HOI - Đ A PPH A PL U Ạ T
VÈ HOÀ GIẢI Ở C ơ SỞ
Luật gia HUY THÔNG biên soạn
NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ
PH Ầ N I.
HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT
VẺ HÒA GIẢI Ở C ơ SỞ
1. Hoà giải ở cơ sở là gì?
Hoạt động hoà giải ở cơ sở là một truyền thống, một
đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mang đậm tính nhân
văn, nhằm giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết
trong cộng đồng, tập thể, hàn gắn, vun ú ỹ sự hoà thuận,
hạnh phúc cho từng gia đình.
Theo Điều 1 của Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động
hoà giải ở cơ sờ, Điều 2 của Nghị định số 160/1999/NĐCP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ờ
cơ sở (sau đây gọi tắt là Nghị định 160) thì Hoà giải ở cơ
sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh
chấp đạt được thoả thuận, tự nguyên giải quyết với nhau
những việc vi phạm pháp luật và tranh chắp nhỏ nhằm giữ
gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cổ, phát huy
những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia
đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm
pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng
dân cư”.
5
6
không hợp hoặc mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân
trong quan hệ xóm giềng như sử dụng lối đi qua nhà, sử
dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh
hoạt, gây mất vệ sinh chung...
- Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân
sự như tranh chấp phát sinh từ các quan hệ về tài sản, quan
hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế, quyền sử
dụng đất.
Tổ hoà giải chỉ hoà giải các tranh chấp về quyền, lợi
ích phát sinh từ quan hệ dân sự là các tranh chấp nhỏ. Căn
cứ để xác định tranh chấp nhỏ không nhất thiết dựa vào giá
trị của tranh chấp. Có những trường hợp tuy giá trị tranh
chấp tương đối lớn, nhưng vẫn có thể tiến hành hoà giải
được vì tình tiết sự việc đơn giản, rõ ràng, không đòi hỏi
trình độ và chuyên môn pháp lý cao; mức độ mâu thuẫn
không quá gay gắt, có thể thuyết phục các bên tranh chấp
thoả thuận mà không trái với các quy định pháp luật.
- Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn
nhân gia đình như: thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ,
chồng; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; nhận nuôi
con nuôi; ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng.
Lưu ý, Tổ hoà giải không được giải quyết những vụ
việc mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan
nhà nước như: chấm dứt nuôi con nuôi; truy nhận cha, rr
cho con ngoài giá thú; phân xử việc ly hôn...
- Tranh chấp phát sinh từ những việc vi phạm pháp luật
mà theo quy định của pháp luật, những việc vi phạm đó
và theo quy định của pháp luật phải bị áp dụng các biện
8
pháp xử lý vi phạm hành chính như: giáo dạc tại xã,
phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ
sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh.
- Các vi phạm pháp luật và tranh chấp mà theo quy
định của pháp luật không được hoà giải bao gồm:
+ Kết hôn trái pháp luật;
+ Gây thiệt hại đến tài sản nhà nước;
+ Tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật;
+ Tranh chấp về lao động.
5.
Đề nghị cho biết hoà giải ở cơ sỏ' được thực hiện
theo nguyên tắc nào?
Nguyên tắc hoà giải là những quan điểm, tư tường chỉ
đạo mà khi tiến hành hoạt động hoà giải ờ cơ sở phải tuân
thủ một cách đầy đủ, nghiêm túc, bao gồm các nguyên tắc
sau đây:
- Hoà giảp phải phù hợp với đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xă hội và phong
tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân.
Khi tiến hành hoà giải, một vụ việc chỉ được giải quyết
dứt điểm khi người hoà giải bên cạnh việc căn cứ vào các
chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán còn cần phải nắm
vững và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, nhất là những quy định pháp luật liên
quan đến vụ việc hoà giải.
cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện việc
hoà giài những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ
trong nhân dân theo quy định của pháp luật.
10
Tô hoà giải có tô trường và các tô viên do Uy ban Mặt
trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức
thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân
bầu và do ủ y ban nhân dân cùng cấp công nhận.
Mỗi Tổ hoà giải có từ 3 tổ viên trờ lên. Căn cứ đặc
điểm, tình hỉnh cụ thể của cụm dân cư và kết quả cuộc họp
thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, kết quả cuộc họp chủ hộ
hoặc kết quả phiếu lấy ý kiển chủ hộ, Chủ tịch ủ y ban
nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định sổ lượng tổ hoà
giải ờ địa phương.
Như vậy, Tổ hoà giải là một tổ chức quần chúng của
nhân dân, do nhân dân bầu ra và được thành lập ở thôn,
xóm, bản, ấp, tổ dân phố hoặc cụm dân cư. v ề bản chất,
Tổ hoà giải là tổ chức quần chúng, không phải là tổ chức
chính quyền, được thành lập để hoà giải tại chỗ, thường
xuyên, kịp thời các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ
trong nhân dân, góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật
cho nhân dân ở cơ sở, chủ động ngăn ngừa vi phạm pháp
luật, hạn ché các vụ việc phải đưa ra Toà án giải quyết.
7.
Tổ viên Tổ hoà giải có những tiêu chuẩn, nhiệm
vụ như thế nào?
Tổ viên Tổ hoà giải phải là công dân Việt Nam từ 18
tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự và cỏ các tiêu
Tổ hoà giải; phổi hợp với các tổ hoà giải trong việc nâng
cao nghiệp vụ và trong hoạt động hoà giải tranh chấp liên
quan đến địa bàn hoạt động của các Tổ hoà giải đó;
- Tổ chức các cuộc họp định kỳ và đột xuất để rút kinh
nghiệm về công tác hoà giải và đề xuất với ủ y ban nhân
12
dân xã, phường, thị trấn về các biệp pháp nâng cao hiệu
quả của công tác hoà giải; cung cấp tài liệu và các thông
tin nâng cao nghiệp vụ hoà giải;
- Báo cáo định kỳ và đột xuất về công tác hoà giải cho
ủ y ban nhân dân xã, phường, thị trấn và ủ y ban Mặt trận
Tổ quốc cùng cấp;
- Đại diện cho Tổ hoà giải trong quan hệ với Trường
thôn, xóm, bản, ấp, Tổ trường tổ dân phố, cụm dân cư và
với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở.
9.
Đe nghị cho biết thủ tục bầu tổ viên, tổ trưởng
Tổ hoà giải?
Căn cứ vào các tiêu chuẩn của tổ "’iên tổ hoà giải,
ủ y ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp
với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới
thiệu người đủ tiêu chuẩn để nhân dân bầu tổ viên Tổ hoà
giải. Bên cạnh đó, công dân từ 18 tuổi trở lên, có năng
lực hành vi dân sự và có đủ các tiêu chuẩn theo quy định
đều có quyền đề cử, ứng cử vào danh sách bầu tổ viên tổ
hoà giải.
Việc bầu tổ viên Tổ hoà giải được tổ chức ở thôn,
Tổ viên Tổ hoà giải bị miễn nhiệm trong trường
họp nào?
Việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hoà giải được thực hiện
trong những trường hợp sau đây:
- Có hành vi vi phạm pháp luật;
- Có hành vi trái đạo đức xã hội;
14
- Thiếu nhiệt tình trong hoạt động hoà giải;
- Theo nguyện vọng cá nhân xin rút khỏi tổ hoà giải.
Căn cứ biên bản họp nhân dân, họp chủ hộ hoặc kết
quà phiếu lấy ý kiến chủ hộ về việc miễn nhiệm tồ viên Tổ
hoà giải do Trường thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố chủ trì,
Ban Tư pháp đề nghị bằng văn bản để Chủ tịch ủ y ban
nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định việc miễn nhiệm.
11.
Vỉệc hoà giải được tiến hành khi nào? Thời gian,
địa điểm tiến hành việc hoà giải?
Việc hoà giải được tiến hành trong các trường họp sau:
- Tổ viên Tổ hoà giải chủ động hoà giải hoặc mời
người ngoài Tổ hoà giải cùng tham gia hoà giải theo sáng
kiến của mình trong trường hợp trực tiếp chứng kiến hoặc
biết về việc tranh chấp.
- Theo phân công của tổ trưởng Tổ hoà giải;
- Theo đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác;
- Theo yêu cầu của một bên hoặc các bên tranh chấp.
Việc hoà giải được tiến hành vào thời gian mà các
dân cư khác nhau thì việc hoà giải được tiến hành
thế nào?
Trong trường hợp các bên tranh chấp ờ các cụm dân cư
có các tổ hoà giải khác nhau, thì các tổ hoà giải đó phối
hợp để thực hiện việc hoà giải. Việc phối hợp hoà giải do:
16
- Tô trưởng hoặc người được Tô trường phân công hoà
giải thực hiện.
- Các tổ viên là người thực hiện việc hoà giải có thể
trực tiếp phối hợp với nhau, nhưng phải báo cáo ngay với
Tổ trường về việc phối hợp thực hiện việc hoà giải.
14. Việc hoà giải được tiến hành theo phương
thức nào?
Việc hoà giải được tiến hành theo phương thức sau đây:
- Bằng lời nói. Đây là phương thức chủ yếu khi tiến
hành hoà giải.
- Trong trường hợp các bên có yêu cầu hoặc được
các bên đồng ý, việc hoà giải được tổ viên Tổ hoà giải lập
biên bản.
- Tuỳ từng trường hợp cụ thể, tổ viên Tổ hoà giải có
thể tiến hành việc hoà giải bằng cách gặp gỡ từng bên hoặc
các bên.
- Sau khi tìm hiểu sự việc, nguyên nhân phát sinh mâu
thuẫn, tham khảo ý kiến của cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu
quan, lắng nghe ý kiến của các bên, tổ viên Tổ hoà giải
phân tích, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận phù
hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán
18