Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn
là động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân ta
xây dựng.
Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, dựa vào dân, nên đã đa cách mạng nớc ta vợt qua mọi gian nan thử
thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn
diện đất nớc theo định hớng XHCN, dân chủ hóa đời sống xã hội đã đợc
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi,
trọng tâm. Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở.
Chính vì vậy mà ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 30
CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tiếp đó, ngày
15/5/1998, để cụ thể hóa Chỉ thị này, Thủ tớng Chính phủ ra Nghị định 29
NĐ/CP về ban hành "Quy chế thực hiện dân chủ ở xã" nhằm phát huy sức
sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội,
tăng cờng đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng
Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu "dân
giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Qua 3 năm triển
khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; mặc dầu thời gian còn ngắn, song
thực tế đã cho thấy những kết quả bớc đầu là rất quan trọng. Tuy vậy, vẫn
còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém nh: quyền làm chủ của nhân dân còn
bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực. Tệ quan liêu, cửa quyền, mệnh
lệnh, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn còn khá phổ biến
và nghiêm trọng mà cha đẩy lùi, cha ngăn chặn đợc. Phơng châm "dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chậm đi vào cuộc sống.
1
Do vậy báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng khóa VIII
tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục nêu rõ: "Thực
hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản
lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng. Khắc phục mọi
Các bài viết của các tác giả nhằm sơ kết, đánh giá bớc đầu nh:
"Thực hiện dân chủ ở xã - Mấy vấn đề đặt ra" của Trần Quang Nhiếp Tạp
chí Cộng sản, số 10, 1999, tr. 40-44; "Nhìn lại việc thực hiện thí điểm quy
chế dân chủ ở cơ sở" của Đỗ Quang Tuấn (2000), Tạp chí Dân vận, số
(1+2), tr. 10-11, 13; "Một số vấn đề đặt ra sau hai năm thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở" của Nguyễn Tiến Dũng, Tạp chí Công tác t tởng văn hóa,
số 6, 2000, tr. 15-18; "Kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, vấn đề
đặt ra và một số giải pháp" của Dơng Xuân Ngọc, Lu Văn Lan, Thông tin
Lý luận, số 9, 2000, tr. 26-30; "Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa
bàn nông thôn - kết quả bớc đầu và những vấn đề cần giải quyết" của Nguyễn
Quốc Phẩm, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10, 2000, tr. 32-37.
Một số bài viết góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc thực hiện và
đánh giá quá trình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Nh: "Củng cố các hình
thức dân chủ vì sự vững mạnh của Nhà nớc ta" của Đào Trí úc, Tạp chí
Nhà nớc và Pháp luật, số 1, 1998, tr. 3-4; "Dân chủ- một vấn đề thuộc bản
chất của Nhà nớc ta" của Đặng Xuân Kỳ, Tạp chí Quản lý nhà nớc, số 7,
1998, tr. 6-9; "Cơ sở lý luận - Thực tiễn của phơng châm dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra" và "Mấy vấn đề xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở"
của Đỗ Quang Tuấn, Tạp chí Cộng sản, số 8, 1998, tr. 8-12; "Những chỉ
dẫn của Lênin về đấu tranh chống quan liệu và thực hành dân chủ" của
Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Thông tin Lý luận, số 4, 1999), tr. 27-30
Các công trình đã đợc đăng thành sách, phân tích một cách sâu sắc,
phong phú cả nội dung lý luận và thực tiễn qua khảo sát ở các vùng, các địa
3
phơng nh: "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn" do Dơng Xuân Ngọc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000; "Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội ở nông
thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta" do
Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
"Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" do Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn
+ Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở trên địa bàn thành phố Vinh.
+ Vạch ra những nguyên nhân làm hạn chế quá trình thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh.
+ Đề xuất những phơng hớng, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh hiện nay.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh.
- Phạm vi nghiên cứu
Với điều kiện cho phép, đề tài chỉ nghiên cứu việc thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở xã, phờng thuộc Thành phố Vinh trong 3 năm qua.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
- Luận văn đợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận về dân chủ của chủ
nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và Nhà nớc
có liên quan đến đề tài, nhất là Chỉ thị 30CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị
định 29 của Chính phủ. Đồng thời, ngời viết cũng kế thừa có chọn lọc các
công trình và các bài viết của các tác giả khác đã đợc công bố.
5
Cơ sở thực tiễn:
Ngời viết đã tiến hành điều tra, nghiên cứu thực tiễn một số phờng,
xã thuộc Thành phố Vinh trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ 3 năm
qua đối chiếu so sánh với thực tiễn vấn đề chung trong phạm vi cả nớc.
Phơng pháp nghiên cứu
Vận dụng tổng hợp các phơng pháp lôgích và lịch sử, so sánh và
tổng hợp, đồng thời có sử dụng phơng pháp điều tra xã hội học để tiến hành
thực hiện luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Qua việc điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện quy
dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân; dân chủ là sự cai trị của nhân
dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền
lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự
nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con ngời.
Từ khi xuất hiện cho đến nay nội dung của khái niệm dân chủ đợc
chuyển hóa ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. "Dân chủ" có nghĩa chung là
quyền lực của ngời bình dân, quyền làm chủ xã hội, và làm chủ bản thân
con ngời, là quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội. Càng ngày, khái
niệm dân chủ càng đợc mở rộng nhiều hơn, mang nhiều nội dung mới mẻ
7
hơn, nó đợc gắn với ý thức chính trị, gắn với chính quyền của nhân dân, gắn
với tiến trình lịch sử của xã hội loài ngời. Đồng thời nó còn là giá trị xã hội
nhân văn, đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài ngời. Trong xã
hội cộng sản nguyên thủy, ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại, trớc sức
mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, để tồn tại và phát triển, con ngời
buộc phải gắn bó với nhau thành cộng đồng để tạo nên sức mạnh cộng
đồng. Và con ngời, ngay từ buổi đầu ấy đã sử dụng sức mạnh cộng đồng để
thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mu cầu hạnh phúc. Nhà nhân
chủng học ngời Mỹ đầu thế kỷ XIX L.Moóc gan đã nhận xét: "Toàn thể các
thành viên của Thị tộc đều là những ngời tự do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do
của nhau; họ đều có những quyền cá nhân ngang nhau - Cả tù trởng lẫn Thủ
lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền u tiên nào cả, họ kết thành
một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòng máu. Tự do,
bình đẳng, bác ái tuy cha bao giờ đợc nêu thành công thức, nhng vẫn là
những nguyên tắc cơ bản của Thị tộc" [28, 136].
Do kết quả của quá trình phát triển lực lợng sản xuất và phân công
lao động, xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu t nhân đối
với t liệu sản xuất ra đời; cùng với nó là sự xuất hiện giai cấp và một bộ
máy quyền lực đặc biệt thuộc về một số ngời ra đời - đó là nhà nớc.
Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nớc đã thừa nhận tham vọng đặc quyền
vẫn là nền dân chủ đợc xây dựng trên sự tớc đoạt dân chủ, tớc đoạt quyền tự
do chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp khác, nhằm bảo vệ tối đa lợi
ích của giai cấp t sản. Dân chủ t sản vì thế, không thể là mục đích cuối cùng
mà loài ngời hớng tới.
Chỉ có chế độ dân chủ vô sản, chế độ dân chủ đợc thiết lập trên cơ
sở của chế độ kinh tế, mà ở đó các t liệu sản xuất chủ yếu đã thuộc về toàn
xã hội, lực lợng sản xuất không hề tăng lên, sự đối kháng giai cấp đã bị thủ
tiêu thì quyền làm chủ của quần chúng nhân dân mới đợc thực hiện đầy đủ.
9
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khái quát những nét cơ bản về
dân chủ nh sau:
- Dân chủ là sản phẩm của xã hội loài ngời, gắn với giai cấp và đấu
tranh giai cấp.
- Dân chủ là một hình thái nhà nớc, mà ở đó thừa nhận quyền ngang
nhau của dân c trong việc xác định cơ cấu nhà nớc và quản lý xã hội.
- Dân chủ cũng đợc xem xét với t cách là phơng thức của phong trào
chính trị - xã hội của quần chúng, quyền hiện thực của nhân dân.
- Dân chủ với t cách là hệ thống quyền hành, tự do và trách nhiệm
của công dân đợc quy định bởi hiến pháp và pháp luật, là hình thức nhà nớc,
hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực xã hội.
- Dân chủ với t cách là chế độ chính trị Song với nghĩa chung
nhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Do đó, thớc đo
trình độ dân chủ của một chế độ nhà nớc đợc xác định bằng mức độ thực
hiện nguyên tắc toàn quyền thuộc về nhân dân, nhân dân tham gia quá trình
quản lý nhà nớc nh thế nào.
Dân chủ trong xã hội có đối kháng giai cấp luôn luôn chứa đựng sự
mâu thuẫn giữa bản chất giai cấp của giai cấp thống trị với tính nhân dân.
Trong xã hội t bản chủ nghĩa, yếu tố mang tính nhân dân tăng lên so với các
xã hội trớc, khiến cho mâu thuẫn giữa bản chất giai cấp của giai cấp t sản
cầm quyền với tính nhân dân (tính vô sản) của dân chủ càng trở nên gay
dân chủ nh luật định. Dân chủ XHCN là nền dân chủ toàn diện trên các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, t tởng. Thực chất của dân chủ XHCN là sự
tham gia một cách tích cực, thực sự bình đẳng và ngày càng rộng rãi của
những ngời lao động vào quản lý công việc của Nhà nớc và xã hội.
Là thành quả của quá trình hoạt động tự giác của quần chúng nhân
dân, dân chủ XHCN với t cách là quyền lực của nhân dân; đồng thời với t
11
cách là chế độ chính trị sẽ từng bớc hoàn thiện và phát huy vai trò, động lực
to lớn trong tiến trình cách mạng, dới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng mác
xít Lêninnít. Tất nhiên trình độ chín muồi của dân chủ XHCN tùy thuộc vào
trình độ trởng thành về "tính" XHCN của các mối quan hệ chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội; trong đó quan hệ kinh tế có vai trò quan trọng nhất, quyết
định nhất.
Dân chủ XHCN là một hình thái dân chủ do nhân dân lao động chủ
động thiết lập trong tiến trình đấu tranh cách mạng, dới sự lãnh đạo của giai
cấp công nhân, thông qua đội tiền phong chính trị của mình là Đảng cộng
sản. Trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", C.Mác và Ph.Ăngghen
đã chỉ rõ: "Giai cấp vô sản mỗi nớc trớc hết phải tự mình giành lấy chính
quyền, phải tự mình vơn lên thành giai cấp dân tộc" [26, 623-624], phải
giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nớc
(quyền lực dân chủ về chính trị) và tổ chức quyền lực đã giành đợc đó thành
nhà nớc vô sản, nhà nớc dân chủ vô sản, chế độ dân chủ vô sản, một chế độ
dân chủ tiến bộ, khác về chất so với chế độ dân chủ t sản.
Từ sau thắng loại của Cách mạng tháng Mời, Nhà nớc Xô viết - chế
độ dân chủ XHCN đầu tiên trên thế giới đã đợc thiết lập. Theo Lênin, "Chế
độ Xô viết là chế độ dân chủ ở mức cao nhất cho công nhân và nông dân;
đồng thời, nó có nghĩa là sự đoạn tuyệt với chế độ dân chủ t sản và sự xuất
hiện trong lịch sử thế giới, một chế độ dân chủ kiểu mới, tức là chế độ dân
chủ vô sản hay là chuyên chính vô sản" [38, 184].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Chế độ ta là chế độ dân
"Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm đợc.
Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên" [29, 293].
13
Bởi vậy, theo Ngời, dân chủ là dựa vào lực lợng quần chúng, đi
đúng đờng lối quần chúng. Dân chủ đối lập với quan liêu: "Chống tham ô,
lãng phí, quan liêu là dân chủ".
Không những chỉ có quan điểm dân chủ đúng đắn, mà Ngời còn
nhận thấy vai trò, tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ. Dân chủ
XHCN không có mục đích tự thân; hiểu dân chủ, thực hành dân chủ trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội là vì mục tiêu đem lại hạnh
phúc ấm no, tự do, bình đẳng cho mọi ngời dân lao động trong đời sống
một cách đích thực. Bởi vậy, Ngời nói: "Thực hành dân chủ là cái chìa khóa
vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn" [33, 249].
Trớc lúc "đi xa", trong bản Di chúc, với muôn vàn tình thơng yêu để
lại cho muôn đời con cháu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Toàn Đảng,
toàn dân ta, đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nớc Việt Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp
cách mạng thế giới". Nh vậy, dân chủ luôn là nội dung quan trọng trong t t-
ởng Hồ Chí Minh. Đây chính là cơ sở t tởng, lý luận giúp Đảng Cộng sản
Việt Nam vận dụng trong xây dựng nền dân chủ XHCN ở nớc ta.
Hơn 70 năm lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập và xây
dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta bao giờ cũng coi dân chủ là một nội dung
quan trọng trong đờng lối cách mạng của mình. Mở rộng dân chủ XHCN,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để
nhân dân ta vợt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lợc, lại
vừa là bản chất, là đặc trng của chế độ mới. Những yếu tố dân chủ, tinh
thần dân chủ, "lấy dân làm gốc", "coi dân là trọng" vốn đã hình thành trong
lịch sử dựng nớc và giữ nớc của nhân dân ta từ mấy ngàn năm trớc cũng đã
đợc Đảng ta kế thừa và phát huy trong điều kiện mới.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực
XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" [7, 19], "Thực hiện dân chủ
15
XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Đây
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới" [6, 90].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), tiếp tục
khẳng định "Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi
mới hệ thống chính trị ở nớc ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực
hiện phơng châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ
trơng, chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ
của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình
thức tự quản tại cơ sở" [8, 43]. Việc ban hành Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ
Chính trị và Nghị định 29 NĐ/CP (năm 1998) là sự cụ thể hóa quan điểm
đó của Đảng và Nhà nớc ta
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IXcủa Đảng (4/2001), đợc xem là
đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới. Tại Đại hội này, nội dung
dân chủ lại càng đợc coi trọng. Dân chủ đã đợc đặt trong những mục tiêu
của con đờng đi lên CNXH ở nớc ta, đó là: "độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH, dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [12,
22].
Nh vậy, nội dung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
luôn là nội dung quan trọng và nhất quán trong toàn bộ đờng lối cách mạng
của Đảng ta từ trớc tới nay, và đợc phát triển, nâng cao thêm qua các giai
đoạn cách mạng. Dân chủ gắn liền với "dân sinh", "dân trí"; dân chủ vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nói chung, của công cuộc đổi mới
nói riêng.
Qua hơn 15 năm đổi mới, thực hiện các Nghị quyết của Đảng,
quyền làm chủ của nhân dân đã đợc phát huy thêm một bớc; nhờ vậy mà
tiềm năng to lớn về vật chất, tinh thần và trí tuệ của nhân dân đợc khơi dậy.
Dân chủ đã đem lại cho nhân dân không phải những giá trị dân chủ trừu t-
ợng, mà bằng những kết quả cụ thể trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đời
Ngày nay, hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định: "Nớc chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng - Tỉnh chia
thành huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã. Thành phố trực thuộc
Trung ơng chia thành quận, huyện và thị xã. Huyện chia thành xã, thị
trấn. Thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành phờng và xã. Quận chia
thành phờng" [20, 184].
Trong bốn cấp chính quyền của bộ máy nhà nớc, chính quyền ph-
ờng, xã là cấp cơ sở; là nền tảng của xã hội, là nơi đông đảo nhân dân sinh
sống; là nơi nhân dân thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm
giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân c, bảo đảm đoàn kết,
giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trờng; là nơi nhân dân sản
xuất, kinh doanh, lao động, học tập; xã, phờng cũng là nơi nảy sinh nhiều
yêu cầu bức xúc hàng ngày của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội; cũng
là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc;
Do vậy, cũng là nơi nhân dân đang có nhiều đòi hỏi về quyền làm chủ; nơi
diễn ra sự tiếp xúc và thể hiện các mối liên hệ đan chéo nhau nh: Đảng với
dân, dân với dân, các tổ chức, các đơn vị kinh tế, xã hội với dân Các
phong trào hành động cách mạng của quần chúng, cũng nh các vấn đề dân
sinh, dân chủ, dân an đều thể hiện rõ nhất ở xã, phờng. Hồ Chí Minh khẳng
định: "Nền tảng của mọi công tác là cấp xã" và "Cấp xã là gần gũi dân nhất,
là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm đợc việc thì mọi công việc đều
xong xuôi" [29, tr. 317].
Vai trò của xã, phờng là rất quan trọng. Do vậy yêu cầu là phải thấy
đợc điểm giống và khác nhau của hai loại hình xã và phờng, có nh vậy, việc
chỉ đạo, Tổ chức thực hiện mới có hiệu quả.
Điểm giống nhau cơ bản là: Xã, phờng đều là đơn vị hành chính cấp
cơ sở, là nền tảng xã hội. Cơ cấu tổ chức, thiết chế xã hội của hệ thống
18
chính trị xã, phờng đều giống nhau. Vị trí, vai trò xã, phờng đều quan trọng
đối với sự hng vọng của quốc gia dân tộc
sẽ tạo điều kiện thực hiện QCDC cơ sở một cách sát thực, hiệu quả hơn; vị
trí của xã, phờng đối với phát huy quyền làm chủ của nhân dân càng cao
hơn.
Thực hiện dân chủ ở xã, phờng cũng sẽ góp phần thúc đẩy cải cách
hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính sao cho
sát thực, phù hợp với thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Thực hiện dân chủ ở
xã, phờng cũng là biện pháp phát huy và mở rộng dân chủ, đa nội dung
"dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" vào cuộc sống có hiệu quả cao hơn.
Nắm bắt đợc yêu cầu của thực tiễn; trải qua quá trình nghiên cứu,
tìm tòi, thử nghiệm. Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị ra chỉ thị số 30-CT/TW
về "Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở". Trên cơ sở đó ngày 11/5/1998
Chính phủ ra nghị định số 29/1998 NĐ/CP "Về việc thực hiện QCDC ở xã",
cùng với Chỉ thị số 22/1998 CT-TTg ngày 15/5/1998 "Về triển khai quy chế
thực hiện dân chủ ở xã", Chỉ thị số 24 CT-TTg ngày 19/6/1998 "Về việc
xây dựng và thực hiện hơng ớc, quy ớc của làng bản, thôn ấp, cụm dân c"
của Thủ tớng Chính phủ. Đây là những văn bản quan trọng do Đảng, Nhà n-
ớc ban hành. Tinh thần, cơ bản của chỉ thị và nghị định này là làm sao dân
chủ XHCN đợc mở rộng, quyền làm chủ của nhân dân đợc phát huy. Đó
cũng chính là mục tiêu, động lực bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng,
của công cuộc đổi mới.
1.1.2.2. Dân chủ ở xã, phờng - nội dung quan trọng của quá trình
dân chủ hóa
Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công
nhân, nền dân chủ rộng rãi nhất cho đại đa số nhân dân lao động; là nền dân
chủ phát huy tính tự giác, sáng tạo của mỗi cá nhân. Nền dân chủ này dựa
20
trên chế độ sở hữu mới -Sở hữu công cộng về t liệu sản xuất chủ yếu, nên
nó đợc đảm bảo một cách vững chắc.
Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề thuộc bản chất
của chế độ XHCN; là chủ trơng của Đảng, Nhà nớc ta; là mục tiêu và động
thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện; trong đó, ở cấp cơ sở, dân chủ
trực tiếp là quan trọng hơn cả. Quy trình "biết, bàn, làm, kiểm tra" là quy
trình phản ánh quá trình từ nhận thức đến hành động; qua kiểm tra, đánh
giá lại kết quả hành động, rồi tiếp tục nhận thức và hành động với kết quả
cao hơn. Đó cũng là sự thể hiện của quy trình lãnh đạo, quản lý của chế độ
do nhân dân làm chủ, từ khâu thu thập thông tin, hình thành chủ trơng,
chính sách đến kiểm tra, rồi tiếp tục thu thập thông tin mới cho một chu
trình quản lý mới.
Khác với DCTS, tính u việt của nền dân chủ XHCN thể hiện cao ở
cả bốn nội dung của phơng châm đều lấy "dân" làm "gốc", dân làm chủ thể.
Khái niệm "dân" ở đây, cần đợc nhận thức trong mối quan hệ đợc quy định
bởi cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nớc quản lý, nhân dân làm chủ: Mặt khác,
"nhân dân làm chủ" là mục tiêu của sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà
nớc đều hớng tới mục tiêu phát huy quyền làm chủ, sáng tạo của nhân dân
một cách rộng rãi. Cơ chế đó cũng có nghĩa là: Đảng lãnh đạo nhng dân
phải đợc biết, đợc bàn, đợc tham gia ý kiến và thực hiện đờng lối, chủ trơng
của Đảng; phải cùng tham gia kiểm tra cán bộ, đảng viên. Đây là đối tợng
quản lý của cơ quan Nhà nớc nhng dân phải đợc biết, đợc bàn, đợc tham gia
quản lý và phải cùng tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan và
cán bộ Nhà nớc.
"Biết", "bàn", "làm", "kiểm tra" ở đây đặt trong mối quan hệ với đ-
ờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc.
22
Biết trong ý nghĩa này, không phải là vấn đề nhận thức một cách
chung chung; không phải là toàn bộ vấn đề dân trí. "Biết" ở đây là quyền đ-
ợc thông tin một cách đầy đủ và trung thực. Qua sự nhận biết từ thông tin,
dân biết đợc quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó mới hiểu, mới có cơ sở để
bàn, để làm và để kiểm tra. Dovậy, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nớc và
hệ thống chính trị cơ sở là phải thông báo thờng xuyên, đầy đủ đờng lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc; những vấn đề kinh tế, xã hội
"Điều quan trọng hàng đầu là nâng chất lợng dân chủ trực tiếp một cách
thiết thực, đúng hớng và có hiệu quả" [9, 43].
Tại Hội nghị này, Đảng ta đã nhấn mạnh tính bức thiết của chế độ
dân chủ trực tiếp ở cơ sở là: Nghiên cứu thực hiện từng bớc chế độ dân chủ
trực tiếp, trớc hết ở cơ sở", đây là những việc làm cấp bách để mở rộng nền
dân chủ XHCN ở mọi ngành, mọi cấp trong giai đoạn hiện nay. Bởivì: Dân
chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền lực về
những vấn đề cơ bản, chính yếu của một tập thể, một cộng đồng. Cơ quan
quản lý có trách nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảo đảm đa nó vào thực thi
trong cuộc sống. Dân chủ trực tiếp khó tổ chức một cách tập trung, khái
quát nhng lại bao quát đợc mọi khía cạnh của thực tiễn đời sống, cũng nh ý
chí chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Do vậy, Đảng ta khẳng
định phải: "Nghiên cứu thực hiện từng bớc chế độ dân chủ trực tiếp, trớc hết
là ở cơ sở" [9, 47]. Vị trí, vai trò của dân chủ trực tiếp thể hiện trên những
điểm chính sau đây:
- Dân chủ trực tiếp bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phát
huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựng
nhà nớc và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đến
những việc của đời sống cộng đồng, đời sống dân c. Thông qua hình thức
24
dân chủ trực tiếp, nhân dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện để
tập dợt, trởng thành, trở thành ngời chủ đích thực hiện.
- Dân chủ trực tiếp tạo nên cơ chế đối trọng, kiểm tra, giám sát đối
với hình thức dân chủ đại diện, với bộ máy nhà nớc, giảm bớt đợc sự tùy
tiện, lộng quyền, phát huy đợc tính tự giác, tích cực của mỗi thành viên
trong tập thể, khắc phục thói trì trệ, ỷ lại; phát huy truyền thống tơng thân,
tơng ái, giúp đỡ lẫn nhau, tăng cờng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Vì
mục tiêu: "dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Dân
chủ trực tiếp là "hệ thống báo động" nhạy cảm nhất, những thông tin phản
hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đờng lối, chủ trơng của Đảng,