Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Hà Tĩnh, thực trạng và giải pháp - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG TRUNG DŨNG
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG,
THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Chính trị học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Thu Hƣơng

Hà Nội – 2013
3
LỜI CAM ĐOAN Luận văn “Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường,
thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” là công trình khoa học
của riêng tôi. Các nội dung, số liệu được nêu trong Luận
văn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, chính xác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về cam kết của mình.

Tác giả
Hoàng Trung Dũng

QCDC : Quy chế dân chủ
QPAN : Quốc phòng - an ninh
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã,
phường, thị trấn
25
1.2.2.
Những định hướng phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay
27
Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ,
PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY
31
2.1.
Vị trí địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, VHXH của tỉnh Hà
Tĩnh
31
2.2.
Những điều kiện tác động đến quá trình thực hiện Quy chế
dân chủ
33
2.3.
Nội dung, cách thức triển khai QCDC ở xã, phường, thị trấn
của tỉnh Hà Tĩnh
34
2.4.
Kết quả trên các lĩnh vực, nguyên nhân thành công, hạn chế
39
2.5.
Một số bài học kinh nghiệm trong việc triển khai Quy chế
dân chủ ở xã, phường, thị trấn
53

sự phát triển.
Nền dân chủ XHCN và việc đảm bảo dân chủ ở Việt Nam không chỉ
được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế
hoá và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Nhà
nước. Đặc biệt, kể từ khi Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 30 -
CT/TW, ngày 18/12/1998 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở”, nền dân chủ XHCN được triển khai đồng bộ, rõ nét hơn. Theo đó, Quốc
hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đây là sự thể hiện quyết tâm củng cố, hoàn
thiện, phát triển nền dân chủ XHCN trong công cuộc đổi mới của Đảng và
Nhà nước ta; phản ánh tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân,
đáp ứng nhu cầu và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước theo định
hướng XHCN.
Là một địa phương ở khu vực Bắc miền Trung, sau hơn 15 năm triển
khai thực hiện Chỉ thị 30 - CT/TW của Bộ Chính trị về Quy chế dân chủ ở cơ
sở, nhìn chung trên mọi mặt đời sống, chính trị, xã hội của tỉnh Hà Tĩnh có
nhiều chuyển biến tích cực.
Triển khai thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là
Dân chủ ở cơ sở) đã tạo động lực giúp Hà Tĩnh khơi dậy tiềm năng, nguồn lực

3
vật chất, tinh thần trong nhân dân; củng cố khối đoàn kết thống nhất trong
Đảng bộ, nhân dân; là cơ sở để các địa phương xây dựng phong cách ứng xử
của người lãnh đạo, quản lý; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; nâng cao năng lực
lãnh đạo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp ủy, chính quyền; làm cầu nối
cho nhân dân sát cánh bên Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể để thực
hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, việc triển khai thực hiện QCDC trên địa
bàn Hà Tĩnh vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến quá trình sự phát triển.
Nhận thức về QCDC của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, của

tính chiến lược lâu dài.
Từ thực tiễn việc thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
thời gian qua và xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình dân chủ hóa,
đồng thời để làm tài liệu cho các cấp, các ngành tham khảo trong việc thực
hiện dân chủ, tôi chọn nội dung “Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường,
thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Cao học
chuyên ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bàn về vấn đề dân chủ, đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu ở những phạm vi khác nhau; được đề cập trong nhiều đề tài, bài viết, một
số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ. Trong đó, có thể khái quát thành các
nhóm công trình sau:
* Các công trình đề cập tới dân chủ nói chung
- Cuốn sách: Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh (2009) của Phạm
Văn Bính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, nêu những vấn đề lý luận, thực
tiễn của phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, những yêu cầu đặt ra trong việc
vận dụng phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh để hoàn thiện phương pháp lãnh
đạo dân chủ của Đảng về chính trị, cải cách bộ máy, hoàn thiện chức năng
quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát
triển ý thức công dân và năng lực thực hiện dân chủ XHCN của đội ngũ cán
bộ…củng cố khối liên minh công - nông - trí thức, tăng cường pháp chế,
chống khuynh hướng dân chủ cực đoan.

5
- Cuốn sách: Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình
đổi mới (2010) của Giáo sư - Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, nêu rõ tầm quan trọng của dân chủ đặc biệt là dân chủ cơ sở ở nông
thôn từ khi triển khai công cuộc đổi mới đất nước đến nay; đề xuất các giải
pháp góp phần thực hiện hiệu quả việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội,
tạo động lực, mục tiêu cho việc xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa xã

Nội, tập trung phân tích cơ sở lý luận về dân chủ ở cấp xã và Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam; đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cấp xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Nêu các quan điểm và giải pháp đẩy mạnh
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Cuốn sách: Tâm lý xã hội trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở (2004) của Trần Ngọc Khuê và Lê Kim Việt (chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trình bày tổng quan các yếu tố tâm lý xã hội
trong quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở; phân tích mối quan hệ giữa các yếu
tố tâm lý xã hội với quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở; đề ra một số giải pháp
cơ bản nâng cao chất lượng, phân tích các yếu tố tâm lý xã hội cần chú ý
trong quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở, chỉ ra các yếu tố chủ yếu như vai trò
gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền; về thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; về tâm lý xã hội nói chung; nhận thức của
đội ngũ cán bộ cơ sở; phong cách của người lãnh đạo quản lý cấp cơ sở; mối
quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích trong triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở; vấn
đề xây dựng quy ước, hương ước; tác động của tâm lý làng xã; tâm lý của phụ
nữ nông thôn; tâm lý của tôn giáo; những giải pháp thực hiện QCDC ở cơ sở.
* Các công trình liên quan trực tiếp đến chủ trương và thực hiện
Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, tập I (1930 - 1954), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1993; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, tập II (1954 - 1975), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh tập III (1975 -
2010), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011; Truyền thống 75 năm
công tác Dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh (1930 - 2000), Xí nghiệp in Hà
Tĩnh, 2005 và một số công trình liên quan khác của các ban, ngành.

7
Các công trình nêu trên nhìn chung tập trung đề cập đến đặc điểm, tình
hình, quá trình lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn

5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; các chủ trương của
Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện
QCDC ở cơ sở; kế thừa kết quả nghiên cứu của một số tác giả qua các luận
văn, đề tài, bài viết đã được công bố.
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học chính trị,
kết hợp với phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, thống kê, hệ thống
hóa, lôgic - lịch sử, so sánh…đặc biệt là việc khảo sát thực tiễn để giải quyết
nội dung của đề tài.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Khái quát những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân thực hiện Quy chế
dân chủ ở xã, phường, thị trấn trong cả nước và của tỉnh Hà Tĩnh. Dự báo xu
hướng, nêu phương hướng, giải pháp cụ thể của địa phương, góp phần đẩy
mạnh, hoàn thiện việc thực hiện Quy chế dân chủ XHCN.
- Đề tài góp phần nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên,
nhân dân về văn hóa dân chủ, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn
dân, tạo động lực trong nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của
địa phương.
- Luận văn phân tích toàn diện, hệ thống vấn đề thực hiện QCDC làm
tài liệu tham khảo cho các cấp ủy đảng, chính quyền triển khai hiệu quả Quy
chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
- Sử dụng làm tài liệu phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng trong
Trường Chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, thị,
thành của tỉnh.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.

10
chức xã hội Nhà nước ra đời, trạng thái sơ khai của dân chủ dần bị tan rã. Với
sự xuất hiện của Nhà nước, quyền lực cộng đồng xã hội chuyển hoá thành
quyền lực Nhà nước. Dân chủ mang bản chất giai cấp và trở thành mục tiêu
đấu tranh, giành, giữ và phát triển của nhân loại.
Lịch sử của dân chủ cũng cho thấy các giai cấp thống trị khác nhau
hiện thực hoá chế độ dân chủ theo lập trường và lợi ích của mình. V.l Lê nin
tổng kết: “Chế độ dân chủ là một hình thức Nhà nước, một trong những hình
thái của Nhà nước. Cho nên cũng như mọi Nhà nước, chế độ dân chủ là việc
thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta” [40, tr.123].
Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển đổi quyền lực từ chế độ cộng
sản nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ là quyền lực của nhân dân được
thể hiện trong các tổ chức tự quản theo tập quán, truyền thống (của xã hội
cộng sản nguyên thuỷ) biến thành quyền lực của giai cấp thống trị (trong xã
hội chiếm hữu nô lệ) được thể chế hoá bằng chế độ nhà nước với sự cưỡng
bức là chủ yếu. Chế độ dân chủ gắn với một chế độ xã hội cụ thể và một giai
cấp cầm quyền nhất định, đó là chủ nô.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ phong kiến ra đời
thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ. Quyền lực xã hội bị thâu tóm vào tay nhà
vua, quyền dân chủ của nhân dân lao động bị thu hẹp.
Với sự phát triển của nền đại công nghiệp, thương nghiệp, quan hệ sản
xuất phong kiến dần bị xóa bỏ. Giai cấp tư sản ra đời, nền dân chủ tư sản xuất
hiện với nhiều mặt tiến bộ so với các chế độ dân chủ trước đó nhưng phạm vi
của nó chỉ bó hẹp trong một bộ phận là giai cấp tư sản. Khái niệm tự do, dân
chủ, bình đẳng bị che lấp bởi quan hệ bóc lột. Nhân dân lao động và người
nghèo vẫn chưa được hưởng quyền dân chủ thực sự.
Khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đánh đổ ách thống
trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền, thiết lập nền dân chủ XHCN, quyền
làm chủ của nhân dân mới trở thành thực chất.

hình thành. Trong giai đoạn đổi mới, Đảng tập trung lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ xây dựng và phát triển cơ sở vật chất cho nền dân chủ XHCN.

12
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận
dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể, trong
đó có tư tưởng về dân chủ. Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN ngày
càng được củng cố, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Về khái niệm Quy chế được hiểu: Mang tính chất ràng buộc. Tùy vào
phạm vi chức năng của cơ quan ban hành, quy chế có những tác động trong
phạm vi khác nhau.
Về khái niệm Quy chế dân chủ ở cơ sở: Đây là cụm từ viết tắt nói về
Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Như vậy: Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn là những quy định cụ
thể về trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc bảo đảm quyền và nghĩa
vụ, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân theo quy định của pháp luật;
đảm bảo để nhân dân được biết, được bàn, được thực hiện, được kiểm tra các
công việc của chính quyền cơ sở.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng dân chủ của
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin vào điều kiện cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh,
đã đề ra những quan điểm, giải pháp sát với yêu cầu thực tiễn, phù hợp với xu
thế khách quan để xây dựng một nền dân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng con người trong thời đại mới.
Khi bàn về vai trò dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời
không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực
lượng đoàn kết của nhân dân dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” [43,
tr.279]. Người cho rằng làm cách mạng phải biết dựa vào sức dân, dựa vào
quần chúng. Là cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn đức, luyện tài, cần,

chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà
nhân dân đã giao phó [22, tr.368].
Trong các bài viết, bài nói chuyện, Hồ Chí Minh luôn nghiêm khắc phê
bình tệ quan liêu, xa dân, độc đoán, gia trưởng, mất dân chủ của một bộ phận
cán bộ.

14
Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân, không để
cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc
dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến
và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ theo ý kiến của họ.
Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất bình [44, tr.334].
Người khẳng định “Có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn
mấy cũng làm được, không có thì việc gì cũng không xong. Dân chúng biết
giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà những
người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” [44, tr.335].
Trong Di chúc của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn
dặn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng
đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [43, tr.624].
Thực hiện tư tưởng của Người, hơn 82 năm qua, kể từ khi thành lập
đến nay (3/2/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân chủ là nội dung
quan trọng của đường lối cách mạng. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân đấu tranh thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn gắn bó mật thiết với nhau.
Nội dung dân chủ trong giai đoạn đầu của cách mạng là đem lại ruộng đất cho
dân cày. Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng đã lãnh đạo cách
mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cách mạng XHCN nhằm mục
đích giải phóng xã hội, giải phóng con người, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân ở trình độ cao hơn, toàn diện hơn để xây dựng một xã hội dân chủ,

hội công bằng, dân chủ, văn minh” [27, tr.22].
Để phát huy sức mạnh của nhân dân trong thời kỳ mới, Đại hội đề ra
chủ trương củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là
vấn đề thực hành dân chủ trong nội bộ các tổ chức. Đại hội xác định, thực
hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở
theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy dân chủ đại diện, quy

16
định cụ thể việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với các tổ chức và
cán bộ cơ sở; củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với
dân theo phương châm “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách
nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”.
Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhận thức về vấn đề dân chủ
và thực hành dân chủ trong Đảng, trong xã hội đã có nhiều bước phát triển
mới, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI sửa đổi (Điều 9) nêu rõ:
“Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội
dung cơ bản của nguyên tắc đó là: Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu
cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cơ quan lãnh đạo cao
nhất của Đảng là đại hội đại biểu toàn quốc…Tổ chức đảng và đảng viên phải
chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục
tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức…”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định:
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân
làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất
hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng

đã thảo luận và nhất trí thông qua Kết luận: “Một số vấn đề về tiếp tục đổi
mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở” và ban hành
Nghị quyết số 25 - NQ/TW, ngày 3 tháng 6 năm 2013 “Về tăng cường và đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Dân vận trong tình hình mới”.
Đây là những đột phá về nội dung, phương thức lãnh đạo, tăng cường phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò của Nhà nước, của MTTQ
và các đoàn thể nhân dân, từ đó tạo phong trào quần chúng rộng lớn.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Tư, lần thứ Bảy, khóa
XI là cơ sở tạo điều kiện cho Đảng ta mở rộng và phát huy dân chủ trong xã
hội, đưa việc thực hiện QCDC ở cơ sở trở thành nhiệm vụ thường xuyên,
cấp bách.

18
Một nội dung gần đây được dư luận thế giới ghi nhận là chủ trương bỏ
phiếu tín nhiệm trong Quốc hội và HĐND các cấp. Thông qua việc bỏ phiếu
tín nhiệm, mỗi đại biểu dân cử càng ý thức rõ hơn trách nhiệm của mình, thấy
được những mặt ưu để phát huy, mặt hạn chế để khắc phục. Tuy vẫn còn một
số ý kiến khác nhau về hiệu quả nhưng đây được xem là một kênh đánh giá
công minh, khách quan, cần tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.
Như vậy, dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là nội dung
xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.
Từ những phân tích trên cho thấy, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân
dân; dân là chủ và dân làm chủ xã hội. Quyền lực đó là tối cao. Trong xã hội
có giai cấp, quyền lực ấy được uỷ quyền cho giai cấp cầm quyền để tổ chức
thành quyền lực chính trị nhằm quản lý xã hội mà trung tâm quyền lực là Nhà
nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải lúc nào nhân dân lao động
cũng là chủ thể đích thực của quyền lực Nhà nước.
Dân chủ XHCN là một bước tiến trong quá trình phát triển và hoàn
thiện cơ chế thực thi dân chủ. Chỉ có chế độ dân chủ XHCN nhân dân lao
động mới thật sự là chủ và làm chủ. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động

nguyện vọng của mình bình đẳng, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, thành
phần xuất thân, địa vị xã hội Đây là hình thức hữu hiệu, tạo cho nhân dân
với tư cách là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Theo quy định của Hiến pháp hiện
hành, hình thức dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng phương thức sau: chế
độ bầu, bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND; quyền công dân tham
gia thảo luận các vấn đề chung, quan trọng của đất nước và của địa phương;
biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu dân ý [13, tr.21].
Dân chủ đại diện là hình thức cơ bản mà thông qua đó nhân dân thực
hiện quyền lực nhà nước, vận hành theo quy định của Hiến pháp. Theo cơ chế
này, nhân dân bầu ra cơ quan đại diện. Cơ quan đại diện trực tiếp nhận quyền
lực từ nhân dân nên còn được gọi là cơ quan quyền lực của Nhà nước; trong
đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, HĐND là cơ quan
quyền lực nhà nước của địa phương. Tính chất quyền lực nhà nước cao nhất

20
của Quốc hội thể hiện ở chỗ, Quốc hội thay mặt cho nhân dân cả nước quyết
định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước như lập hiến, lập pháp, các
chính sách cơ bản đối nội, đối ngoại, các nhiệm vụ KTXH, QPAN của đất
nước; thành lập các cơ quan nhà nước trung ương, quyết định những nguyên
tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, giám sát tối cao
đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Hội đồng nhân dân thay mặt cho
nhân dân địa phương quyết định các biện pháp nhằm xây dựng địa phương về
mọi mặt, đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống của
nhân dân, thành lập ra các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; thực
hiện quyền giám sát hoạt động của cơ quan này và các cơ quan khác đóng
trên địa bàn [13, tr.22].
Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện có quan hệ gắn bó hữu cơ với
nhau “Dân chủ trực tiếp phụ thuộc về năng lực nhận thức của mỗi người ;
Dân chủ đại diện phụ thuộc vào khả năng thực thi chức năng, nhiệm vụ của

CT/TW „„Về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở‟‟. Ngày 7/7/2003, Chính phủ thông qua Nghị định 79/2003/
NĐ-CP về “Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã” thay thế cho Nghị
định số 29/1998/NĐ - CP.
Để triển khai có hiệu lực, hiệu quả hoạt động dân chủ cấp xã, đồng
thời nâng tính pháp lý của việc thực hiện QCDC lên một bước mới, ngày
20/4/2007 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh 34 -
PL/UBTVQH về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thay thế cho Nghị
định 79/2003 - NĐ/CP. Đây là những văn bản pháp lý, tạo điều kiện cho nhân
dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời là cơ sở để Nhà nước giám
sát, bảo đảm quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân.
Có thể thấy, trong hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở của
Nhà nước ta hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện dân chủ
cấp xã có số lượng nhiều nhất và thường xuyên được Nhà nước ta sửa đổi, bổ
sung theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Điều đó nói lên rằng, cùng với
việc coi trọng vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở nói chung, Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm tới vấn đề thực hiện dân chủ cấp xã.

Trích đoạn Phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, khuyến khích, bảo vệ Chú ý tổng kết thực tiễn, trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương, đơn vị Quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Kiện toàn, củng cố Ban Chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status