dạy học còn quá thiếu và không đồng bộ .
- Học sinh không có thời gian nghiên cứu ở nhà do phải giúp đỡ công việc
đồng áng cho gia đình.
- Phụ huynh ít quan tâm.
2)Phân tích thực trạng tổ chức:
a. Phân công:
Năm học 2005-2006:
- Cô Huỳnh thị Tuyết giảng dạy 4 lớp 9.
- Cô Đoàn thị Giang giảng dạy 3 lớp 9.
Năm học 2006-2007:


- Cô Huỳnh thị Tuyết giảng dạy 3 lớp 9 .
- Cô Đoàn thị Giang giảng dạy 4 lớp 9 .
b.Thực hiện: Năm học 2005-2006 đã tiến hành :
-Dạy thử nghiệm 3 lớp (cô Tuyết 2 lớp, cô Giang 1 lớp )
-Dạy kiểm chứng 4 lớp (mỗi cô 2 lớp ).

+ Hoạt động 1: .Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh.
.Yêu cầu và phân công thực hiện.
.Xây dựng qui trình thực hiện .
+ Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn - học sinh thực hiện.
+ Hoạt động 3: Thảo luận đề xuất ý kiến và trình bày nội dung thực hiện.
- Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện .


- Bước 5: Nhận xét -Rút kinh nghiệm .
Trên khuôn khổ đề tài có hạn, chúng tôi đã phân loại các bài thực hành để tiện
sử dụng các phương án dạy học thích hợp, cụ thể như sau:
A. Đối với loại bài thực hành thiếu thiết bị dạy học :
Ví dụ 1:Bài thực hành : Quan sát hình thái Nhiễm sắc thể ở tiết 14:
I/Mục tiêu: Theo sách giáo khoa
- Nhận dạng được nhiễm sắc thể ở các kỳ .
- Phát triển khả năng sử dụng và quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi.
II/ Chuẩn bị:(theo yêu cầu của sách giáo khoa )
- Các tiêu bản cố định nhiễm sắc thể của một số loài động vật, thực vật
(giun đũa,châu chấu ,trâu bò ,lợn...)
- Kính hiển vi quang học với số lượng tương ứng với số nhóm học sinh .
- Hộp tiêu bản với số lượng tương ứng với số nhóm học sinh .
Tuy nhiên trong điều kiện trường chúng tôi không có tiêu bản (vì qua tìm hiểu
tiêu bản này rất đắt và nếu có do chất lượng kém nên có khả năng không quan sát
được) Chúng tôi chỉ được cấp ảnh chụp các kì nguyên phân của tế bào vảy
hành .Nhóm sinh 9 chúng tôi đã bàn bạc và thống nhất thay đổi như sau:
I/Mục tiêu:
- Nhận dạng được nhiễm sắc thể ở các kì.
- Rèn kĩ năng quan sát và vẽ hình .
II/Chuẩn bị :
- Ảnh chụp hình thái nhiễm sắc thể qua các kì nguyên phân của tế bào vảy

- Củng cố kiến thức về cấu trúc phân tử ADN.
- Rèn kĩ năng quan sát và phân tích mô hình ADN.
- Rèn thao tác lắp ráp mô hình ADN.
II/Chuẩn bị:
- Mô hình ADN đã được lắp ráp hoàn chỉnh .
- Hộp đựng mô hình cấu trúc phân tử ADN ở dạng tháo rời với số lượng
tương ứng .
- Màn hình, máy chiếu ,bóng điện.
- Đĩa CD có nội dung về cấu trúc ,cơ chế tự nhân đôi của ADN, cơ chế
tổng hợp ARN, cơ chế tổng hợp prôtê in.
III/ Cách tiến hành:
Do điều kiện trường chúng tôi không có tất cả những thiết bị dạy học mà
sách giáo khoa yêu cầu, chúng tôi chỉ có các nuclêôtic rời, bảng từ, đĩa CD, cơ
chế tự nhân đôi của ADN, nên chúng tôi đã thống nhất tiến hành như sau:
1) Phương án 1: (Ở lớp thử nghiệm)
I/Mục tiêu:
- Củng cố kiến thức về cấu trúc phân tử ADN.
- Rèn kĩ năng quan sát và phân tích mô hình tự nhân đôi của ADN.
II/Chuẩn bị:
- Tranh cấu trúc một đoạn phân tử ADN.
- Đĩa CD nội dung cơ chế tự nhân đôi của ADN.
- Đầu máy, tivi.
III/ Tiến hành:
1.Học sinh quan sát tranh xác định:
- Vị trí tương đối của 2 mạch nuclêôtic.
- Đường kính vòng xoắn, số cặp nuclêôtic trong mỗi vòng xoắn .
- Sự liên kết các nuclêôtíc của 1 mạch.
2.Học sinh xem băng hình cơ chế tự nhân đôi của ADN .
3.Thu hoạch:
- Vẽ hình phân tử ADN.

hoàn thành trên giấy.
- Các nhóm thao tác trên bảng từ.
- Lớp nhận xét về thao tác và kết quả.
*Kết quả:
+ 85% học sinh nhận dạng được không gian 3 chiều của phân tử ADN.
+ 97,2% học sinh nắm được cơ chế tự nhân đôi của phân tử ADN.
*Rút kinh nghiệm:
Sự thay đổi và vận dụng các thiết bị dạy học một cách linh hoạt sẽ khắc
phục được tình trạng thiếu thiết bị dạy học ,tạo niềm tin khoa học cho học sinh
,tiết thực hành trở nên sinh động ,hấp dẫn,học sinh ham thích hơn.
B. Đối với loại bài có sẵn mẫu vật tự nhiên :
Ví dụ 3: Bài thực hành :Quan sát thường biến tiết 28:
I/Mục tiêu: Như SGK
II/Chuẩn bị: Theo yêu cầu của sách giáo khoa là:
a) Tranh ảnh minh hoạ thường biến như :


- Ảnh chụp 2 mầm khoai lang được tách ra từ 1 củ ,một đặt trong tối ,một
để ngoài sáng .
- Ảnh chụp hai chậu gieo hạt lúa của cùng một giống ,một chậu đặt trong
tối ,một chậu để ngoài sáng .
Do điều kiện ở nông thôn học sinh có thể chuẩn bị mẫu vật dễ dàng,do đó
giáo viên định hướng để học sinh chuẩn bị theo từng nhóm nên có thể thay thế
tranh ảnh bằng mẫu vật thật.
b) Ảnh chụp chứng minh thường biến là biến dị không di truyền :
- Ảnh chụp cây rau dừa nước mọc ở 3 môi trường thay bằng mẫu vật
thật(các nhóm chuẩn bị)
c) Ảnh chụp minh hoạ ảnh hưởng khác nhau của cùng một điều kiện đối với tính
trạng số lượng và chất lượng.
Ảnh chụp 2 luống su hào trồng từ một giống nhưng được bón phân ,tưới

b) Phân biệt thường biến với đột biến:
Hướng dẫn học sinh quan sát sự khác nhau của thân cây dừa nước mọc
trên bờ ,ven bờ ,bò xuống nước.
Nhận xét kiểu hình ở từng môi trường?
Giáo viên gợi ý: Tại sao mọc ven bờ và trên mặt nước chúng đều có thân,
lá to, một phần rễ biến thành phao (cùng kiểu gen, cùng sống trong nước nên có
kiểu hình giống nhau).
c) Nhận biết ảnh hưởng của môi trường đối với tính trạng số lượng và tính trạng
chất lượng:
- Giáo viên gắn ảnh chụp ảnh hưởng của tính trạng số lượng và tính trạng
chất lượng đối với 2 cặp bê sinh đôi cùng trứng.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát :


+ Cặp trên là 2 bê có lông lang trắng đen .
+ Cặp dưới là 2 bê có lông đen tuyền .
+ Khẩu phần ăn của các cặp bê .
-Yêu cầu học sinh nhận xét :
+ Màu lông của các cặp bê.
+ Khẩu phần ăn nhiều ->béo ,khẩu phần ăn ít -> gầy.
=>Rút ra kết luận: Tính trạng chất lượng (màu lông) phụ thuộc vào kiểu gen ;
tính trạng số lượng (cân nặng ) phụ thuộc vào điều kiện sống.
* Kết quả: Với phương án này :
+ Ở phần (a) học sinh chỉ thấy được ảnh hưởng của ánh sáng , chưa
thấy được ảnh hưởng của các nhân tố khác .
+ Ở phần (b) 45,7% học sinh thấy được sự khác nhau giữa thường
biến và đột biến .
2.
Phương án 2 : (lớp kiểm chứng )
I/ Mục tiêu : Như SGK

*Kết quả: + Ở phần a học sinh xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến thường
biến .
+ Phần b 82% học sinh phát hiện được sự khác nhau giữa thường biến
với đột biến .
Ví dụ 4: Bài thực hành : Hệ sinh thái ở tiết 54-55.
I/Mục tiêu: Như SGK
II/ Chuẩn bị :
- Dao con,dụng cụ đào đất ,vợt bắt côn trùng .
- Túi nilon thu nhặt mẫu vật sinh vật.
- Kính lúp
- Giấy ,bút chì ,bảng 51.1 -> 51.4 (SGK)
III/ Cách tiến hành :
1) Phương án 1: (lớp thử nghiệm)
Tiết thứ nhất:
Giáo viên cho học sinh chọn một hệ sinh thái bất kỳ ,hướng dẫn cách
nghiên cứu để hoàn thành bảng 51.1 ->51.4 SGK và viết sơ đồ chuỗi thức ăn
(hoàn thành ở nhà)
Tiết thứ hai:
- Học sinh báo cáo phần nghiên cứu ở nhà .
- Yêu cầu học sinh hợp tác nhóm 8 đề xuất biện pháp bảo vệ tốt hệ sinh
thái đó .
*Kết quả:
- Học sinh nghiên cứu tràn lan,không tập trung ở một số điểm nóng ở địa
bàn Phú Ninh.
- Chưa giáo dục được cho học sinh ý thức bảo vệ hệ sinh thái đặc biệt ở
rừng cấm đầu nguồn ,hồ Phú Ninh ...
- Chỉ có 37% học sinh viết đúng sơ đồ chuỗi thức ăn.
2. Phương án 2: (lớp kiểm chứng)
I/Mục tiêu: Như SGK
II/ Chuẩn bị :Tương tự phương án 1

giao phấn, cho nên chúng tôi cho học sinh tìm mẫu vật khác thay thế: bầu, bí,
mướp, dưa leo, cà chua có hoa để tiến hành thực hiện.Tương tự như vậy chúng
tôi cũng xây dựng 2 phương án thực hiện, phương án nào đạt kết quả cao hơn
chúng tôi áp dụng cho những năm học sau.
*Rút kinh nghiệm:
- Cần khai thác triệt để các mẫu vật có sẵn ở địa phương.
- Giáo viên cần đầu tư trong công tác soạn giảng,định hướng để học sinh
phát huy tốt các mẫu vật ở địa phương.
C.KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Tóm lại, theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, để đạt được mục
tiêu đào tạo, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập thì thiết bị dạy học
là một trong những phương tiện cần thiết không thể thiếu trong tiết dạy, đặc biệt
với bộ môn sinh học lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc giúp học sinh
lĩnh hội kiến thức .
Bằng cách hướng dẫn ,định hướng, tổ chức thực hiện chu đáo ở các bài
thực hành, học sinh sẽ hình thành được các kỹ năng quan sát, nhận biết, phân
tích,vẽ hình, làm tiêu bản...học sinh sẽ xử lý được những tư liệu cần thiết liên
quan đến các kiến thức cơ bản của bài học, giúp các em rút ra được những kiến
thức trọng tâm.
Từ kết quả nghiên cứu ở 2 phương án dạy học ở năm học 2005-2006 ,năm
học 2006-2007 chúng tôi quyết định sử dụng phương án 2 để dạy các tiết thực
hành và đã đạt được kết quả như sau:


1)Kết quả thực hiện:
Năm học
Trung bình trở lên
Giỏi khá
2005- 2006
84,5%

TỔNG KẾT CHUYÊN ĐỀ:
“PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VỚI VIỆC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN
DẠY HỌC Ở MÔN CÔNG NGHỆ 9”
I/ĐẶT VẤN ĐỀ:
Thực hiện nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành” trong công tác thay
sách môn công nghệ 9 đã thực sự được coi trọng ,đặc biệt mô đun nấu ăn là một
trong những môn học kế thừa và phát triển những kiến thức và kĩ năng cơ bản
mà học sinh đã học ở lớp 6. Đây là một môn học gắn nhiều với thực tế,nhằm
hình thành cho học sinh kĩ năng cần thiết ,góp phần hướng nghiệp cho học
sinh,vì nấu ăn là việc làm rất cần cho mọi người trong cuộc sống thường
ngày,mặt khác nấu ăn cũng là một nghề đang có nhu cầu thật sự, nhất là khi đời
sống vật chất ,tinh thần chúng ta ngày một phát triển.Vì thế trong công nghệ
9,trường chúng tôi đã chọn môđun nấu ăn,nhằm giúp cho học sinh có một kiến
thức cơ bản,và rèn cho các em kĩ năng vận dụng kiến thức để áp dụng vào thực
tiễn,tạo sự hứng thú,say mê hơn trong công tác học tập.
II/GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Đối với môn công nghệ 9 phần môđun nấu ăn nội dung chương trình được thiết
kế chủ yếu là thực hành (chiếm 70% thời lượng),vì vậy muốn học tốt môn học
cần có sư kết hợp tốt phương pháp dạy học với việc sử dụng các phương tiện dạy
học.Trong thực tế trường chúng tôi có những thuận lợi và khó khăn nhất định,do
đó phần thực hiện có nhiều thiếu sót cần có sự đầu tư ,bổ sung ,và hổ trợ kinh phí
cũng như dụng cụ thiết bị .
1) Thuận lợi:
-Được sự quan tâm chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường
-Tổ chuyên môn đã tổ chức nhiều buổi bàn về phương pháp giảng dạy và thường
xuyên tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm về đổi mới phương pháp giảng dạy,kết hợp
với việc sử dụng phương tiện dạy học.


-GV giảng dạy nhiệt tình,và đã được tập huấn về chuyên môn.

+Hình ảnh phóng to các thao tác thực hành: sơ chế, chế biến, trình bày
+Hình vẽ ,tranh ảnh ,sơ đồ gợi ý cho sự sắp xếp các khu vực làm việc trong
nhà bếp,các dạng bếp thông dụng,cách trình bày bàn ăn...
+Hình ảnh các dụng cụ thiết bị nhà bếp thường được sử dụng.
- Dụng cụ :
+Bếp, soong chảo, dao, thớt, thau, chậu, cối chày, rỗ...
+Bát , đĩa, thìa, đũa...phù hợp với nội dung thực hành.
- Nguyên vật liệu: Thực phẩm và gia vị cần thiết cho chế biến, được chuẩn bị
đầy đủ theo yêu cầu của từng bài .


Do đó chúng tôi đã tự chuẩn bị bằng cách phóng to tranh ảnh về qui trình
thực hành,sưu tầm một số hình ảnh về nguyên liệu dụng cụ mà các em chưa nhìn
thấy hoặc chưa biết ví dụ máy xay thịt, nồi hầm, nồi hấp, bếp điện...
Như vậy đòi hỏi giáo viên phải thâm nhập thực tế,tận dụng những thiết bị
hiện có và tự chuẩn bị thêm phương tiện để tổ chức giảng dạy cho học sinh để
các em nắm bắt được những kiến thức cơ bản cũng như rèn kĩ năng kĩ xảo thực
hành.
b) Phương pháp dạy học:
Đối với môn công nghệ 9 phương pháp chủ yếu là thực hành,ngoài ra khi
dạy phần lý thuyết cũng cần phải kết hợp ,vận dụng thêm các phương pháp như
trực quan,hợp tác nhóm,nêu và giải quyết vấn đề...Trong quá trình giảng dạy,giáo
viên cần phải biết lựa chọn và phối hợp một cách khéo léo ,hợp lý những phương
pháp với nội dung bài học kết hợp sử dụng phương tiện dạy học để đạt hiệu quả
cao.
Để tổ chức tốt tiết thực hành chúng tôi đã thực hiện các bước sau:
1. Nêu yêu cầu của bài thực hành.
2. Chuẩn bị dụng cụ và nguyên liệu
3. Giới thiệu qui trình thực hành:GV treo tranh hoặc bảng phụ ghi qui trình.
4. Giáo viên thao tác cho HS quan sát..

- GV sưu tầm tranh ảnh có liên quan đến bài học để minh hoạ.
- Tận dụng các tranh vẽ có ở bộ môn Công nghệ 6 để giảng dạy công nghệ 9
5 Sử dụng đồ dùng dạy học:
- GV trong tổ thường xuyên sử dụng DDDH. sử dụng triệt để và có hiệu quả các
bảng phụ để hình thành kiến thức hoặt đánh gia kết quả học tập của HS.
- Tổ có kế hoạch kiểm tra định kỳ và đột xuất việc sử dụng đồ dùng dạy học; có
đánh giá thi đua.
III/KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Tóm lại khi dạy các bài học ở môn công nghệ 9,giáo viên không những
giúp học sinh hiểu rõ ,nắm vững phần lý thuyết mà còn vận dụng lý thuyết để rèn
kĩ năng thực hành,giúp các em có thói quen làm việc theo kế hoạch,có tính khoa
học,tuân thủ đúng qui trình để đạt hiệu quả cao. Việc rèn kĩ năng thực hành giúp
các em chủ động trong quá trình học tập,các em sẽ rất thích thú khi thấy mình đã
tự chế biến được món ăn mà trước đây mình chưa biết hoặc chưa làm được.Qua
đó tạo cho các em niềm say mê yêu thích môn học,nâng cao tính tích cực chủ
động trong học tập và thành thạo hơn trong thao tác ,biết chế biến một món ăn
phù hợp với khả năng của mình.
*Rút kinh nghiệm:
Để giảng dạy tốt bộ môn cần:
- Nghiên cứu kĩ nội dung sách giáo khoa, phần hướng dẫn thực hiện của sách
giáo viên, ngoài ra cần tìm hiểu thêm ở sách tham khảo.
- Chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy học (cả giáo viên và học sinh ).
- Vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học thích hợp cho từng tiết dạy.
- Liên hệ thực tế, mở rộng kiến thức cho học sinh trong từng bài học.
- Phát huy vai trò của nhóm học tập,thành lập nhóm yêu thích bộ môn.
*Thống nhất chung của trường:
- Thường xuyên sử dụng đồ dùng dạy học và sử dụng có hiệu quả.
- Khắc phục tình trạng thiếu phương tiện dạy học, tự làm đồ dùng dạy học,
- Nâng cao số tiết dạy có sử dụng đồ dùng dạy học.
- Đồ dùng dạy học phải đạt độ thẩm mỹ, chính xác, khoa học.

Để thực hiện món xào thập cẩm cần có những Học sinh trả lời
nguyên liệu nào ?
HS khác nhận xét
Gv treo bảng nguyên liệu và giới thiệu
(SGK)
II/ Qui trình thực hiện:
- GV yêu cầu HS nêu lại qui trình thực hiện chung HS tái hiện kiến thức cũ trả lời
của món xào .
Bất cứ một món xào nào cũng tuân theo 3 bước.
1. Chuẩn bị(sơ chế):
Em hãy nêu cách sơ chế nguyên liệu của món xào HS nêu cách sơ chế
thập cẩm?
GV treo bảng phụ ghi cách sơ chế: nguyên liệu và HS quan sát bảng và lắng nghe
giới thiệu cách sơ chế (SGK)
Chế biến:
Dựa vào qui trình chung em hãy nêu cách chế biến HS nêu cách chế biến.
món xào thập cẩm ?
GV nhận xét và ghi bảng:
- Xào nguyên liệu động vật trước-> chín mềm, nêm gia vị, xúc ra đĩa.
- Xào nguyên liệu thực vật chín tới, nêm gia vị.
- Cho hỗn hợp nguyên liệu động vật vào với cần tây, hành lá , đảo đều .
nhắc xuống.


3. Trình bày:
Trình bày như thế nào để sản phẩm có tính Học sinh nêu cách trình bày.
thẩm mỹ ( GV treo tranh)
GV nhận xét và nêu một số cách trình bày sản
phẩm.
- Trình bày đẹp, sáng tạo

GV hướng dẫn và theo dõi quá trình
thực hiện của HS: Quán xuyến lớp, uốn nắn,
điều chỉnh kịp thời nhứng sai sót. nhắc nhở HS
cẩn thận và giữ vệ sinh an toàn thực phẩm.
- GV yêu cầu HS trình bày sản phẩm
- HS trình bày SP
- GV yêu cầu mỗi nhóm cử đại diện trình bày - HS chấm và thống nhất


làm BGK yêu cầu BGK chấm và thống nhất số điểm.
điểm
- GV yêu cầu BGK nhận xét cách trình bày và
chất lượng sản phẩm của mỗi nhóm.
- GV nhận xét và đánh gía cho điểm.
IV. Kết thúc thực hành:
- HS nộp bảng thu hoạch và vệ sinh phòng thực hành.
- GV nhận xét tiết học.
V. Dặn dò:
- GV yêu cầu HS về nhà tự chế biến một món ăn tương tự mà em thích.
- Chuẩn bị bài mới: Món nướng:
- Tìm hiểu khái niệm món nướng, nguyên tắc chung, qui trình thực hiện và
yêu cầu kỹ thuật của món nướng. So sánh món nướng với món xào đã học





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status