Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh ninh bình hiện nay - Pdf 25

ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ðÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


DƯƠNG THỊ KHÁNH LY THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TRÊN ðỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học học:
GS, TS. NGUYỄN VĂN HUYÊN

Bình 58
2.1.1. ðặc ñiểm kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh - những ñiều kiện góp
vào thành tựu của thực hiện Quy chế dân chủ 58
2.1.2. Thành tựu của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên ñịa bàn
tỉnh 65
2.2. Hạn chế của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và những vấn ñề
ñặt ra 85
2.2.1. Những hạn chế 85
2.2.2. Những vấn ñề ñặt ra 90
Chương 3.
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ðỊA BÀN
TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
93
3.1. Những phương hướng cơ bản 93
3.1.1. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở cùng với nâng cao vai trò lãnh
ñạo của các cấp ủy ñảng, trách nhiệm của các cấp chính quyền và các
tổ chức chính trị - xã hội 93
3.1.2. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn liền với phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội; nâng cao dân trí ở xã, phường, thị trấn 96
3.1.3. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ñi ñôi với việc cải cách nền hành
chính cấp cơ sở 100
3.2. Những giải pháp chủ yếu 102
3.2.1. Nâng cao trình ñộ pháp luật và năng lực thực hành pháp luật của cán
bộ cấp ủy, chính quyền và nhân dân 102
3.2.2. Nâng cao nhận thức và năng lực thực hành Quy chế dân chủ ở cơ sở
của các cấp chính quyền và người dân 105
3.2.3. Nâng cao năng lực, phẩm chất, ñạo ñức của ñội ngũ cán bộ ở cơ sở 108
3.2.4. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt ñộng của hệ thống truyền
thông ở xã, phường, thị trấn 111

trệ, kém phát triển, một số “ñiểm nóng” ñã nổ ra và ảnh hưởng lớn ñến ổn
ñịnh chính trị - xã hội ở một số ñịa phương.
Nghị quyết ðại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VI của ðảng ñã rút ra bài
học kinh nghiệm ñầu tiên ñó là: “trong toàn bộ hoạt ñộng của mình, ðảng
phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân lao ñộng”

[9, tr.29].

2
Từ nhận thức trên, từ khi bước vào công cuộc ñổi mới toàn diện ñất
nước theo ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hoá ñời sống xã hội ñược
ðảng Cộng sản Việt Nam xác ñịnh là một trong những nội dung cốt lõi, trọng
tâm, ñặc biệt là dân chủ hoá ñời sống xã hội từ cơ sở.
Chính vì vậy, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị ñã ra Chỉ thị 30CT/TW về
xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tiếp ñó, ngày 11/5/1998, ñể
cụ thể hoá Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị ñịnh 29Nð/CP về ban
hành “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã” (áp dụng với cả phường, thị trấn).
Tiếp ñến, ngày 7/7/2003 - Chính phủ ban hành Nghị ñịnh số 79/2003/Nð- CP
về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân
trong phát triển kinh tế, ổn ñịnh chính trị - xã hội, tăng cường ñoàn kết toàn
dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng ðảng, chính quyền, ñoàn
thể vững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh”.
Sau gần 10 năm triển khai, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, ðảng và
Nhà nước ta thấy rõ hiệu quả và thành công bước ñầu ñược của việc thực hiện
dân chủ trong ñời sống nhân dân và xây dựng ñất nước, bởi vậy ngày
20/4/2007UBTVQH, ñã ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,
thị trấn, nhằm ñẩy mạnh hơn nữa và luật hoá việc thực hiện dân chủ trong ñời
sống nhân dân và xây dựng ñất nước.

không chỉ ñối với các tỉnh ñồng bằng Bắc bộ mà ñối với cả nước nói chung.
Việc triển khai, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên ñịa bàn tỉnh Ninh
Bình có ý nghĩa to lớn ñối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh,
ñồng thời cũng phản ánh quá trình dân chủ hoá ñời sống xã hội ở những ñịa
phương có hoàn cảnh tương tự như Ninh Bình.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng như trên, học viên chọn vấn ñề: “Thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên ñịa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay” làm ñề

4
tài luận văn thạc sĩ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học, hy
vọng có thể góp phần nhỏ bé, thiết thực vào một vấn ñề bức xúc hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu ñề tài
Dân chủ là vấn ñề nhạy cảm và phức tạp nên từ lâu nó ñã thu hút ñược
sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu cũng như giới học giả của
các nước trên thế giới. Xuất phát từ nhiều góc ñộ khác nhau nên vấn ñề dân
chủ cũng ñược ñề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ở phương Tây, khi nói về
vấn ñề dân chủ các học giả thường ñề cao tính tự do cá nhân. Các học giả
Liên Xô (cũ) và Trung Quốc với khuynh hướng bảo vệ quyền lực chính trị
của giai cấp công nhân, khi bàn về vấn ñề dân chủ, họ thường ñặt nó trong
quan hệ Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân.
Ở nước ta, việc nghiên cứu vấn ñề dân chủ, trong ñó có vấn ñề dân chủ
ở xã, phường, thị trấn, nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân
ñã ñược khá nhiều người nghiên cứu.

ðã có nhiều công trình ñược công bố,
trong ñó có những công trình tiêu biểu sau:
Các bài phát biểu của các nhà lãnh ñạo ðảng và Nhà nước ñã nhấn
mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
như: Lê Khả Phiêu (1998), “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng
và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở”,Tạp chí Cộng sản, số 3, tr.3-7.

phương như: “Quy chế dân chủ ở cấp xã - Một số vấn ñề lí luận và thực tiễn”
Dương Xuân Ngọc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; “Hệ
thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá ñời sống xã hội ở nông thôn miền
núi, vùng dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta” do Nguyễn
Quốc Phẩm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; “Thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - một số vấn ñề lí luận và thực
tiễn” Nguyễn Cúc chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Dân chủ
và dân chủ cơ sở nông thôn trong tiến trình ñổi mới” Hoàng Chí Bảo chủ
biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
Liên quan ñế vấn ñề này còn có một số luận văn luận chuyên ngành
chính trị học như: “Dân chủ ở cơ sở và vấn ñề thực hiện dân chủ ở nông thôn

6
nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Tâm (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, năm 2006); luận văn thạc sĩ Triết học (chuyên ngành CNXHKH) của
các tác giả như: “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại các vùng nông thôn
miền núi của tỉnh Bắc Giang hiện nay”, của Nguyễn Minh Thi (Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000); “Thực hiện quy chế dân chủ ở xã trên
ñịa bàn tỉnh Sơn La - Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thanh Sơn (Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2003); “Thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở trên ñịa bàn Thành phố Vinh - những vấn ñề ñặt ra và giải pháp” của
Phan Thanh Bình (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2005),
một số luận văn cử nhân tốt nghiệp ñại học chính trị của các tác giả như:
“Thực hiện dân chủ ở xã, phường nước ta hiện nay” của Trần Thị Hồng (Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1999); “Thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp” của Nguyễn
ðăng Tiến (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000)
Riêng ở tỉnh Ninh Bình có các văn bản, chỉ thị của Tỉnh uỷ, Uỷ ban
nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện quy chế, pháp lệnh dân chủ ở cơ sở,
các báo cáo, ñánh giá của Ban chỉ ñạo thành uỷ, của ban chỉ ñạo ở một số

chỉ là luật pháp hóa nội dung Quy chế dân chủ). Hơn nữa mục ñích của luận
văn này cũng chủ yếu tập trung giải quyết vấn ñề thực hiện dân chủ ở cơ sở
(xã, phường, thị trấn) ở Ninh Bình.
* Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ tại
các xã, phường, thị trấn của tỉnh Ninh Bình trong khoảng thời gian 1998 ®Õn
nay.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lí luận:
Luận văn ñược thực hiện trên cơ sở lí luận về dân chủ của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của ðảng và Nhà nước ta.

8
ðồng thời, người viết kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu các công trình
và các bài viết của các tác giả ñã ñược công bố.
* Phương pháp nghiên cứu:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương
pháp của luận văn.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Lịch sử -
logic, phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, gắn lí luận với thực tiễn.
6. ðóng góp của luận văn
* ðóng góp mới của luận văn
- Luận văn làm rõ thêm những quan niệm về dân chủ của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Hồ Chí Minh,

ðảng ta và Quy chế chủ ở cơ sở.
- Khảo sát thực tiễn việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Ninh Bình,
khái quát những thành tựu và hạn chế, qua ñó chỉ ra ñược những vấn ñề cấp
thiết cần giải quyết trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, ñồng thời ñề xuất
những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở cho
phù hợp với ñiều kiện của ñịa phương.
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ðỀ LÍ LUẬN VỀ DÂN CHỦ
VÀ QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

1.1. Một số vấn ñề lý luận về dân chủ
1.1.1. Quan ñiểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ
Thuật ngữ Dân chủ có gốc từ ngôn ngữ cổ Hy Lạp: Demokratia, nó
ñược ghép từ hai chữ demos có nghĩa là dân chúng, nhân dân và kratos có
nghĩa là quyền lực. Dân chủ theo nghĩa tiếng Việt có nghĩa là quyền lực thuộc
về nhân dân. Nói một cách khác, dân chủ là một khái niệm ñề chỉ một chế ñộ
xã hội mà ở ñó nhân dân là chủ thể của quyền lực, nhân dân sử dụng quyền
lực, mà quyền lực chính trị là quan trọng nhất ñể tổ chức, quản lý xã hội và
thực hiện quyền làm chủ của mình.
Vấn ñề ñặt ra là, trong ñiều kiện lịch sử nào và tại sao trong ý thức của
con người và loài người lại xuất hiện ý tưởng cho rằng quyền lực thuộc về
nhân dân?
Có thể có nhiều cách tiếp cận ñể trả lời câu hỏi ñó, từ góc ñộ chính trrị
học Mác-Lênin, vấn ñề ñặt ra chẳng những ñược cắt nghĩa trên cơ sở khoa
học, mà con phù hợp và hữu ích ñối với thực tiễn ngày nay.
Trong lịch sử phát triển cuả nhân loại, vấn ñề dân chủ chính trị chỉ
ñược ñặt ra ñối với con người, xã hội loài người khi ñã phân chia thành giai
cấp, ñược tổ chức thành nhà nước. Bởi lẽ, trước khi ñó quan hệ giữa người
với người là hoàn toàn bình ñẳng. Lịch sử nhân loại ñã chứng minh, con
người muốn tồn tại và phát triển cần phải gắn kết lại với nhau tạo thành cộng
ñồng, nhằm tăng thêm sức mạnh ñể chống chọi và chinh phục sức mạnh
huyền bí của thiên nhiên, sự tấn công của các lực lượng thù ñịch, ñảm bảo
quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của mình. Thị tộc một thiết chế chung

những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các bộ tộc, bộ lạc ñã kéo theo
sự thay ñổi lớn về mặt kết cấu - mối liên kết giữa các thành viên trong các tổ
chức bộ tộc, bộ lạc. Chính ñiều ñó làm cho mọi hoạt ñộng của các tổ chức xã
hội rơi vào tình trạng rối loạn. Trong tình hình ấy, người ta ñã phải tìm cách

12
giải quyết cái công việc mà người ta ñã làm là: “thiết lập một cơ quan quản lý
Trung ương nghĩa là một phần công việc xưa nay do các bộ lạc tự quản lý
lấy, lại ñược tuyên bố là công việc chung và ñược chuyển giao cho Hội ñồng
chung quản lý, nhân danh “lợi ích chung”, ñể duy trì trật tự chung, những
người này ñặt ra pháp luật, lập cảnh binh, toà án, nhà tù, thao túng quyền
hành bắt bộ phận còn lại, thường là số ñông và ñược gọi là dân phải phục tùng
ý chí của họ.
Như vậy có thể nói sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao
ñộng mới, sự phân chia giai cấp, sự xuất hiện của nhà nước vừa là một bước
tiến của văn minh nhân loại; ñồng thời sự hiện hữu của nhà nước, pháp luật là
một dấu hiệu cho thấy rằng xã hội từ ñó ñang tồn tại một tình trạng bất công,
bất bình ñẳng. Sự xuất hiện nhà nước với tư cách là một bộ máy quyền lực
ñặc biệt - “tựa hồ” ñứng ra ngoài, ñứng bên trên xã hội vừa là một bước tiến
của văn minh, nhưng mặt khác, ñó là dấu hiệu mở ñầu của sự “tha hoá”, về
quyền lực xã hội nói chung, quyền và nghĩa vụ của cộng ñồng người cấu
thành xã hội - nhà nước nói riêng. Khát vọng dân chủ, khát vọng ñòi trả lại sự
bình ñẳng, công bằng; phục hồi lại ý nghĩa nguyên thuỷ của quyền lực xã hội
ñã nảy sinh trong ñiều kiện hiện thực ñó, và chính nó ñã trở thành mẫu số
chung liên kết, thôi thúc các lực lượng tiến bộ, các giai tầng bị bóc lột, áp bức
cùng hành ñộng. Kể từ ñó trở ñi, xã hội loài người ñã vận ñộng, phát triển
trong sự biến thiên không ngừng của các cuộc tìm kiếm, thể nghiệm; của
những cuộc ñấu tranh giai cấp, nhằm tạo lập một chế ñộ chính trị hợp lý có
hiệu quả - chế ñộ chính trị dân chủ, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhà nước chủ nô là hình thức nhà nước ñầu tiên của chế ñộ xã hội có

ngôn về quyền dân chủ, tự do của con người ñược các tư tưởng gia tiến bộ
trong thời kỳ này cổ suý. ðây là cuộc ñấu tranh trên lĩnh vực văn hoá, tư
tưởng của giai cấp tư sản nhằm chống lại chủ nghĩa kinh viện, chủ nghĩa thầy
tu và thần học. ðại biểu tiêu biểu cho phong trào này là Côpecnich, Brunô,

14
Sêchxphia,… họ khẳng ñịnh cái ñẹp thật sự của cuộc sống là ở con người, ở
trần gian, chứ không phải là lực lượng siêu nhiên, thần thánh, ở thiên ñường;
cho nên con người không thể sông cam chịu, mà phải ñấu tranh vì tự do, dân
chủ. Với tinh thần ñó, chủ nghĩa duy lý trong thế kỉ XVII ñã giáng xuống chủ
nghĩa phong kiến ñòn thứ hai với tư tưởng ñề cao tư duy, trí tuệ của con
người, phủ ñịnh “chân lý” của tôn giáo. Cuối cùng trào lưu khai sáng ở thế kỉ
XVIII với tư tưởng dân chủ, nhân ñạo ñã làm rạng rỡ cho nền văn hoá tư sản.
Nó thể hiện tinh thần ñấu tranh cho tự do, dân chủ, ñó là những cuộc ñấu
tranh chống lại thần quyền, cường quyền, chống lại thần học nhằm mở mang
trí tuệ và ñổi mới tư duy, nâng cao tư tưởng về bình quyền, bình ñẳng, khẳng
ñịnh thế giới quan duy vật, mà tiêu biểu là các nhà tư tưởng như Vônte,
Rutxô…
Chính giai cấp tư sản trong thời kì ñang lên ñã giương cao ngọn cờ “tự
do, bình ñẳng, bác ái” ñể tập hợp các lực lượng bên dưới tiến hành cuộc cách
mạng chính trị lật ñổ chế ñộ phong kiến chuyên chế, xác lập chế ñộ dân chủ
tư sản. Thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản (ñiển hình là cuộc cách mạng tư
sản ở Mỹ năm 1776, cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789) và Tuyên ngôn ñộc
lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776), cũng như tuyên ngôn về dân quyền
và nhân quyền của cách mạng Pháp (1789) ñã tạo nên những dấu ấn sâu ñậm
trong lịch sử cuộc ñấu tranh vì các quyền cơ bản của con người, vì một chế ñộ
dân chủ.
Dân chủ tư sản là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển dân chủ của
xã hội loài người. Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp, dân chủ bao giờ cũng
mang bản chất giai cấp, phản ánh những lợi ích căn bản của giai cấp thống trị.

phong kiến nhằm tạo ra những tiền ñề ñể tiến tới sự bình ñẳng, tự do cho tất
cả nhân loại cần lao.
ðó là cơ sở cho việc giải thích về việc tồn tại song song hai phong trào,
hai lực lượng chính trị chủ yếu ñấu tranh cho dân chủ trong thời cận hiện ñại,

16
chủ nghĩa tự do tư sản của giai cấp tư sản và chủ nghĩa xã hội của giai cấp
công nhân.
Khi còn là những nhà dân chủ cách mạng, C.Mác, Ăngghen ñã luôn
kiên quyết ñấu tranh chống lại sự chuyên chế. Trong thực tiễn ñấu tranh ấy,
dần dần các ông nhận ra thực chất của cuộc ñấu tranh cho dân chủ cũng như
phương thức, con ñường mới ñể xây dựng một xã hội dân chủ trên lập trường
của giai cấp công nhân. Bởi vậy, những luận ñề về dân chủ chiếm một vị trí
quan trọng trong học thuyết chính trị của các ông.
C.Mác là người ñầu tiên quan niệm về một chế ñộ xã hội xứng ñáng với
con người - chế ñộ dân chủ. Ông vạch rõ sự ñối lập như nước với lửa, giữa
chế ñộ dân chủ và chế ñộ chuyên chế. Nếu như chế ñộ chuyên chế coi khinh
con người, trà ñạp con người thì chế ñộ dân chủ coi trọng con người, hướng
tới con người. “Chế ñộ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước
thành con người ñược khách thể hoá, cũng giống như tôn giáo không tạo ra
con người mà con người tạo ra tôn giáo; ở ñây cũng vậy, không phải chế ñộ
nhà nước tạo ra nhân dân, mà nhân dân tạo ra nhà nước [30, tr.333].
Cũng theo C.Mác, con người là ñiểm xuất phát và cũng là ñiểm cuối
cùng ñể ñánh giá một chế ñộ là dân chủ hay chuyên chế. Chỉ có trong chế ñộ
dân chủ, con người mới là mục ñích, là chủ thể của xã hội. Nhà nước, các
thiết chế chính trị chỉ là phương tiện do con người tạo ra ñể phục vụ chính lợi
ích của con người. Nền dân chủ, theo Mác, là sản phẩm tự quyết của nhân
dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất cả ý chí, tài năng và lợi ích của
họ. Chính trên ý nghĩa ñó, khi phân tích sự khác nhau giữa chế ñộ chuyên chế
với chế ñộ dân chủ, C.Mác ñã viết: “Dưới chế ñộ quân chủ, tổng thể - tức

xem ñó là hình thức chính trị linh hoạt cao ñộ so với các hình thức chính phủ
ñã có từ trước, mà về thực chất ñều là những hình thức chính trị áp bức, nô
dịch con người, giai cấp những người lao ñộng. Các ông chỉ rõ, về thực chất,

18
nó là chính phủ của giai cấp công nhân, là kết quả của cuộc ñấu tranh giai
cấp, những người lao ñộng chống lại giai cấp chiếm hữu, là hình thức chính
trị mà rút cuộc lịch sử ñã tìm thấy ñể giải phóng lao ñộng về mặt kinh tế.
Một trong những bài học rút ra từ Công xã Pari ñó là: việc giải phóng
giai cấp những người lao ñộng, thực hành một chế ñộ dân chủ mới - dân chủ
vô sản, chỉ có thể thành công khi tạo lập ñược khối liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân. Các nhà kinh ñiển ñã khẳng ñịnh rằng, giai
cấp công nhân nếu tiến hành ñấu tranh cách mạng một cách ñơn ñộc chống
giai cấp tư sản thì cuộc cách mạng ấy sẽ trở thành những bài ñơn ca buồn
thảm, sẽ không tránh khỏi thất bại ñau ñớn.
Giai cấp công nhân Pháp sẽ không tiến lên ñược một bước nào và cũng
không thể ñụng chạm ñến một sợi tóc nào của chủ nghĩa tư bản, khi mà ñông
ñảo nhân dân ñứng giữa giai cấp vô sản và tư sản, tức là nông dân và giai cấp
tiểu tư sản chưa nổi dậy chống lại sự thống trị của tư bản, chưa bị tiến trình
cách mạng buộc phải ñi theo người vô sản, coi là ñội tiên phong của mình
[33, tr.30]. Vả lại “Phong trào vô sản là phong trào ñộc lập của tuyệt ñại ña
số, mưu lợi ích cho tuyệt ñại ña số” [31, tr.611] và theo lôgíc ñó, dân chủ với
tư cách là khát vọng của ña số tất yếu là khát vọng chính ñáng của nông dân.
Khi nói về giai cấp công nhân, C.Mác và Ăngghen cũng nhìn nhận
nông dân là lực lượng ñông ñảo nhất, là lực lượng ñồng minh của giai cấp
công nhân chứ chưa bao giờ là lực lượng lãnh ñạo. Giai cấp nông dân là một
tập ñoàn xã hội của những người tiểu nông, tư hữu nhỏ, không có những mối
liên kết xã hội chặt chẽ. Họ “ñại khái cũng giống như một cái bao tải ñựng
những củ khoai tây hình thành một bao tải khoai tây vậy” [34, tr.471]. Ông
cho rằng nhân dân thường lạc hậu, bảo thủ, thái ñộ với chính trị thường lãnh

và nhân dân các dân tộc thuộc ñịa trong thời ñại mới, vừa mang tính thực tiễn
chỉ ñạo việc tổ chức, xây dựng một nền dân chủ mới, cao hơn, rộng rãi hơn so
với dân chủ tư sản.
Xuất phát từ yêu cầu giải quyết mối quan hệ giữa cuộc ñấu tranh vì dân
chủ và vì chủ nghĩa xã hội trong thời ñại mình, ngay từ ñầu, V.I.Lênin ñã
quan niệm rằng: dân chủ và xã hội chủ nghĩa là hai phạm trù thống nhất trong
mục tiêu của cuộc cách mạng vô sản Nga. Theo ñó, Lênin ñã chỉ rõ:

20
Nếu tưởng rằng cuộc ñấu tranh vì dân chủ có thể làm cho giai cấp vô
sản xa rời cách mạng xã hội chủ nghĩa hoặc có thể che lấp, làm lu mờ cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa thì sẽ mắc một sai lầm căn bản. Trái lại cũng
giống như không thể có một chủ nghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực
hiện dân chủ hoàn toàn, giai cấp vô sản cũng không thể nào chuẩn bị ñể chiến
thắng giai cấp tư sản ñược nếu nó không tiến hành một cuộc ñấu tranh toàn
diện, triệt ñể và cách mạng ñể giành dân chủ [25, tr.324].
Khẳng ñịnh sự thống nhất không tách rời giữa dân chủ và chủ nghĩa xã
hội, Lênin cũng nghiêm khắc phê phán những quan ñiểm phiến diện, phi lịch
sử ñối lập giữa dân chủ và chuyên chính, từ ñó xoá nhoà sự khác biệt về chất
giữa dân chủ tư sản và dân chủ vô sản. Có thể xem những luận giải của Ông
từ phương diện này là cơ sở cho việc tìm hiểu và giải quyết vấn ñề dân chủ
trên lập trường Macxit. Theo V.I.Lênin, dân chủ là một phạm trù lịch sử, có
tính giai cấp; dân chủ là một hình thức nhà nước (trong ý nghĩa này dân chủ
và chuyên chính là hai mặt của một thể thống nhất của bất cứ loại hình nhà
nước nào) mà sự khác nhau là ở chỗ mức ñộ rộng - hẹp, ít - nhiều của ñối
tượng mà nhà nước ñó hướng tới thực hiện dân chủ hay chuyên chính.
Phân tích sự khác nhau giữa dân chủ vô sản với dân chủ tư sản trên
phương diện này, Lênin ñã viết:
Giỏi lắm thì nền cộng hoà dân chủ tư sản cũng chỉ thừa nhận tổ chức
quần chúng bị bóc lột bằng những lời tuyên bố rằng ñó là một tổ chức tự do.

Những nội dung ñề cập tới việc xây dựng bộ máy nhà nước “thà ít mà tốt”,
xây dựng các tổ chức công ñoàn, ñoàn thanh niên cộng sản xây dựng ðảng
kiểu mới và toàn bộ nỗ lực trong việc chỉ ñạo thực tiễn của Lênin những năm
ñầu xây dựng chính quyền Xô viết vẫn còn nguyên giá trị là ñịnh hướng cho
việc nhận thức và giải quyết các vấn ñề liên quan ñến quá trình xây dựng và

22
hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, ñảm bảo quyền lực thuộc về
nhân dân.
Con người tồn tại và tham gia vào các hoạt ñộng xã hội không phải chỉ
bằng phương thức tập thể - thông qua các tổ chức quần chúng, mà họ còn phải
ñược tồn tại và hoạt ñộng với tư cách là những cá thể ñộc lập, với tư cách là
những công dân có chủ quyền. Một chế ñộ dân chủ phải thực hành nguyên
tắc: Tất cả mọi công dân ñều bình ñẳng trước pháp luật. Hệ thống quyền công
dân càng ñầy ñủ, càng có khả năng hiện thực hoá bao nhiêu thì mức ñộ dân
chủ càng rộng bấy nhiêu. Trong tính hiện thực của chế ñộ dân chủ, dù là dân
chủ xã hội chủ nghĩa thì vẫn tất yếu tồn tại hình thức dân chủ ñại diện, vì thế
trong hệ thống các quyền chính trị của công dân, Lênin ñặc biệt chú ý ñến
việc bảo ñảm quyền của người dân ñược tham gia một cách thực tế vào việc
“lựa chọn các viên chức”, những ñại biểu ñại diện cho lợi ích của họ trong bộ
máy Nhà nước.
V.I.Lênin cũng nhận thấy rằng, bất cứ nhà nước nào cũng có nguy cơ
dẫn ñến chủ nghĩa quan liêu. Dân chủ không thể tương dung với quan liêu, vì
vậy các tổ chức bộ máy quyền lực, phương thức hoạt ñộng của các thành viên,
các nhân viên trong bộ máy ấy phải ñược thường xuyên hoàn thiện theo
hướng ngăn ngừa, hạn chế và kiên quyết chống chủ nghĩa quan liêu.
Cũng như C.Mác và F.

Ăngghen, V.I.Lênin luôn khẳng ñịnh rằng:
“Không có sự ñồng tình và ủng hộ của ñại ña số nhân dân lao ñộng ñối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status