Một số vấn đề về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố việt trì, tỉnh phú thọ hiện nay - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC THỰC
HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT
TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

HÀ NỘI, 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC THỰC
HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT
TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học
GV. Chu Thị Diệp



Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong khóa luận này với đề tài là
“Một số vấn đề về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành
phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay” là của riêng tôi không trùng với kết quả
nghiên cứu của bất kỳ tác giả nào khác.
Trong quá trình làm đề tài có trích dẫn một số dẫn liệu của một số tác
giả. Tôi xin phép tác giả được trích dẫn bổ sung cho khóa luận. Tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm về kết quả của đề tài trước Hội đồng bảo vệ.

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2013
Người thực hiện

Nguyễn Thị Hải Yến



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn là
động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân ta
xây dựng.
Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi gian nan thử thách,
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước theo định hướng XHCN, dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng
Cộng Sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm.
Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở.
Chính vì vậy mà ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 30CT/TW
về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Tiếp đó, ngày 15/5/1998, để
cụ thể hóa Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 29NĐ/CP về ban

Có một số cuốn sách đề cập đến vấn đề này như:
Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo: “Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ
nghĩa”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991; Nguyễn Khắc Mai: “Dân chủ - di sản văn
hóa Hồ Chí Minh”, Nxb Sự thật, Hà Nội 1997; Lương Gia Ban: “Dân chủ và
việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003… Những
tác phẩm này đã nêu rõ thành công, hạn chế trong xây dựng và thực hiện nền
dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Nêu ra những
nguyên nhân, hạn chế và giải pháp khắc phục.
Công trình luận án, luận văn
Luận án: Lưu Minh Trị: “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến
sĩ, 1993; Nguyễn Văn Long: “Lệ làng truyền thống với việc hình thành ý thức
pháp luật cho nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Luận án tiến sĩ, 2002…

2


Luận văn: Trần Quốc Huy: Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ
sở ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật, Hà Nội, 2005; Lê Xuân Huy:
Ý thức pháp luật với quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện
nay (Qua thực tế một số tỉnh phía Bắc), Luận văn thạc sĩ Triết học, 2005.
Có thể thấy, đã có nhiều công trình viết dân chủ, dân chủ ở cơ sở với
phạm vi nghiên cứu khác nhau, có giá trị nghiên cứu khác nhau, làm rõ bản
chất, nội dung, tính chất, cơ chế thực hiện dân chủ và vai trò của việc mở rộng
quyền làm chủ của nhân dân đối với sự phát triển kinh tế xã hội và tiến bộ xã
hội. Một số công trình đã nghiên cứu vấn đề dân chủ ở cơ sở trên địa bàn
nông thôn. Song việc đưa ra những giải pháp nhằm thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cơ sở, đáp ứng nhu cầu dân chủ của người dân thời kỳ mở cửa hội nhập
còn nhiều ý kiến khác nhau.
Với đề tài nghiên cứu “Một số vấn đề về việc thực hiện quy chế dân

Với điều kiện cho phép, đề tài chỉ nghiên cứu việc thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở xã, phường thuộc TP. Việt Trì từ năm 1998 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận về dân chủ của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng Sản
Việt Nam về dân chủ và dân chủ cơ sở.
Phương pháp nghiên cứu:
- Khóa luận sử dụng một số phương pháp cụ thể như: lôgic và lịch sử, so
sánh và tổng hợp, phương pháp diều tra xã hội học.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Qua việc điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở trên địa bàn TP. Việt Trì, khóa luận khái quát một số kết quả
bước đầu, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của nó; đồng thời đề xuất
những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm tăng cường thực hiện quy chế

4


dân chủ phù hợp với điều kiện của địa bàn, phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
giảng dạy chuyên đề, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho các đối tượng
quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, khóa luận
còn gồm 2 chương, 7 tiết.
Chương 1: Thực hiện QCDC ở cơ sở với việc xây dựng nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp của việc thực hiện QCDC ở trên địa
bàn TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

6


với tiến trình lịch sử của xã hội loài người. Đồng thời nó còn là giá trị xã hội
nhân văn, đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài người. Trong xã
hội cộng sản nguyên thủy, ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại, trước sức
mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, để tồn tại và phát triển, con người
buộc phải gắn bó với nhau thành cộng đồng để tạo nên sức mạnh cộng đồng.
Và con người, ngay từ buổi đầu ấy đã sử dụng sức mạnh cộng đồng để thực
hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhà nhân chủng
học người Mỹ đầu thế kỷ XIX L.Moóc gan đã nhận xét: “Toàn thể các thành
viên của thị tộc đều là những người tự do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do của nhau;
họ đều có những quyền cá nhân ngang nhau - Cả tù trưởng lẫn Thủ lĩnh quân
sự đều không đòi hỏi những quyền ưu tiên nào cả, họ kết thành một tập thể
thân ái, gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòng máu. Tự do, bình đẳng, bác
ái tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức, nhưng vẫn là những nguyên
tắc cơ bản của Thị tộc” [8, tr.136].
Do kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao
động, xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu tư nhân đối với
tư liệu sản xuất ra đời; cùng với nó là sự xuất hiện giai cấp và một bộ máy
quyền lực đặc biệt thuộc về một số người ra đời - đó là nhà nước.
Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước đã thừa nhận tham vọng đặc quyền
đứng trên xã hội để giải quyết những vấn đề xã hội. Giai cấp chủ nô nhân
danh xã hội, chiếm đoạt nhà nước, biến nhà nước thành công cụ thực hiện
quyền lực chính trị của mình. Nhà nước chủ nô chính là hình thức, hình thái
đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp. Dân chủ chủ nô đã đem
lại cho loài người một mô hình về mặt tổ chức và cơ chế vận hành của một
thể chế dân chủ.
Theo quy luật phát triển của xã hội loài người, chế độ dân chủ sau phải
cao hơn chế độ dân chủ trước; kiểu nhà nước sau phải tiến bộ hơn kiểu nhà

sản, xóa bỏ mọi hình thức áp bức, bóc lột, xóa bỏ giai cấp nói chung, xây

8


dựng một xã hội trong đó sự phát triển tự do của mỗi con người là điều kiện
cho sự phát triển tự do của mỗi con người.
Mặc dù C.Mác và Ph. Ăngghen chưa có điều kiện thực tế để có thể bàn
luận vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở nhưng có thể xem tư tưởng về nền dân
chủ hiện thực cũng như tư tưởng về liên minh công nông trong cách mạng vô
sản là căn cứ lý luận làm nền tảng cho việc tạo lập thể chế chính trị dân chủ
XHCN, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở các
nước quá độ đi lên CNXH từ một nền kinh tế thuần nông như Việt Nam.
Là người kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph. Ăngghen trong thời đại
đế quốc chủ nghĩa, V.I .Lênin đã vận dụng sáng tạo những tư tưởng của
C.Mác về dân chủ vô sản vào thực tiễn cách mạng Nga. Từ thực tiễn sinh
động của tiến trình cách mạng Nga, người đã nêu lên những luận điểm
quan trọng vừa có ý nghĩa định hướng cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp
công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa trong thời đại mới, vừa mang
tính thực tiễn chỉ đạo việc tổ chức xây dựng một nền dân chủ cao hơn, rộng
rãi hơn so với dân chủ tư sản.
Khẳng định sự thống nhất, không tách rời giữa dân chủ và CNXH, V.I.
Lênin cũng nghiêm khắc phê phán những quan điểm phiến diện, phi lịch sử
khi đối lập giữa dân chủ và chuyên chính, từ đó xóa nhòa sự khác biệt về chất
giữa dân chủ tư sản và dân chủ vô sản. V.I Lênin cũng nhận thấy rằng, bất cứ
nhà nước nào cũng có nguy cơ dẫn đến chủ nghĩa quan liêu. Dân chủ không
thể tương dung với quan liêu. Vì vậy, tổ chức bộ máy quyền lực, phương thức
hoạt động của các thành viên, các nhân viên trong bộ máy ấy phải được
thường xuyên hoàn thiện theo hướng ngăn ngừa, hạn chế và kiên quyết chống
chủ nghĩa quan liêu.

Nam trong thế kỷ XX. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng
dân chủ của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam, người không chỉ nêu lên hệ thống lý luận những quan điểm về vai trò,

10


bản chất của dân chủ mà còn chỉ ra những giải pháp quan trọng nhằm xây
dựng một nền dân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng con người ở Việt Nam trong thời đại mới từ sau
Cách mạng tháng Mười Nga.
Hồ Chí Minh là người đã thấy rõ sức mạnh của dân: “ Trong bầu trời,
không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng
đoàn kết của nhân dân”. Và chính người đã huy động sức mạnh của toàn dân
trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, góp phần đưa dân tộc Việt Nam từ
nô lệ tới độc lập tự do, đưa nhân dân ta lên địa vị làm chủ đất nước, làm chủ
xã hội. Người luôn tìm mọi cách để làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân
chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Việc giáo dục dân
tự ý thức được vai trò làm chủ xã hội ở một dân tộc hàng ngàn năm bị phong
kiến phương bắc đô hộ, hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân thống trị và
trình độ dân trí thấp như nước ta là điều người luôn trăn trở, dồn hết tâm lực
để tranh đấu, thực hiện. Với Hồ Chí Minh “dân chủ là của quý báu nhất của
nhân dân”, thực hành dân chủ rộng rãi là chiếc chìa khóa vạn năng để giải
quyết mọi khó khăn. Từ việc khẳng định địa vị pháp lý (dân là chủ) đến việc
thực hóa lý tưởng đó, người luôn đòi hỏi phải nâng cao vai trò, năng lực
không chỉ của chủ thể lãnh đạo, quản lý trong việc hoàn thiện thể chế, cơ chế
mà quan trọng hơn nữa là tạo mọi điều kiện cho nhân dân đủ năng lực và bản
lĩnh làm chủ. Là nhà tư tưởng, nhà tổ chức của cách mạng Việt Nam, người
đã giải quyết thấu tình, đạt lý những nội dung đó. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh
thấy rõ dân chủ là động lực, là sức mạnh để xây dựng một xã hội ấm no, hạnh

của Đảng mác xít Lêninít. Tất nhiên trình độ chín muồi của dân chủ XHCN
tùy thuộc vào trình độ trưởng thành về “tính” XHCN của các mối quan hệ
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; trong đó quan hệ kinh tế có vai trò quan
trọng nhất, quyết định nhất.

12


Dân chủ XHCN là một hình thái dân chủ do nhân dân lao động chủ
động thiết lập trong tiến trình đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của giai
cấp công nhân, thông qua đội tiền phong chính trị của mình là Đảng cộng sản.
Trong tác phẩm “ Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
chỉ rõ: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự mình giành lấy chính
quyền, phải tự mình vươn lên thành giai cấp dân tộc” [7,tr. 623-624], phải
giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước
(quyền lực dân chủ về chính trị) và tổ chức quyền lực đã giành được đó thành
nhà nước vô sản, nhà nước dân chủ vô sản, chế độ dân chủ vô sản, một chế độ
dân chủ tiến bộ, khác về chất so với chế độ dân chủ tư sản.
Ở nước ta, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được
thiết lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước ta là Nhà
nước của dân, do dân, vì dân, chế độ ta là chế độ do nhân dân làm chủ. Mỗi
công dân đều có quyền và nghĩa vụ tham gia làm chủ đất nước, làm chủ xã
hội, và làm chủ bản thân mình. Những luận điểm cơ bản ấy đã được nêu rõ
trong các nghị quyết của Đảng, trong các hiến pháp của Nhà nước, và được
thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật, nhiều chính sách được ban hành từ
trước đến nay. Những điều đó cũng khẳng định dân chủ là vấn đề thuộc bản
chất của chế độ XHCN nói chung, của Nhà nước ta nói riêng.
1.2. Xây dựng QCDC ở cơ sở là yêu cầu cấp bách trong việc xây dựng
nền dân chủ XHCN ở Việt Nam

quyết mọi khó khăn”. [12, tr.249].
Trước lúc “đi xa”, trong bản Di chúc, với muôn vàn tình thương yêu để
lại cho muôn đời con cháu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Toàn Đảng,
toàn dân ta, đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp
cách mạng thế giới”. Như vậy, dân chủ luôn là nội dung quan trọng trong tư

14


tưởng Hồ Chí Minh. Đây chính là cơ sở tư tưởng, lý luận giúp Đảng Cộng
Sản Việt Nam vận dụng trong xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, ở giai đoạn cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân trước đây cũng như giai đoạn cách mạng XHCN ở nước
ta hiện nay, Đảng ta luôn xác định dân chủ là một trong những mục tiêu và
động lực cơ bản của cách mạng Việt Nam. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
trước đây đã cơ bản hoàn thành với việc đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành
lại độc lập cho dân tộc, đánh đổ chế độ phong kiến, nhưng nhiều nội dung của
cách mạng dân chủ vẫn phải tiếp tục. Do vậy, bước vào công cuộc đổi mới,
Đảng ta xác định xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN là yêu cầu khách
quan của công cuộc đổi mới.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực
hiện Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hai mục tiêu dân tộc và dân chủ
gắn bó chặt chẽ với nhau ngay từ buổi khởi đầu sự nghiệp cách mạng do
Đảng lãnh đạo. Nội dung dân chủ trong giai đoạn cách mạng trước chủ yếu
là đem lại ruộng đất cho dân cày - thành phần đông đảo nhất trong dân cư.
Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng ta lãnh đạo đất nước
chuyển sang giai đoạn cách mạng mới - cách mạng XHCN. Làm cách mạng
XHCN chính là giải phóng xã hội, giải phóng con người, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân ở trình độ hoàn thiện và toàn diện hơn, xây dựng một

mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực
hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ
trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ
của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức
tự quản tại cơ sở” [3, tr.43]. Việc ban hành Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ Chính
trị và Nghị định 29 NĐ/CP (năm 1998) là sự cụ thể hóa quan điểm đó của
Đảng và Nhà nước ta.

16


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001), được xem là
đâị hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới. Tại Đại hội này, nội dung dân
chủ lại càng được coi trọng. Dân chủ đã được đặt trong những mục tiêu của con
đường đi lên CNXH ở nước ta, đó là: “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [5, tr.22].
Như vậy, nội dung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn
là nội dung quan trọng và nhất quán trong toàn bộ đường lối cách mạng của
Đảng ta từ trước đến nay, và được phát triển, nâng cao thêm qua các giai đoạn
cách mạng. Dân chủ gắn liền với “dân sinh”, “dân trí”; dân chủ vừa là mục tiêu,
vừa là động lực cách mạng nói chung, của công cuộc đổi mới nói riêng.
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, quyền làm chủ của nhân dân đã
được phát huy thêm một bước; nhờ vậy mà tiềm năng to lớn về vật chất, tinh
thần và trí tuệ của nhân dân được khơi dậy. Dân chủ đã đem lại cho nhân dân
không phải những giá trị dân chủ trừu tượng, mà bằng những kết quả cụ thể
trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội. Dân chủ đã trở thành nhu
cầu khách quan đi liền với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, là yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; dân chủ cũng là vấn đề
nhạy cảm, hết sức phức tạp. Trong những năm qua, mặc dầu đã có những
thành tựu nhất định. Song, “quyền làm chủ của nhân dân vẫn bị vi phạm ở

nay nhất là trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa nông thôn và nông nghiệp
với cơ cấu kinh tế, phân công và phân công lại lao động xã hội, ttoor chuwacs
và xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng nông thôn, với xu hướng đô thị
hóa nông dân và nông thôn làng xã ở nước ta đang diễn ra những biến đổi
mạnh mẽ. Quy mô số dân ở nước ta thường chia làm 3 loại: xã nhỏ dưới 5.000
dân, xã trung bình từ 5.000 đến 7.000 dân, xã lớn có tới 10.000 dân. Lại có xã
có số dân rất lớn tới 15.000 - 20.000 và trên 30.000. Có những xã mà số dân
lên đến 44.707 người như xã Trung Nhất, huyện Thốt Nốt tỉnh Cần Thơ và
cũng có xã có 136 người như xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng

18


Bình. Đây là xã đông dân nhất và ít dân nhất nước ta. Hiện nay, ở nước ta còn
khoảng 1.700 xã nghèo, trong đó có gần 1.000 xã đặc biệt khó khăn về giao
thông, về kết cấu hạ tầng, về trình độ phát triển kinh tế- xã hội và sự lạc hậu
về phong tục, tập quán, lối sống chưa được cải tạo, khắc phục. Điều đó chứng
tỏ tầm quan trọng của dân chủ cho nông dân và sự cần thiết phải thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở ở làng xã nước ta. Sự việc Thái Bình từ 1994 đến
1997 là một ví dụ điển hình, một sự cảnh báo đối với thể chế.Vì vậy, chỉ có
mở rộng dân chủ XHCN, phát huy sức mạnh quyền làm chủ của nhân dân,
chống tiêu cực, chống suy thoái, chống tham nhũng, củng cố Đảng, làm trong
sạch bộ máy nhà nước, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội...mới có thể tạo
động lực to lớn xây dựng và phát triển đất nước.
Nhận thức được những vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta đã không
ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của các tổ chức chính trị xã hội.
Việc thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được
tiến hành dưới nhiều cấp độ, nhiều hình thức. Trong đó, thực hiện dân chủ cơ
sở nói chung, ở phường, xã nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng; có ý nghĩa
vừa cấp bách, vừa lâu dài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status