Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở qua thực tiễn huyện hoài đức, thành phố hà nội - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH DUNG

THựC HIệN PHáP LUậT Về HòA GIảI ở CƠ Sở QUA THựC TIễN HUYệN HOàI ĐứC, THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH DUNG

THựC HIệN PHáP LUậT Về HòA GIảI ở CƠ Sở QUA THựC TIễN HUYệN HOàI ĐứC, THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: GS.TS HONG TH KIM QU

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong

1.3.1. Yếu tố chính trị .................................................................................. 45
1.3.2. Yếu tố pháp lý ................................................................................... 47
1.3.3. Yếu tố xã hội ..................................................................................... 48
1.3.4. Yếu tố ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật của đội ngũ hòa giải viên ..... 49
1.4.
Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở ...... 51
1.4.1. Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của hòa giải viên..... 51
1.4.2. Ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về
hòa giải ở cơ sở.................................................................................. 52
1.4.3. Các đảm bảo về cơ sở vật chất .......................................................... 53
1.4.4. Chất lượng của hệ thống pháp luật .................................................... 54
1.4.5. Bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho đội ngũ hòa giải viên ................ 55
1.4.6. Xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong hòa giải ở cơ sở ..................... 56
1.4.7. Công tác quản lý nhà nước, chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn
nghiệp vụ ........................................................................................... 57
1.4.8. Sự tham gia, hưởng ứng và vào cuộc tích cực của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong
công tác hòa giải ở cơ sở ................................................................... 58


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI
Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI ................................................................................... 60
2.1.
Những đặc điểm của huyện Hoài Đức có tác động đến thực
hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở ....................................................... 60
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên ............................................................................. 60
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .................................................................. 61
2.1.3. Tình hình thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội từ năm 2014 - 2016 ................. 64

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hòa giải ở cơ sở là nét đẹp truyền thống đạo lý của dân tộc Việt Nam,
là hoạt động mang tính tự nguyện, tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Hoạt
động hòa giải ở cơ sở về bản chất là hướng dẫn, giúp đỡ thông qua việc thuyết
phục, vận động các bên đi đến thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các
mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật dựa trên nguyên tắc tôn trọng ý chí,
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên; quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác; không xâm phạm lợi ích của nhà nước và lợi ích công cộng. Vì vậy, hòa
giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò to lớn, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã
hội, góp phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát
huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm
pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ
việc phải chuyển đến Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải
quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nước và nhân dân, từ đó góp phần
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội có thể giải
quyết bằng nhiều hình thức khác nhau như tự thỏa thuận giữa các bên; đơn
phương chấm dứt xung đột theo phương châm “một câu nhịn, chín câu lành”;
nhờ sự can thiệp của chính quyền địa phương thông qua hòa giải ở cơ sở; khiếu
kiện ra Tòa án nhân dân. Thực tiễn cho thấy rất ít trường hợp sau khi xảy ra
tranh chấp mà các bên tự dàn xếp thỏa thuận được, hoặc một bên chấp nhận từ
bỏ lợi ích của mình để đơn phương chấm dứt xung đột, vì thế thường thì phải
nhờ đến sự can thiệp của một bên thứ ba mới có thể giải quyết được mâu thuẫn.
Nếu vụ việc bị đưa ra tòa án thì sẽ càng phức tạp hơn vì phải tuân theo một

1


trình tự thủ tục tố tụng chặt chẽ, cả người đi kiện và người bị kiện chắc chắn sẽ

Những năm gần đây, vấn đề hòa giải nội dung, thực hiện pháp luật
về hòa giải cơ sở ở nước ta nói riêng được quan tâm nghiên cứu với nhiều
gốc độ khác nhau.
Đối với lĩnh vực hòa giải ở cơ sở, trong những năm gần đây cũng được
quan tâm nhiều hơn với một số công trình nghiên cứu khoa học như:
- Sách “Công tác hòa giải ở cơ sở” của luật gia Nguyễn Đình Hảo (chủ
biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
- Sách “Những điều cần biết về công tác hòa giải ở cơ sở” của luật gia
Trần Đông Tùng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Sách: “Cẩm nang công tác hòa giải ở cơ sở” của luật gia Dương Bạch
Long, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
- Sách “Hòa giải ở cơ sở” của Nguyễn Phương Thảo, Nhà xuất bản Tư
pháp, Hà Nội, 2007.
- Sách “Hỏi đáp về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở” của Minh
Anh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
- Để góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ tư pháp thực hiện quản lý
công tác hòa giải ở cơ sở và đội ngũ hòa giải viên trên toàn quốc, Bộ Tư pháp
đã tiến hành xây dựng Bộ tài liệu tập huấn thống nhất về Công tác hòa giải ở
cơ sở dành cho cán bộ tư pháp và các hòa giải viên, ấn hành năm 2007, gồm
hai tập sau:
- Tập 1: Hướng dẫn quản lý công tác hòa giải, giới thiệu nghiệp vụ
quản lý công tác hòa giải, hướng dẫn cán bộ tư pháp địa phương về phương
pháp tập huấn, bồi dưỡng để tập huấn cho các hòa giải viên.
- Tập 2: Cẩm nang bồi dưỡng cho hòa giải viên, cung cấp cho các hòa
giải viên, cán bộ tư pháp các kiến thức pháp luật cần thiết trong hòa giải,
hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải, phổ biến kinh nghiệm hòa giải.

3




3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của thực hiện pháp
luật hòa giải ở cơ sở và đánh giá thực trạng của công tác thực hiện pháp luật
về hòa giải ở cơ sở - qua thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, luận
văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần đảm bảo thực hiện pháp
luật về hòa giải ở cơ sở - qua thực tiễn huyện Hoài Đức trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở
cơ sở để thấy được tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở.
- Khẳng định quan điểm của Đảng và những cơ sở pháp lý của Nhà
nước để bảo đảm cho việc thực hiện tốt hơn về pháp luật hòa giải ở cơ sở.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở - qua thực
tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội bao gồm những kết quả đạt được, mặt
mặt còn hạn chế, xác định nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hòa giải
ở cơ sở - qua thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về hòa giải cơ
sở - qua thực tiễn tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Từ đó lấy làm căn cứ
lý luận trực tiếp cho việc đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện
pháp luật hòa giải cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn
huyện Hoài Đức thời gian từ năm 2014 đến năm 2016.

5

6


Trên cơ sở những giải pháp đề tài nêu ra, có thể không chỉ áp dụng cho
huyện Hoài Đức mà còn có thể áp dụng chung cho cả thành phố Hà Nội. Luận
văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy, chính quyền ở huyện Hoài
Đức trong việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động hòa giải ở
cơ sở; hoặc dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, tập huấn cho hòa giải
viên ở cơ sở và tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hòa giải
cơ sở ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở.
Chương 2. Thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa
bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật hòa
giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

7


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI
Ở CƠ SỞ
1.1. Khái niệm, các hình thức và vai trò thực hiện pháp luật hòa
giải ở cơ sở
1.1.1. Hòa giải cơ sở và khái niệm pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.1.1.1. Khái niệm hòa giải ở cơ sở
Trong lý luận khoa học cũng như trong thực tiễn, tùy theo cách tiếp cận

dung, thủ tục tiến hành, chủ thể tham gia và các đặc trưng pháp lý riêng. Vì
thế khó có thể đưa ra một khái niệm hòa giải chung cho tất cả các loại hình
hòa giải. Mặc dù vậy các hình thức hòa giải cũng có một số điểm chung giống
nhau, đó là có sự tham gia của bên thứ ba độc lập nhằm giúp các bên tranh
chấp giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn xảy ra trong đời sống. Trên cơ sở đó,
có thể rút ra một định nghĩa tổng quát về hòa giải như sau:
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống
xã hội, trong đó có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp
nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ các bên trong quá trình
giải quyết tranh chấp, nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải
quyết xung đột và chấm dứt các tranh chấp, bất hòa.
Hòa giải nói chung mang tính tự nguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn của
các bên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và không trái với
truyền thống đạo đức xã hội. Có thể thấy hòa giải là phương thức giải quyết
tranh chấp được Ủy ban nhân dân, Tòa án, Trọng tài và các tổ chức, cá nhân…
sử dụng thường xuyên trong giải quyết tranh chấp.
Theo pháp luật nước ta hiện nay có những hình thức hòa giải như: hòa
giải tại tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, hòa giải về tranh chấp lao động của
hội đồng hòa giải lao động, hòa giải về tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân

9


dân, hòa giải về tranh chấp thương mại, hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài,
hòa giải trong cộng đồng dân cư ở cơ sở… Về cơ bản, có thể chia các hình
thức hòa giải trên thành 2 loại, đó là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài
tố tụng. Hình thức hòa giải tại tòa án và trọng tài là hòa giải trong tố tụng, các
hình thức khác là hòa giải ngoài tố tụng.
Hình thức hòa giải trong cộng đồng dân cư đã có từ lâu ở Việt Nam, trước
khi Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (ngày 25/12/1998) được

theo quy định của Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và
Nghị định này là thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như
các chợ cố định, tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí. Ở đây nhấn mạnh đến “cơ
sở” là nơi trực tiếp xảy ra tranh chấp.
Đến Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, tại Điều 2 quy định thì Hòa giải ở
cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự
nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo
quy định của Luật này.
Như vậy, hòa giải ở cơ sở là hoạt động của một bên trung gian để
hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự
nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ
nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân; củng cố, phát huy những tình
cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư;
phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở
thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như các chợ cố định,
tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Pháp luật hòa giải ở cơ sở
Pháp luật hòa giải ở cơ sở là những quy định của pháp luật dùng để
điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Pháp luật hòa giải ở cơ sở được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể
các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thầm quyền ban

11


hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở, từ văn bản
cao nhất là Hiến pháp cho đến văn bản luật và các văn bản dưới luật khác.
Hòa giải ở cơ sở là một trong hình thức hòa giải có vai trò rất tích cực,
thiết thực để giúp các bên tự nguyện, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp một
cách nhẹ nhàng, hiệu quả, có lý, có tình, vừa hạn chế khắc phục được hậu

hàng xã để khuyên giải phân xử phải trái. Nếu như người nào không làm theo
như thế, mà đem bẩm báo lên nha môn, khi xét xử thấy đúng như lời khuyên
phân xử của làng, thì bắt phạt người ấy ba quan tiền cổ. Nếu ai không trình
báo với các hàng chức sắc ở xã để phân xử phải trái, lại bẩm báo thẳng lên
quan trên thì cũng xử phạt như thế”
Đến giai đoạn từ tháng 8/1945 đến ngày 25/12/1998, sau khi cách mạng
tháng Tám thành công (1945), ngay từ những ngày đầu thiết lập chính quyền
dân chủ nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật quy định về
hòa giải. Các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp
như Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 do
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã quy định: Ban Tư pháp xã có nhiệm vụ hòa giải
tất cả các sự việc về dân sự, thương sự. Việc quản lý hoạt động hòa giải giai
đoạn này thuộc nhiệm vụ của ngành Tư pháp.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975), Hiến pháp
năm 1980 được ban hành đã ghi nhận một quy định có ý nghĩa rất quan trọng
đối với việc giải quyết tranh chấp trong nhân dân: "Ở cơ sở, thành lập các tổ
chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và
tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật" (Điều 128).
Năm 1981, Bộ Tư pháp được tái lập [1], có nhiệm vụ quản lý và hướng
dẫn hoạt động của tổ hòa giải. Ngày 6 tháng 01 năm 1982, Bộ Tư pháp ban
hành Thông tư số 08/TT hướng dẫn xây dựng và kiện toàn tổ chức hệ thống
các cơ quan Tư pháp địa phương, trong đó quy định Ban Tư pháp cấp xã có
nhiệm vụ hướng dẫn, giúp đỡ các Tổ hòa giải về mặt pháp lý và kinh nghiệm

13


trong hoạt động hòa giải. Các tổ hòa giải đã được thành lập ở khắp các thôn,
xóm, ấp, bản. Hòa giải đã trở thành phong trào quần chúng sâu rộng, góp
phần giữ vững trật tự xã hội, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm, củng

1992 cũng quy định: "Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân
để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân
dân". Với sự chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, sự nỗ lực của các
cơ quan quản lý Nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc các cấp, sự sáng tạo của cơ
sở, từ năm 1992, tổ chức và hoạt động hòa giải dần dần được khôi phục, củng
cố và phát triển. Ở Trung ương, Bộ Tư pháp được Chính phủ giao nhiệm vụ
quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổng kết hoạt động của các Tổ hoà giải
(Điều 2, Nghị định số 38/CP ngày 4 tháng 6 năm 1993 của Chính phủ). Ở địa
phương, các cơ quan Tư pháp (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Ban tư pháp)
được giao nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động các Tổ hoà giải
trong phạm vi địa phương (Thông tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26 tháng 7
năm 1993 của Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ).
Tháng 8 năm 1994, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị chuyên đề về tư pháp
xã và Tổ hoà giải để tổng kết, đánh giá tình hình tổ chức và hoạt động hoà
giải toàn quốc, đề ra những biện pháp tiếp tục kiện toàn tổ chức và nâng cao
hiệu quả hoà giải ở các địa phương trong thời kỳ mới - thời kỳ hệ thống các
cơ quan tư pháp được tổ chức hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương.
Năm 1997, cả nước đã xây dựng và kiện toàn được hơn 85.000 tổ hoà giải với
tổng số gần 400.000 hoà giải viên. Nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương đã xây dựng được hàng nghìn tổ hoà giải. Hằng năm, trung bình ở mỗi
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ hoà giải đã hoà giải được 3.000
đến 4.000 vụ, việc với tỉ lệ hoà giải thành công từ 70- 80% vụ việc xảy ra ở
cơ sở. Công tác hòa giải có những chuyển biến mới sau khi có Nghị quyết
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khoá VII, trong đó xác định “Coi trọng vai
trò hòa giải của chính quyền kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở

15


cơ sở”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá VIII, trong đó nêu

ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
trong cộng đồng dân cư [8].
Đây là hai văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao quy định đầy đủ
và đồng bộ các vấn đề về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, thể hiện tính
kế thừa, tính liên tục của truyền thống hòa giải ở nước ta, tạo cơ sở pháp lý
cho việc tiếp tục củng cố tổ chức, xây dựng đội ngũ hòa giải viên và tăng
cường vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội
khác, cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang và công dân đối với công
tác hòa giải ở cơ sở.
Ngoài Pháp lệnh hòa giải ở cơ sở, một số văn bản quy phạm pháp luật
khác cũng có những quy định về hòa giải ở cơ sở. Quyết định số 06/2008/QĐBTP ngày 26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành biểu mẫu
thống kê về tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải ở cơ sở; Chương trình phối
hợp số 1285/CTPH-BTP-BTTUBTƯMTTQVN ngày 24/4/2009 giữa Bộ Tư
pháp và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về
tăng cường thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở; Chỉ thị số 03/CT-BTP ngày
27/6/2011 về tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở…
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999 quy định vai trò của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện
quyền làm chủ, thi hành chính sách pháp luật, tham gia hoạt động hòa giải ở
cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải; Bộ luật Dân sự năm 1995; Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 có những quy định về việc Nhà nước và xã
hội khuyến khích việc hòa giải tại cơ sở đối với các tranh chấp dân sự, các vụ
việc ly hôn. Luật Đất đai năm 1993, 2003 có các quy định về hòa giải trong
việc giải quyết tranh chấp đất đai ở cấp xã.
Những năm đầu của thế kỷ XXI, chính sách về hòa giải tiếp tục được
khẳng định. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26 tháng 5 năm 2005 của Bộ

17




Như vậy, có thể định nghĩa pháp luật hòa giải ở cơ sở như sau:
Pháp luật hòa giải ở cơ sở là tổng thể các quy phạm pháp luật thể chế
hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, do cơ quan
Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở.
1.1.2. Khái niệm, các hình thức của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ có
thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự
và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong
cuộc sống. Vì vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu.
Nhà nước xây dựng những quy phạm pháp luật nhằm mục đích điều
chỉnh các quan hệ xã hội đáp ứng lợi ích của nhân dân và tiến bộ xã hội. Mục
đích đó chỉ có thể đạt được khi pháp luật được các chủ thể nghiêm chỉnh thực
hiện trong đời sống xã hội. Pháp luật với tầm quan trọng của nó không chỉ
dừng lại bằng các quy phạm pháp luật, vì đó chỉ là pháp luật ở trạng thái “tĩnh”,
vấn đề quan trọng là “pháp luật phải trở thành chế độ pháp chế, được thực hiện
thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân; trở
thành phương thức quản lý xã hội, cho tổ chức đời sống xã hội” [55, tr.225].
Hiện nay đang có nhiều cách định nghĩa về thực hiện pháp luật. Theo
tài liệu học tập và nghiên cứu môn Lý luận chung về Nhà nước và pháp
luật của Khoa Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh (nay là Viện Nhà nước - Pháp luật thuộc Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh) thì thực hiện pháp luật được hiểu là “quá trình hoạt
động có mục đích làm cho những qui định của pháp luật trở thành hiện
thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ
thể pháp luật” [21, tr.270].

19

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status