Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh thanh hóa - Pdf 31

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

LI TH NGUYấN

thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn tỉnh thanh hóa

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2014


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

LI TH NGUYấN

thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn tỉnh thanh hóa
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN HONG ANH

H NI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Khái niệm pháp luật về dân chủ ở cơ sở .................................................... 12
Quá trình hình thành, phát triển các quy định của pháp luật về dân chủ
ở cơ sở ở Việt Nam ................................................................................... 14

1.2.

Khái niệm, đặc điểm, nội dung và hình thức thực hiện pháp luật
về dân chủ ở cơ sở ................................................................................... 16

1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.2.4.

Khái niệm thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở........ 16
Đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ...................................... 17
Nội dung thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ...................................... 19
Hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ..................................... 31

1.3.
Vai trò của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ....................... 36
1.3.1. Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở góp phần mở rộng dân chủ, đảm
bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân ....................................... 36
1.3.2. Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở góp phần nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước ........................................... 37
1.3.3. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương, các cơ
quan, đơn vị, xí nghiệp ............................................................................. 40
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA ..................................... 42

2.3.2. Những nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở ......................................................................................... 75
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THANH HÓA...................................................................... 88
3.1.

Quan điểm chỉ đạo thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa .......................................................................... 88
3.1.1. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở cần được tiến hành đồng bộ
trong công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và các nhiệm
vụ chính trị khác của Đảng và Nhà nước, của địa phương ......................... 89
3.1.2. Nâng cao nhận thức của các chủ thể về pháp luật về dân chủ ở cơ sở
và tầm quan trọng của thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở .................. 90
3.1.3. Nâng cao vai trò làm chủ của nhân dân trong phòng, chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn, tiêu cực ở cơ sở ..................................... 92
3.1.4. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn về thực
hiện dân chủ ở cơ sở ................................................................................. 93
3.2.
3.2.1.

Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa .......................................................................... 94
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, đáp ứng yêu cầu
thực thi dân chủ cơ sở của cả nước nói chung và của Thanh Hóa nói riêng........ 94


3.2.2. Nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân
chủ ở cơ sở.............................................................................................. 105
3.2.3. Nâng cao năng lực của cấp ủy, của chính quyền và của các đoàn thể và


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc vận dụng đúng đắn những giá trị dân chủ vào đời sống kinh tế, chính
trị, văn hoá, xã hội là một trong những điều kiện bảo đảm thắng lợi của công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên đất nước ta. Dân chủ có ý nghĩa to lớn trong việc
phát huy khả năng sáng tạo, sức mạnh của cộng đồng. Xây dựng môi trường thực
thi và phát huy dân chủ là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với một nước có trình độ
kinh tế thấp kém dựa trên nền nông nghiệp nhỏ và lạc hậu, lại chưa trải qua chế độ
dân chủ tư sản như nước ta. Chỉ có trong môi trường dân chủ, chỉ khi nào quyền tự
do dân chủ của người dân được giải phóng, thì sức mạnh và năng lực sáng tạo của
họ mới được phát huy. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Thực
hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn”.
Cùng với tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, Đảng ta thường xuyên
chăm lo xây dựng và thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đảng ta khẳng
định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi
cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được
thể chế bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân
dân ta xây dựng là xã hội “do nhân dân làm chủ”. Nhà nước đại diện cho quyền làm
chủ của nhân dân, trong đó cán bộ, đảng viên, công chức phải thực sự là công bộc
của nhân dân, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì
lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Đảng ta cũng đã xác định
các hình thức tổ chức và cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Các yêu cầu và nội dung của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
từng bước được thể chế hóa thành luật, pháp lệnh, nghị định, các văn bản của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và được tổ chức thực hiện nghiêm túc.
Nhằm phát huy đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 18 tháng 02 năm 1998, Bộ Chính trị

Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ở nhiều nơi, trên
nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Không ít trường hợp việc thực hành dân chủ còn
mang tính hình thức; có nơi, có lúc còn biểu hiện lợi dụng dân chủ, khiếu kiện đông
người, vượt cấp hoặc gây mất đoàn kết nội bộ; gây rối, ảnh hưởng đến trật tự an
toàn xã hội. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, không thực sự tôn trọng
dân chủ còn tiếp diễn trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức. Nghiêm
trọng hơn ở một số nơi có biểu hiện quan liêu, xa dân ngay từ cơ sở. Tình trạng này

2


tồn tại ở khá nhiều cấp, nhiều nơi. Thanh Hóa - một địa phương với diện tích lớn, là
địa bàn sinh sống của khá nhiều dân tộc, nơi kinh tế phát triển đa dạng, đan xen với
những vùng núi, vùng nông thôn còn nghèo nàn, lạc hậu…, bên cạnh những thành
công, cũng gặp nhiều vấn đề bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện pháp luật về
dân chủ cơ sở.
Với mong muốn góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận thực hiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở, đồng thời góp phần tăng cường hiệu quả thực hiện dân
chủ ở địa phương, để từ đó tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời
sống của nhân dân địa phương, tôi mạnh dạn chọn chủ đề “Thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu các tài liệu đã được công bố những năm gần đây cho thấy: đã có
khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề dân chủ và thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, trong đó có các công trình
tiêu biểu sau đây:
- “Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ: quan điểm, lý luận và
phương pháp nghiên cứu”, của Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/1992.
- “Cơ sở lý luận - Thực tiễn của phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra và mấy vấn đề về xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở”, của Đỗ Quang

định pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở. Song vẫn chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách cập nhật và toàn diện về vấn đề thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ
sở, đặc biệt là xuất phát từ thực tiễn ở một địa bàn cụ thể: tỉnh Thanh Hóa.
Vì vậy, luận văn sẽ góp phần tổng kết các vấn đề lý luận, và đề xuất những
giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở - trên cơ sở
tiếp thu những kết quả nghiên cứu về lý luận thực hiện pháp luật nói chung của các
nhà nghiên cứu đi trước và thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích, tổng kết một số vấn đề có tính lý luận về thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở; khảo sát đánh giá thực tiễn và đề xuất những giải pháp nhằm bảo
đảm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, thông qua
đó góp phần tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ
ở cơ sở nói chung và trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu một số vấn đề có tính lý luận liên quan
trực tiếp tới việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; quan điểm của Đảng và
các văn bản pháp luật của Nhà nước về dân chủ ở cơ sở đã ban hành và tình hình
thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

5


Phạm vị nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện quy chế thực

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ
ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1. Dân chủ ở cơ sở và pháp luật về dân chủ ở cơ sở
1.1.1. Dân chủ ở cơ sở
1.1.1.1. Khái niệm dân chủ
Dân chủ (Demoscratie) có nguồn gốc từ Hy lạp cổ đại, gồm 2 từ “demos” có
nghĩa là dân và “kratos” là quyền lực. “Demoskratia” - dân chủ - có nghĩa là quyền lực
thuộc về nhân dân. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Dân chủ là hình thức tổ
chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của
quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào
các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định” [19].
Có thể nói rằng, phương thức thực hiện dân chủ đã trải qua một quá trình vận
động và biến đổi. Ở buổi đầu sơ khai lịch sử của nhân loại, quyền lực của cộng
đồng được thể hiện dưới hình thức tự quản, mọi thành viên đều có quyền tham gia
vào các quyết định lớn của cộng đồng, họ vừa là chủ thể, vừa là đối tượng chịu sự
điều chỉnh của quyền lực ấy. Đây là hình thức thực hiện dân chủ chất phác, và được
coi là “thời đại hoàng kim” của dân chủ, vì mọi quyền lực xã hội về cơ bản đều
thuộc về nhân dân.
Cho đến khi lực lượng sản xuất dần phát triển và xã hội có của cải dư thừa đã
làm xuất hiện tình trạng chiếm hữu tài sản và theo đó quyền lực công cộng dần bị
biến dạng từ chỗ là phương thức điều chỉnh hành vi con người trong xã hội, trở
thành công cụ của một bộ phận người này dùng để tước đoạt, đàn áp một bộ phận
người khác. Với sự xuất hiện của nhà nước - tổ chức đại diện cho quyền lực chính

Còn theo chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ luôn mang tính giai cấp, ở đó luôn
tồn tại và biến đổi cùng với các cuộc đấu tranh giai cấp và sự thay đổi của phương
thức sản xuất chủ yếu là xã hội. Ở đây, dân chủ xã hội chủ nghĩa là một bước tiến
cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác, bản chất của dân chủ xã hội chủ
nghĩa là giải phóng con người, để cho con người có thể hiện thực hóa những quyền
tự nhiên của mình, tự làm chủ vận mệnh, tự quyết định những vấn đề xã hội. Theo
C.Mác thì dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất là chế độ “do nhân dân tự quy định
nhà nước” nhân dân chính là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Nhân dân tự
tổ chức quyền lực nhà nước qua bầu cử, tham gia quản lý và quyết định những vấn
đề quan trọng, kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước thông qua các hình thức
dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Và chính thực tế đã chứng minh, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, chính quyền
do giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được, thì quyền làm chủ của

8


nhân dân mới trở thành thực chất. Dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với cuộc đấu
tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người, vì sự tiến bộ xã hội. Suy cho cùng,
mục đích cao nhất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người và toàn thể
loài người, để xây dựng một xã hội không có giai cấp, không có áp bức bóc lột, mọi
người đều bình đẳng, tự do, ấm no và hạnh phúc. Chính dân chủ xã hội chủ nghĩa
luôn gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc và toàn thể nhân loại.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch rõ rằng: một
khi những người cộng sản hoàn thành mục tiêu chính trị của mình, thì dân chủ
không còn mang tính hình thức nữa, mà đi vào cuộc sống. Giá trị về dân chủ, tự do
và công bằng của ngày hôm qua mang ý nghĩa mới về chất trong một tương lai
không còn sự phân cực xã hội gay gắt nữa. Bởi vậy, sau khi giành được chính
quyền, giai cấp công nhân cùng toàn thể nhân dân lao động bắt tay ngay vào việc
xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước - cơ chế đảm bảo dân chủ.

Cơ sở là tế bào trong hệ thống chính trị nước ta. Hệ thống chính trị ở nước
ta được tổ chức dựa trên 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, xã (cơ sở). Là cấp cuối
cùng nhưng chính ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) là nơi trực tiếp thực hiện và kiểm
nghiệm một cách chính xác nhất các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật
của Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh trong thực tiễn khách quan của từng giai đoạn phát triển của lịch sử đất
nước. Bởi vậy, các quy định về dân chủ muốn thành hiện thực, trước hết phải
được thực thi tại cơ sở. Chỉ có dân chủ thực sự khi các quyền con người được thực
hiện trước hết ở cơ sở, từng người dân có quyền được biết, được bàn, được kiểm
tra giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở. Lúc đó quyền con người, quyền công
dân mới trở thành hiện thực.
Và dân chủ cơ sở cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy sức mạnh
của bộ máy nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị nói chung. “Khi dân chủ được
thực hiện từ cơ sở, thể chế, luật pháp, bộ máy nhà nước mới có sức mạnh, mới
hướng vào mục tiêu phục vụ dân, bảo vệ dân, chăm lo cho nhân dân, lắng nghe ý
kiến và nguyện vọng của nhân dân. Nhờ có dân chủ ở cơ sở mà Đảng mới phát huy
được uy tín, ảnh hưởng xã hội rộng lớn trong dân. Muốn có mối quan hệ gần gũi,
mật thiết giữa Đảng và nhà nước với nhân dân thì phải có dân chủ, thì khi ấy dân sẽ
dám nói, dám nghĩ, dám làm. Cán bộ đảng viên có gan nói, gan làm, dám chịu trách
nhiệm. Có dân chủ, thực hiện tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tranh luận để tìm ra
chân lý thì sẽ khắc phục được thói áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh. Bảo đảm và phát
huy được dân chủ thì quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”.
Do đó, Nhà nước phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của
toàn dân. Nếu phát huy được sức mạnh của nhân dân thì các công việc của Nhà
nước mới được thực thi một cách hiệu quả. Sức của dân rất lớn, lực lượng của dân

10


dồi dào, sáng kiến của dân là vô tận; dân có trăm tai nghìn mắt ở cơ sở nên hiểu tình
hình, hiểu cán bộ, hiểu Đảng, hiểu Nhà nước, hiểu chính quyền nhân dân… Giám


11


chủ ở cơ sở. Cơ sở (xã, phường, cơ quan, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp...) là
nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước, là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, công tác và học
tập. Cơ sở là nơi diễn ra sự tiếp xúc trực tiếp mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng
lớp nhân dân với Đảng bộ, chính quyền, với cán bộ, công chức điều hành xử lý
công việc hàng ngày. Đảng và Nhà nước ta luôn coi sự phát triển của dân chủ, mở
rộng dân chủ đồng thời phải được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật, dân chủ
phải gắn liền với pháp luật; đồng thời, muốn mở rộng và phát huy được dân chủ ở
cơ sở thì phải có sự phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí,
văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán của mỗi cộng đồng dân cư, dân chủ phải
gắn với kỷ cương, luôn sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
(tháng 6-1997) đã nhấn mạnh, lúc này để giữ vững và phát huy được bản chất tốt
đẹp của Nhà nước ta, phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham
gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng
suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng. Khâu quan trọng và cấp bách
trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện
mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân
chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
Khái lược về dân chủ cơ sở trong tình hình hiện nay, chúng tôi hoàn toàn
đồng ý với nhận định của GS.TSKH Đào Trí Úc:
Dân chủ ở cơ sở là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện dân
chủ ở nước ta. Thực hiện tốt và đẩy mạnh dân chủ cơ sở không chỉ đơn
thuần là một phản ứng chính trị của Đảng và Nhà nước trước tình hình
phức tạp của những điểm nóng ở cơ sở mà nó thể hiện cái nhìn hướng tới
cơ sở, coi trọng cái gốc ở cơ sở nên nó mang tính chiến lược, căn bản,

giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nước
xã hội chủ nghĩa ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà
nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện.
Pháp luật có vai trò quan trọng trong thực hiện dân chủ. Pháp luật là phương
tiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Pháp luật là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng
rất mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội trong đó có các quan hệ giữa các cá nhân công
dân với Nhà nước, giữa công dân với nhau trong đời sống xã hội. Pháp luật đảm bảo
thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền lực của nhân dân, đảm bảo
công bằng xã hội. Dân chủ là thuộc tính của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, việc tăng
cường hiệu lực và phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời
sống xã hội luôn gắn liều với quá trình thực hiện và mở rộng dân chủ xã hội chủ

13


nghĩa. Dân chủ được thể hóa thành pháp luật. Những quyền tự do dân chủ của công
dân phải được quy định cụ thể trong pháp luật, Nhà nước phải đảm bảo cho công
dân thực hiện các quyền đó trong khuôn khổ luật định, đồng thời pháp luật cũng
quy định những nghĩa vụ tương ứng mà công dân phải thực hiện để đảm bảo trật tự
kỷ cương xã hội.
Pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm
bảo thực hiện, điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà nước, các tổ chức
chính trị, chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công dân nhằm đảm bảo cho công
dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Do đó, pháp luật về dân chủ có phạm vi và nội dung điều chỉnh rất rộng lớn. Pháp
luật về dân chủ ở cơ sở là một nội dung rất quan trọng của pháp luật về dân chủ,
bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước, các
tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công dân đảm bảo cho công
dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội

chủ ở xã và đã được sửa đổi, bổ sung thay thế bằng Nghị định số 79/NĐ-CP ngày
7/7/2003 (quy chế này áp dụng cho cả phường và thị trấn). Ngày 20/4/2007, Ủy ban
thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/ PL - UBTVQH12 về thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Đối với các cơ quan nhà nước, ngày 8/9/1998
Chính phủ ban hành Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt
động của cơ quan. Đối với đơn vị kinh tế, ngày 13/02/1999 Chính phủ ban hành Nghị
định số 07/1999/NĐ-CP về thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước; ngày
28/5/2007 Chính Phủ ban hành Nghị định số 87/2007/NĐ-CP về thực hiện dân chủ ở
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; và gần đây nhất, ngày 19/6/2013
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60/2013/NĐ-CP quy định chi tiết Khoản 3, Điều
63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.
Trên đây là những văn bản pháp luật trực tiếp quy định về thực hiện dân chủ
tại xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Tuy nhiên pháp luật về
dân chủ cơ sở còn bao hàm nhiều văn bản khác có liên quan, ví dụ: các đạo luật
chuyên ngành - khi quy định về sự tham gia của người dân ở cơ sở trong các lĩnh
vực cụ thể (Luật Đất đai; Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Luật xử lý vi phạm hành
chính.v.v.); riêng với các cơ quan nhà nước, các quy định về thực hiện dân chủ
được ghi nhận trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Luật Tổ
chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ
chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Cán bộ, công chức, Luật thanh
tra, Quy chế hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân… và ngoài ra trong quy
chế hoạt động của các cơ quan nhà nước. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn,
chúng tôi chỉ đi sâu phân tích những quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật
trực tiếp điều chỉnh về thực hiện dân chủ cơ sở nói trên.

15


Có thể nói, hệ thống các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở ở nước ta được
ban hành kịp thời và đã từng bước đi vào cuộc sống, đây là cơ sở pháp lý quan trọng


16


nhân khi gặp phải những tình huống thực tế mà pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận
thức của mình sẽ chuyển hóa một cách sáng tạo các quy định pháp luật vào tình
huống cụ thể của cuộc sống thông qua hành vi hợp pháp của mình.
- Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Hệ thống pháp luật về dân chủ ở cơ sở đã được ban hành nhằm đảm bảo
quyền làm chủ của nhân dân, tạo lập hiệu quả cao nhất trong quản lý nhà nước và
phát triển xã hội. Song mục đích đó có đạt được hay không, pháp luật có triển khai
thực hiện trong thực tế cuộc sống hay không phụ thuộc vào hiệu quả thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cơ sở của các chủ thể. Chủ thể thực hiện pháp luật có thể là cá
nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức.
Từ khái niệm chung về thực hiện pháp luật, có thể đưa ra khái niệm về thực
hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở như sau:
Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là hoạt động có mục đích của các cơ
quan nhà nước, tổ chức và các cá nhân, làm cho những quy định của pháp luật về
dân chủ cơ sở đi vào cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sức sáng tạo
của nhân dân trong phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng
xã hội giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
trong sạch, vững mạnh.
Trong phạm vi luận văn này, sẽ tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật
về dân chủ cơ sở ở ba loại hình đơn vị cơ sở là: đơn vị hành chính cấp xã, phường,
thị trấn theo Pháp lệnh số 34/ 2007- PL- UBTVQH11 ngày 20 tháng 04 năm 2007
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; các cơ quan nhà nước theo Nghị định số
71/1998/NĐ-CP ngày 8/9/1998 và các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp theo Nghị
định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3,
Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.
1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

hoạt động của cơ quan; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính
phủ quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Ngoài những văn bản này, cũng có nhiều văn bản
khác là nguồn quy phạm cho thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, ví dụ: Hiến pháp
2013; Luật Đất đai; Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân; Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Cán bộ, công
chức. v.v. Sở dĩ có sự phong phú trong các loại nguồn của pháp luật về dân chủ cơ
sở là do các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở thường dẫn chiếu sang
các văn bản khác trong một lĩnh vực liên quan; quyền dân chủ của người dân ở cơ
sở không chỉ bó hẹp trong các văn bản về thực hiện dân chủ cơ sở, mà phần lớn
nằm trong các văn bản quy định về các quyền nội dung tương ứng. Các văn bản
pháp luật về dân chủ cơ sở - như đã nói ở trên - chủ yếu điều chỉnh về hình thức, cơ
chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status