Sự tham gia của viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố hải phòng - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THU ANH

SỰ THAM GIA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN
SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017

a


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THU ANH

SỰ THAM GIA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN
SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03


quyết vụ án dân sự. .............................................................................................. 10
1.1.1. Khái niệm về sự tham gia của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ án dân sự
............................................................................................................................. 10
1.1.2. Đặc điểm về sự tham gia của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ án dân sự
............................................................................................................................. 15
1.1.3. Ý nghĩa về sự tham gia của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ án dân sự 20
1.2. Cơ sở của việc quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát trong giải quyết
vụ án dân sự ......................................................................................................... 22
1.2.1. Xuất từ nhu cầu bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ án dân sự ............................................................................................... 22
1.2.2. Xuất phát từ hoạt động đặc thù của Tòa án khi giải quyết vụ án dân sự .. 23
1.2.3. Xuất phát từ việc bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của
những người không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự, tự bảo vệ quyền lợi
của mình. ............................................................................................................. 23
1.2.4. Xuất phát từ thực tiễn giải quyết vụ án dân sự ......................................... 24
1.3. Khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về sự tham gia của Viện
kiểm sát trong giải quyết dân sự.......................................................................... 25
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 ...................................................... 25
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 ...................................................... 28
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2015 ...................................................... 29
d


1.3.4. Giai đoạn từ năm 2015 đến nay ................................................................ 34
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ .................................................................................. 39
2.1. Viện kiểm sát giám sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tiến hành tố
tụng, tham gia tố tụng.......................................................................................... 39
2.1.1. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ

KẾT LUẬN ....................................................................................................... 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 102

f


DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BTP: Bộ Tư pháp
BCA: Bộ Công an
BTC: Bộ tài chính
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
CEL: Luật thi hành án dân sự Nhật Bản
LTCVKSND: Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân
PLTTGQCVADS: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
NĐ-CP: Nghị định chính phủ
NQ/TW: Nghị quyết trung ương
TTLT: Thông tư liên tịch
THADS: Thi hành án dân sự
TAND: Tòa án nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
VKS: Viện kiểm sát
VADS: Vụ án dân sự

g


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “VKSND thực hành
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”[15]; Điều 4 LTCVKSND năm

chậm, chất lượng xét xử các VADS còn thấp,… trong đó có nguyên nhân là
chưa có cơ chế giám sát, kiểm sát có hiệu quả việc giải quyết các VADS”
[2].
Để khắc phục những vướng mắc, bất cập nêu trên của BLTTDS năm
2004, đảm bảo phù hợp với thực trạng hoạt động giải quyết các VADS, đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội khóa
XII, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS
ngày 29/3/2011 (sau đây gọi tắt là BLTTDS sửa đổi, bổ sung) và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2012. Điều 21 khoản 2 BLTTDS sửa đổi, bổ sung
quy định: “VKSND tham gia … các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án
do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản
công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự
là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần”[14].
Khoản 1 Điều 21 cũng khẳng định: “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong TTDS, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo
quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp
thời, đúng pháp luật” [14]. Điều 45 BLTTDS quy định nhiệm vụ, quyền hạn
của kiểm sát viên. Theo đó, kiểm sát viên được phân công tham gia phiên
tòa xét xử các VADS có quyền phát biểu quan điểm của VKS về giải quyết
VADS. Khi đề cập đến việc giải quyết các VADS, cần phải xem xét cả việc
tuân theo pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung được áp dụng để giải quyết
vụ án. Có nghĩa là, kiểm sát viên có quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo
pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung. Tuy nhiên, Điều 234 khoản 1
2


BLTTDS đã sửa đổi, bổ sung lại quy định: “…, kiểm sát viên phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia
TTDS, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị

kiểm sát, tháng 4/2005; “Những khó khăn, vướng mắc, bất cập khi thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong TTDS” của tác giả Kiều Trang đăng trên
Tạp chí kiểm sát, số 22 tháng 11/2009; “Nhận thức đầy đủ và thực hiện đúng
quyền và trách nhiệm của VKS trong công tác kháng nghị phúc thẩm dân
sự” của tác giả Võ Huy Triết đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 5 tháng 3/2009;
“Mâu thuẫn trong một số quy định của BLTTDS về việc VKSND tham gia tố
tụng và một số kiến nghị” của tác giả Nguyễn Quang Lộc đăng trên Tạp chí
TAND, số 12 tháng 6/2013. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các
tác giả còn giới hạn ở một số khía cạnh của chức năng kiểm sát trong TTDS
của VKS, chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về vai trò của VKS
trong giải quyết các VADS. Hơn nữa, các công trình này đều nghiên cứu sự
tham gia của VKS trong TTDS theo quy định của BLTTDS năm 2004 và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011.
* Các công trình được nghiên cứu sau khi ban hành LTCVKSND năm
2014 và BLTTDS năm 2015:
Sau khi LTCVKSND năm 2014, BLTTDS năm 2015 ban hành thì
cũng có một số công trình đề cập đến sự tham gia của VKS trong TTDS
như:
- Cuốn “Bình luận khoa học BLTTDS năm 2015” do TS. Bùi Thị
Huyền chủ biên năm 2016 và cuốn “Bình luận khoa học BLTTDS của Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015” do PGS.TS Trần Anh Tuấn
làm chủ biên năm 2017. Hai cuốn sách chủ yếu phân tích về những điểm
mới của BLTTDS năm 2015 đồng thời có phân tích, đánh giá những quy
4


định mới về sự tham gia của VKS trong TTDS. Tuy nhiên, những bình luận,
đánh giá này mang tính chất gợi mở và chưa hệ thống về sự tham gia của
VKS trong TTDS.
- Bài viết “Những sửa đổi, bổ sung về kháng cáo, kháng nghị theo thủ

VKS trong TTDS (tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự).
Như vậy, có thể khẳng định, từ khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực
đến nay thì sự tham gia của VKS trong TTDS rất được quan tâm, nghiên cứu
nhưng các công trình này thường chỉ xem xét ở một khía cạnh về quyền hạn,
nhiệm vụ và trách nhiệm của VKS mà chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách hệ thống, toàn diện về sự tham gia của VKS trong giải quyết
các VADS dưới cả góc độ lý luận, luật thực định và thực tiễn thực hiện tại
thành phố Hải Phòng. Hy vọng những nghiên cứu của tác giả góp phần vào
kho tàng lý luận và có ý nghĩa thực tiễn nhất định nhằm nâng cao vai trò của
Ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và của VKSND thành phố Hải Phòng
nói riêng trong TTDS.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về sự tham gia của VKS
trong giải quyết VADS;
- Làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật
TTDS Việt Nam hiện hành về sự tham gia của VKS trong giải quyết VADS
và những vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định đó trong thực tiễn
giải quyết VADS tại Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
- Tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia
của VKS trong giải quyết VADS nói chung và tại Hải phòng nói riêng.
Để đạt được những mục tiêu trên, luận văn đưa ra những nhiệm vụ cụ
thể sau:
6


- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về sự tham gia của VKS trong
giải quyết VADS: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của sự tham gia của VKS
trong giải quyết VADS; cơ sở của việc quy định về sự tham gia của VKS
trong giải quyết VADS và quá trình phát triển các quy định về sự tham gia

đến nay.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành luận văn này, tác giả sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau, trong đó đặc biệt coi trọng các phương pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của triết học Mác Lê Nin về nhà nước và pháp quyền; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật;
- Phương pháp phân tích quy phạm được sử dụng khi đánh giá chuyên
sâu những quy định của pháp luật TTDS về sự tham gia của VKS trong giải
quyết VADS;
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát chung về những
vướng mắc từ thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về sự
tham gia của VKS trong giải quyết VADS;
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử
hình thành và phát triển các quy định pháp luật TTDS về sự tham gia của
VKS trong giải quyết VADS;
- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực
tiễn sự tham gia của VKS trong giải quyết VADS trên địa bàn thành phố Hải
Phòng.
6. TÍNH MỚI VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn là công trình nghiên cứu công phu, có tính hệ thống những
vấn đề liên quan đến sự tham gia của VKS trong giải quyết VADS, thể hiện
ở các nội dung cơ bản sau đây:
8


- Luận văn làm sáng tỏ những lý luận về sự tham gia của VKS trong
giải quyết VADS, góp phần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng
của VKS trong TTDS.
- Phân tích các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về sự tham gia
của VKS trong giải quyết VADS, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại, những

động của bộ máy nhà nước, truyền thống văn hóa, hoàn cảnh lịch sử, điều
kiện kinh tế - xã hội ở các quốc gia khác nhau, dẫn đến có những quy định
khác nhau về vị trí, vai trò và chức năng của Viện công tố, đặc biệt là trong
lĩnh vực dân sự. Trong tố tụng hình sự, Viện công tố giữ quyền công tố có
vai trò nhân danh quyền lực Nhà nước để truy tố và buộc tội kể thực hiện
hành vi phạm tội trước Tòa án. Trong TTDS, do bị chi phối bởi nguyên tắc
quyền tự định đoạt của đương sự nên vai trò của Viện công tố trong TTDS bị
hạn chế hơn so với tố tụng hình sự. Không những thế vị trí, vai trò của Viện
công tố trong TTDS của các nước còn được quy định khác nhau. “Ở các
nước theo truyền thống luật án lệ Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ... do tranh
chấp, mâu thuẫn dân sự là của các đương sự, nên các chủ thể không có lợi
ích thì không được quyền kiện dân sự hay kháng cáo. Thậm chí, các nước
này còn cho rằng trong quan hệ dân sự, kinh tế, lao động càng ít sự can

10


thiệp của công quyền càng tốt”[6, tr31]. Do đó, trong TTDS ở các nước theo
truyền thống luật án lệ, Viện công tố hầu như không tham gia trong quá trình
giải quyết các VADS mà chủ yếu giữ quyền công tố trong các vụ án hình sự.
“Ở các nước theo truyền thống luật dân sự (như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa
liên bang Nga, Nhật Bản…) với mục đích là để đại diện cho lợi ích chung và
bảo vệ trật tự công nên VKS có thể tham gia tố tụng với tư cách là một bên
đương sự hoặc với tư cách là người giám sát”[6, tr 31]. Dù Viện công tố
tham gia với tư cách là một bên đương sự hay với tư cách là người giám sát
thì cũng đều xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng,
bảo đảm công bằng xã hội và sự tuân thủ pháp luật. Trong các trường hợp
này Viện công tố không có lợi ích liên quan đến vụ án và kể cả trong trường
hợp tham gia tố tụng với tư cách là một bên đương sự thì Viện công tố cũng
vì lợi ích chung của xã hội, lợi ích của những người không có khả năng tự

cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất.
Như vậy, so với viện công tố các nước, nhiệm vụ và quyền hạn của
VKS trong TTDS ở Việt Nam được quy định rộng hơn nhiều. VKS Việt
Nam còn được trao thêm một số quyền mà Viện công tố các nước không có
như quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của TAND và những người
tham gia tố tụng, quyền kháng nghị tất cả các bản án, quyết định dân sự của
toà án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm…
Với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS thì VKS có thẩm
quyền khởi tố VADS hay không? Nếu trước khi BLTTDS năm 2004
ra đời thì VKSND có quyền khởi tố VADS nhưng khi BLTTDS ra
đời, chức năng này đã bị bãi bỏ. Bởi vì, thứ nhất, để bảo đảm quyền
tự định đoạt của các bên trong quan hệ dân sự. Thứ hai, nếu quy
12


định thẩm quyền khởi tố VADS của VKS thì cần phải coi VKS là
một bên đương sự và như vậy sẽ làm mất đi sự bình đẳng giữa các
bên trong TTDS vì VKS còn là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong TTDS. Đối với những trường hợp không có khả năng tự
bảo vệ khi quyền dân sự bị vi phạm thì nên giao cho các tổ chức xã
hội khởi kiện thay [23].
Vì vậy, theo quy định của BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều BLTTDS năm 2011 và BLTTDS năm 2015, VKS là cơ quan
tiến hành tố tụng, thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong TTDS. Theo đó, VKS có thẩm quyền kiểm sát việc trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu; kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc; thu thập tài
liệu, chứng cứ trong trường hợp pháp luật quy định; tham gia phiên tòa,
phiên họp, phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án, vụ

từ khi ban hành BLTTDS năm 2004 đến nay, vẫn chưa có một VADS nào
được khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích chung mặc dù đã có hàng trăm, hàng
ngàn vụ việc dân sự xâm hại lợi ích công đã và đang xảy ra cần được xử lí.
Rõ ràng, một cá nhân, cơ quan, tổ chức… sẽ khó có đủ điều kiện khả
năng để thực hiện việc khởi kiện lên Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, những hạn chế về mặt nhận thức pháp luật, hiểu biết về trình
tự, thủ tục tố tụng, án phí (án phí tạm ứng)… đều là rào cản để những đối
tượng này tự bảo vệ mình nhưng đối với VKS thì khác. Với việc thực hiện
nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước chuyên trách trong lĩnh vực tố tụng, có tính
chuyên nghiệp cao thông qua bộ máy và cán bộ chuyên môn trong hệ thống
cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương, mô hình VKS có điều kiện hơn
và có ưu thế hơn các mô hình khác trong việc khởi tố để bảo vệ lợi ích nhà
nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những người không có khả năng tự thực
hiện quyền dân sự hoặc tự bảo vệ quyền lợi của mình. Điều này cũng đã
14


được chứng minh qua pháp luật của các nước theo truyền thống pháp luật
dân sự như Cộng hòa Pháp, Liên Bang Nga… Tuy nhiên, phải khẳng định
rằng khi VKS thực hiện thẩm quyền khởi tố VADS thì VKS tham gia tố tụng
như một bên đương sự để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích
của những người không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự hoặc tự bảo
vệ quyền lợi của mình.
Vậy, với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, VKS thực hiện chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS để đảm bảo sự tuân thủ
đúng pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng, qua đó đảm bảo
pháp chế XHCN. Với tư cách là một bên đương sự, VKS tham gia tố tụng để
bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những người không có
khả năng tự thực hiện quyền dân sự hoặc tự bảo vệ quyền lợi của mình.
Qua việc phân tích trên có thấy đưa ra khái niệm về sự tham gia của

không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự hoặc tự bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.
- Sự tham gia của VKS trong giải quyết VADS được thực hiện thông
qua nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng VKS, kiểm sát viên
và kiểm tra viên
VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá
trình giải quyết VADS. Theo đó, VKS kiểm sát hoạt động giải quyết VADS
của Tòa án và hoạt động tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng.
Tuy nhiên, hoạt động kiểm sát này thực hiện thông qua những con người cụ
thể đó là, Viện trưởng VKS, kiểm sát viên và kiểm tra viên.
Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết VADS, Viện trưởng
VKS là người tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong TTDS; quyết định phân công kiểm sát viên thực hiện việc
kiểm sát việc tuân theo pháp luật; quyết định thay đổi kiểm sát viên, Kiểm
17


tra viên; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án,
quyết định của Tòa án; yêu cầu, kiến nghị; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo
quy định của pháp luật.
Về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKS thì:
Ở các nước theo truyền thống luật dân sự, nhìn chung Viện
công tố có quyền kháng cáo phúc thẩm trong các vụ án liên quan
đến lợi ích công cộng, bảo vệ quyền lợi của những người không có
khả năng tự thực hiện quyền dân sự hoặc không có khả năng tự bảo
vệ mình như người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể
chất hoặc tâm thần, người bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng
lực hành vi dân sự…[6, tr 60].
Ở Việt Nam, mặc dù hiện này không có bất kỳ một sự hạn chế nào đối
với việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKS. Tuy nhiên, cần phải giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status