mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất, mà còn là mục tiêu và động lực để thực
hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nớc ta theo định hớng XHCN. Không thể có
một CNXH thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn [38, tr.324]. Vì
vậy, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề
cấp thiết. Chỉ có phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân trong quá trình
hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trơng của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nớc theo phơng châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra mới
huy động đợc sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc.
Đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, những năm qua, Đảng và
Nhà nớc ta đã ban hành nhiều Nghị định, Chỉ thị quan trọng nhằm phát huy
quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân để phát triển kinh tế, ổn định chính
trị, phát triển xã hội: Chỉ thị 30- CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Chỉ thị 22/1998/CT-TTg của Thủ tớng Chính phủ
về việc triển khai thực hiện QCDC ở xã; Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính
phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Đây là một bớc tiến lớn thể hiện
sự quyết tâm củng cố, hoàn thiện và phát triển nền dân chủ XHCN của Đảng và
Nhà nớc ta, đồng thời cũng là phơng thức giải quyết các nhiệm vụ, mục tiêu
chung của đất nớc trong công cuộc đổi mới.
Việc triển khai thực hiện các chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc
về QCDC ở cơ sở trên phạm vi cả nớc, thời gian qua, đã thu đợc nhiều thành tựu
quan trọng, thu hút đợc sự quan tâm hàng ngày của tất cả các tầng lớp xã hội.
Điều đó chứng tỏ đây là một chủ trơng đúng đắn, hợp lòng dân, đáp ứng đợc nhu
cầu bức thiết và lợi ích to lớn, trực tiếp của đông đảo quần chúng nhân dân lao
động, đợc nhân dân phấn khởi đón nhận và tích cực thực hiện.
Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tình hình
thực hiện QCDC ở cơ sở vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm: một số nơi, việc
xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở cha đạt yêu cầu, quyền làm chủ của nhân
tộc Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, số 35 (12/2003). Trong bài viết này, tác giả
khẳng định thực hiện dân chủ ở cơ sở là một khâu rất quan trọng nhằm hoàn
thiện cơ chế nhân dân làm chủ xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Theo
tác giả, đây là một vấn đề không chỉ mang ý nghĩa thời sự mà còn là một sự tiếp
nối truyền thống, phát huy sức mạnh của dân đợc hình thành trong lịch sử mấy
nghìn năm đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta.
- PGS.TS Trần Khắc Việt: "Thực hiện dân chủ ở nớc ta hiện nay: Vấn đề
đặt ra và giải pháp", Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2004. Tác giả chỉ ra những
vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội ở nớc ta,
5
đồng thời đa ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy dân chủ trong tình hình
hiện nay.
- TS. Đoàn Minh Huấn "Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và quá trình
mở rộng dân chủ XHCN ở nớc ta", Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2004. Tác giả
làm rõ vai trò, đặc trng của dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, qua đó khẳng
định: trong giai đoạn hiện nay, muốn mở rộng dân chủ XHCN ở nớc ta, cần phát
huy đúng đắn u thế của mỗi hình thức dân chủ, đồng thời cần có sự kết hợp chặt
chẽ dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Ngoài ra còn có một số luận văn đã bàn về vấn đề triển khai QCDC ở cơ
sở tại địa phơng nh: Nguyễn Minh Thi: "Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại
các vùng nông thôn miền núi của tỉnh Bắc Giang hiện nay", Luận văn thạc sĩ
CNXHKH bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2000. Phan
Văn Bình: "Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Vinh -
Những vấn đề đặt ra và giải pháp", Luận văn thạc sĩ CNXHKH bảo vệ tại Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2001. Nguyễn Thanh Sơn: "Thực hiện
QCDC ở xã trên địa bàn tỉnh Sơn La - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc
sĩ CNXHKH bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2003.
ở Bến Tre, cho đến nay, ngoài "Báo cáo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị
30-CT/TƯ của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở 1998-2003" của Tỉnh ủy, cha có công trình khoa học nào đề cập
pháp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp và so sánh, đồng thời sử dụng phơng
pháp điều tra xã hội học để thực hiện luận văn.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Qua điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở
trên địa bàn tỉnh Bến Tre, khái quát những thành tựu bớc đầu; những hạn chế và
nguyên nhân của nó; chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn trong quá trình triển khai
thực hiện; đồng thời đề xuất những phơng hớng và những giải pháp cụ thể, phù hợp
với đặc điểm tình hình của địa phơng, góp phần đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực
hiện dân chủ ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới của tỉnh.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Vấn đề dân chủ ở cơ sở, hiện nay ở nớc ta, luôn là một vấn đề chính trị -
xã hội nhạy cảm và bức xúc. Việc nghiên cứu thực tiễn ở từng địa bàn khác nhau
trong quá trình thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, tổng kết kinh nghiệm, xác
định điểm tơng đồng (phổ biến) và nét đặc thù của từng vùng, miền; bổ sung lý
luận về xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở Việt Nam giai đoạn hiện
nay là rất cần thiết.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng
dạy chuyên đề; đồng thời cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ
quan chức năng trong việc tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện dân
chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
7
7. Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục
tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng, 7 tiết.
8
Chơng 1
Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là một phơng thức
phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nớc ta
1.1. Nhận thức chung về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.1. Chế độ dân chủ là sản phẩm của một quá trình lịch sử không
ngừng hoàn thiện phơng thức thực thi dân chủ
một hình thức tổ chức mới mang tính chất là công cụ bạo lực nhằm điều chỉnh
các quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp ra đời - đó là Nhà nớc. Với sự xuất hiện của
Nhà nớc, một tổ chức đại biểu cho quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô lập ra
để bảo vệ lợi ích của nó, quyền lực cộng đồng xã hội chuyển hoá thành quyền
lực nhà nớc. Dân chủ mang tính giai cấp ngay trong bớc chuyển đó, cũng từ đó, nó
trở thành mục tiêu đấu tranh, giành, giữ và phát triển của nhân loại.
Lịch sử của dân chủ cũng cho thấy các giai cấp thống trị khác nhau
trong xã hội đã nhận thức, hiện thực hoá chế độ dân chủ theo lập trờng và lợi
ích của mình. V.I.Lênin tổng kết Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nớc, một
trong những hình thái của Nhà nớc. Cho nên, cũng nh mọi nhà nớc, chế độ dân
chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cỡng bức đối với ngời ta[41,
tr.123]. đặc trng cơ bản của quá trình chuyển đổi quyền lực từ chế độ cộng sản
nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ là quyền lực của nhân dân đợc thể
hiện trong các tổ chức tự quản theo tập quán, truyền thống (của xã hội cộng sản
nguyên thuỷ) biến thành quyền lực của giai cấp thống trị (trong xã hội chiếm
hữu nô lệ) đợc thể chế hoá bằng chế độ nhà nớc với sự cỡng bức là chủ yếu. Lần
đầu tiên trong lịch sử, dân chủ mang tính giai cấp, chế độ dân chủ gắn với một
chế độ xã hội cụ thể và một giai cấp cầm quyền nhất định. Nhà nớc chủ nô ra đời
trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Athen, Hy Lạp cổ đại. Giai cấp chủ nô đã nhân
danh xã hội, chiếm đoạt Nhà nớc, biến Nhà nớc thành công cụ thực hiện quyền
lực của riêng mình, làm cho tính chất dân chủ bị giới hạn trong giai cấp chủ nô
và lớp ngời tự do, không có dân chủ cho những nô lệ, thậm chí họ còn không có
quyền là con ngời và bị coi là những công cụ biết nói.
Cũng từ nguyên nhân sâu xa là sự phát triển của lực lợng sản xuất, chế độ
phong kiến ra đời thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ. Ngời nô lệ đợc giải phóng và
không hoàn toàn thuộc sở hữu của chủ nô. Tuy nhiên, họ vẫn cha thoát khỏi cảnh
bị áp bức bóc lột của giai cấp thống trị, của vơng quyền và thần quyền, cả về vật
chất lẫn tinh thần. Về hình thức, giai đoạn này đợc xem là một bớc tiến của lịch
sử, nhng thực chất lại là bớc lùi trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân
lao động. Nó chẳng những không khắc phục đợc tình trạng mất dân chủ do chế
lập không những vào việc bầu cử và tuyển cử, mà cả việc quản lý hàng
ngày nữa [39, tr.143].
Là thành quả của quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động, nền dân chủ XHCN đợc thiết lập sau thắng lợi của cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Chế độ dân chủ XHCN dân chủ gấp triệu lần so với bất cứ chế
độ dân chủ t sản nào [45, tr.312-313] vì nó thực sự coi nhân dân là chủ thể tối
cao của quyền lực. Mục đích cao nhất của dân chủ XHCN là giải phóng con ngời
và toàn thể loài ngời, xây dựng một xã hội không có giai cấp, không có áp bức
bóc lột, mọi ngời đều bình đẳng, thực hiện tự do của mỗi ngời là điều kiện cho
sự tự do của mọi ngời. Dân chủ XHCN gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng
11
giai cấp, giải phóng con ngời, vì sự tiến bộ xã hội. Trong Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen vạch rõ rằng một khi những ngời cộng sản hoàn
thành mục tiêu chính trị của mình, thì dân chủ không còn mang tính hình thức
nữa, mà đi vào cuộc sống. Giá trị về dân chủ, tự do và công bằng của ngày hôm
qua mang ý nghĩa mới về chất trong một tơng lai không còn sự phân cực xã hội
gay gắt nữa.
Mặt khác, giai cấp công nhân còn lãnh đạo nhân dân lao động đập tan bộ
máy nhà nớc cũ, thiết lập một cơ chế mới để nhân dân tham gia xây dựng một xã
hội mới công bằng, dân chủ, văn minh. Theo C.Mác một nền dân chủ thật sự
phải gắn liền với sự nghiệp của nhân dân chế độ dân chủ là câu đố đã đợc giải
đáp của mọi hình thức chế độ nhà nớc ngày càng hớng tới cơ sở hiện thực của
nó, tới con ngời hiện thực, nhân dân hiện thực, và đợc xác định là sự nghiệp của
bản thân nhân dân[50, tr.349]. Cho nên, ngay trong quá trình cách mạng giai
cấp vô sản ở mỗi nớc trớc hết phải tự mình giành lấy chính quyền, phải tự mình
vơn lên thành giai cấp dân tộc[51, tr.623-624]. Giành lấy chính quyền với ý
nghĩa là giành lấy dân chủ, giành lấy quyền lực nhà nớc và tổ chức quyền lực đó
thành Nhà nớc dân chủ vô sản. Nhà nớc đó sẽ là chế độ thi hành ngay lập tức
những biện pháp để chặt tận gốc chế độ quan liêu và sẽ có thể thi hành những
biện pháp ấy tới cùng, tới chỗ hoàn toàn phá huỷ chế độ quan liêu, tới chỗ hoàn
Quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ
Cội nguồn sâu xa của t tởng dân chủ Hồ Chí Minh là truyền thống trọng
dân, nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vai trò, sức mạnh của nhân dân dân là nớc,
nớc có thể đẩy thuyền nhng cũng có thể lật thuyền. Bởi vậy, Ngời cho rằng làm
cách mạng phải biết dựa vào sức dân, lực lợng quần chúng, vì dân là cội nguồn
của sức mạnh, là gốc của nớc, căn cứ vững chắc của cách mạng dễ mời lần, không
dân cũng chịu; khó trăm lần, dân liệu cũng xong[56, tr.212]. Thực tiễn quá trình
cách mạng nớc ta đã chứng minh dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm đợc. Dân
chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không xong [56, tr.213]. Cho nên, Ngời luôn
luôn khuyên bảo cán bộ đảng viên không ngừng rèn đức, luyện tài, cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô t, chống tham ô, lãng phí, xây dựng một thiết chế vững mạnh
để thực hành dân chủ. Dân chủ là cái chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó
khăn[56, tr.249].
Tiếp thu, vận dụng những t tởng dân chủ của chủ nghĩa Mác-Lênin vào
quá trình cách mạng ở Việt Nam, đồng thời kế thừa những yếu tố dân chủ trong
truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh phát triển sáng tạo quan điểm dân chủ và
dân chủ xã hội chủ nghĩa, rằng: dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ.
Theo Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là: thứ nhất, dân là chủ nớc ta là nớc dân
chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ[54, tr.515]; thứ hai, dân làm chủ nớc
ta là nớc dân chủ, nghĩa là Nhà nớc do nhân dân làm chủ [55, tr.452]; thứ ba,
dân chủ là toàn bộ quyền lực, lợi ích đều thuộc về nhân dân và đợc thực hiện qua
các tổ chức quần chúng:
13
Nớc ta là một nớc dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của nhân
dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân nh Hội đồng nhân dân,
Mặt trận, Công đoàn, Hội Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc
Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực
quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ [54, tr.66].
Bởi vậy, trớc lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho đời sau, Ngời đã căn dặn
Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nớc Việt Nam hoà
[26, tr.142], trong đó, việc xây dựng Nhà nớc XHCN của dân, do dân, vì dân, có
khối liên minh công - nông - trí là nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo là một
nhiệm vụ quan trọng. Nó chính là cơ chế đảm bảo và phát huy cao nhất quyền
làm chủ của nhân dân lao động.
Đại hội VIII(1996), với những thành công từ đại hội VII, Đảng ta tiếp
tục khẳng định quan điểm:
Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi
mới hệ thống chính trị ở nớc ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để
thực hiện phơng châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với
các chủ trơng, chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc. Thực hiện tốt cơ
chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực
tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở [13, tr.43].
Đại hội IX của Đảng(2001), Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi
mới, Đảng ta đã tổng kết toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng (từ 1930 đến
2001), 15 năm đổi mới (1986-2001), 10 năm thực hiện Cơng lĩnh Đại hội
VII(1991-2001). Trên cơ sở đó, Đảng đã khái quát t tởng lớn về những vấn đề
của cách mạng Việt Nam; trong đó, t tởng coi sức mạnh của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, sức mạnh làm chủ của nhân dân là động lực chủ yếu để thực hiện
thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thể hiện sự kiên định và quyết tâm
tiếp tục phát triển nền dân chủ XHCN trong tình hình mới. Đảng ta khẳng định
sự nghiệp đổi mới là vì lợi ích của nhân dân, do nhân dân thực hiện, do đó, là sự
nghiệp của chính nhân dân[14, tr.81].
để phát huy sức mạnh của nhân dân trong thời kỳ đổi mới, Đại hội đã đề
ra chủ trơng củng cố và nâng cao chất lợng hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là
vấn đề thực hành dân chủ trong nội bộ các tổ chức của nó; thực hành dân chủ
thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc
tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở thực hiện
quyền dân chủ trực tiếp, phát huy dân chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực
hiện quyền giám sát của dân đối với các tổ chức và cán bộ cơ sở, thay thế ngời
động đợc làm chủ thực sự. Đảng ta khẳng định, Toàn bộ tổ chức và hoạt động
của hệ thống chính trị nớc ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bớc
hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân[20, tr.8-
19] và, Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao
động làm chủ. Từ trong bản chất của nó, dân chủ XHCN là nền dân chủ của
nhân dân, do nhân dân xây dựng nên và vì lợi ích của nhân dân. Là thành quả
của quá trình đấu tranh cuả GCCN và nhân dân lao động, nền dân chủ XHCN đ-
ợc thiết lập sau thắng lợi của cách mạng XHCN, trong đó, Nhà nớc XHCN là trụ
cột bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân.
Trong nền dân chủ XHCN ở nớc ta, Nhà nớc là công cụ quyền lực để
thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân. Cán bộ công chức nhà nớc là công
16
bộc của dân. Sự nghiệp chính trị của chúng ta chính là tạo ra Nhà nớc của dân,
trên cơ sở đó mà vì dân, thực hiện ý chí và quyền lực của dân. Chỉ có dựa vào
sức mạnh của nhân dân, mở rộng dân chủ mới xây dựng đợc chính quyền trong
sạch, vững mạnh, tạo động lực to lớn cho sự phát triển của đất nớc và chế độ xã
hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân. Vì vậy, Đảng
ta xác định Nhà nớc xã hội chủ nghĩa - Nhà nớc kiểu mới là Nhà nớc của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân, là tổ chức và thể hiện và thực hiện ý chí, quyền
lực của nhân dân. Nhân dân là chủ thể của tất cả mọi quyền lực Nhà nớc cộng
hoà XHCN Việt Nam là Nhà nớc của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân [28, tr.137].
Bản thân các cơ quan nhà nớc XHCN tự nó không có quyền mà chỉ đợc
sự uỷ quyền từ nhân dân. Cái mà nhân dân uỷ thác là quyền quản lý nhà nớc. Do
đó, nhân dân, với t cách là ngời chủ sở hữu quyền lực nhà nớc, có quyền và
nghĩa vụ giám sát tình hình thi hành quyền lực đã uỷ thác và Nhà nớc phải thờng
xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân thực
hiện và phát huy quyền làm chủ của mình. Đảng ta khẳng định Nhà nớc có mối
liên hệ thờng xuyên và chặt chẽ với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có
cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng,
hiện đại, nên còn tâm lý tự ty, thụ động, trông chờ, tách rời quyền lợi và nghĩa
vụ Cả cán bộ và nhân dân đều cha coi trọng dân chủ, thậm chí có cả biểu hiện
thờ ơ với nó và làm cho những giá trị cao cả của dân chủ XHCN cha thể bộc lộ.
Vì vậy, trong giai đoại đổi mới, Đảng ta đã phải lãnh đạo thực hiện một
quá trình kép: vừa phải xây dựng và phát triển những cơ sở vật chất cho nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, vừa phải từng bớc định hình các giá trị tốt đẹp của dân chủ
XHCN trong thực tiễn công cuộc đổi mới. Việc ban hành Quy chế thực hiện dân
chủ ở cơ sở thời gian qua là một phơng thức rất hiện thực để phát triển nền dân
chủ XHCN trong giai đoạn hiện nay.
Nh vậy, từ trong đờng lối chiến lợc, sách lợc cũng nh trong thực tiễn cách
mạng, Đảng ta luôn khẳng định bản chất của Nhà nớc ta, nền dân chủ XHCN là
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với
công bằng xã hội, chống áp bức bất công, tất cả đều nhằm mục tiêu Độc lập dân
tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Phát huy dân chủ gắn liền với xây dựng phát triển cơ sở kinh tế XHCN,
sáng tạo tìm tòi những phơng thức để thực thi dân chủ, từ đó hoàn thiện ý thức về
dân chủ XHCN cho cán bộ v nhân dân. đó là những nét đặc trng cơ bản của
quá trình phát triển nền dân chủ XHCN ở nớc ta.
1.1.2. Về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.2.1.Thực hiện dân chủ
Là thành quả của quá trình đấu tranh của GCCN và nhân dân lao động.
Nền dân chủ XHCN nớc ta là dân chủ của dân, do dân, vì dân; do đó, mọi hoạt
18
động của nó phải hớng đến việc bảo đảm lợi ích thiết thân cho đông đảo nhân
dân lao động. Lợi ích to lớn nhất của nhân dân là đợc thể hiện quyền làm chủ
thật sự trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: tham gia vào quá trình tổ
chức, xây dựng và quản lý nhà nớc, quản lý xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng
và lợi ích của bản thân
Theo V.I.Lênin, để xây dựng một nền dân chủ XHCN trong thực tế,
không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố và ra các sắc lệnh về dân chủ
nông", "lôi cuốn" họ cùng tham gia công việc tổ chức, xây dựng và quản lý xã
hội để khắc phục tình trạng quan chủ, chống tham nhũng, lãng phí, lạm dụng
quyền lực Vì vậy, việc tập hợp, lôi cuốn quần chúng tham gia làm chủ phải
đợc đặt dới sự lãnh đạo của Đảng để đảm bảo tính thống nhất, tức là phải gắn
dân chủ với tập trung, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cơng, tăng cờng pháp chế,
để đảm bảo tính thống nhất, tập trung dân chủ, dân chủ đi đôi với kỷ
luật, kỷ cơng, phải thực hiện tốt dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ
trực tiếp là hình thức dân chủ đợc thực hiện bằng cách nhân dân trực tiếp bày tỏ
chính kiến của mình, trực tiếp tham gia quyết định những vấn đề chung của cộng
đồng. Còn dân chủ đại diện là nhân dân thông qua các đại biểu, các đoàn thể của
mình và các phơng tiện khác để bày tỏ chính kiến, để quyết định những vấn đề
chung. Những hình thức dân chủ ấy đợc thể chế bằng pháp luật của Nhà nớc và
đợc thực thi bằng cả hệ thống chính trị.
Thực hiện dân chủ phải chú trọng cả hai mặt: vừa phát huy chế độ dân
chủ đại diện, nâng cao chất lợng và hiệu quả hoạt động của những ngời đại
diện; ở nớc ta đó là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận và
đoàn thể nhân dân các cấp; vừa thực hiện từng bớc vững chắc chế độ dân chủ
trực tiếp, trớc hết là cấp cơ sở mà cốt lõi là nhân dân tham gia bàn bạc và quyết
định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực, gắn với lợi ích của mình
theo phơng châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân chủ cũng gắn
liền với dân sinh, dân trí, thúc đẩy kinh tế, văn hoá, xã hội cùng phát triển.
Dân chủ phải đi đôi với kỷ cơng, trật tự, dân chủ đợc thể chế hoá thành
pháp luật và dân chủ trong khuôn khổ của Hiến pháp, pháp luật; quyền hạn gắn
liền với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; chống quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm
pháp luật. Dân chủ cao thì kỷ luật phải nghiêm. Kỷ luật có nghiêm mới bảo đảm
việc mở rộng dân chủ, thực hiện dân chủ một cách có chất lợng. Vì vậy, thực
hiện dân chủ cũng có nghĩa là đổi mới tổ chức và phơng thức hoạt động của hệ
thống chính trị, trọng tâm là Nhà nớc.
Quá trình thực hiện dân chủ ngoài ra còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
xong xuôi. Có thể nói cơ sở là chiếc cầu nối giữa Dân với Đảng, là cái vi
mô nhng thực chất là cái vĩ mô thu nhỏ.
Mục tiêu lý tởng dân chủ và công bằng xã hội chỉ có thể biến thành sức
mạnh vật chất khi nó thâm nhập vào hàng chục triệu quần chúng lao động. Nớc
ta là một nớc nông nghiệp, nông dân chiếm gần 80% dân số, đa phần sống ở
nông thôn. Nông thôn, nông dân nớc ta có vai trò rất quan trọng trong quá trình
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong công cuộc
đổi mới, họ có những đóng góp hết sức to lớn cho phát triển kinh tế, ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội, Bởi vậy, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân
lao động ở cơ sở trớc hết phải hớng tới nông dân, nông nghiệp và nông thôn.
21
Song, quá trình thực hiện dân chủ, đối với nhân dân ta, đặc biệt là nông dân, vốn
cha quen với nhà nớc pháp quyền và xã hội công dân là một việc vừa có tính cấp
bách, vừa lâu dài. Cho nên, làm thế nào để vừa kêu gọi, tập hợp, lôi cuốn, giáo
dục nhân dân tham gia làm chủ, biết cách làm chủ; đồng thời củng cố và xây
dựng cơ chế đảm bảo quyền làm chủ của họ là một yêu cầu bức thiết trong giai
đoạn hiện nay.
đáp ứng yêu cầu đó, ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 30-
CT/TW về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Thực hiện Chỉ thị của Bộ
Chính trị, ngày 11/05/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 29-NĐ/CP về việc
ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ
ở xã. Sau một thời gian triển khai thực hiện, ngày 28/03/2002 Ban Bí th Trung -
ơng ra Chỉ thị số 10-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện
QCDC ở cơ sở. Tiếp đó, ngày7/7/2003, Chính phủ ban hành Nghị định
79/2003/NĐ-CP về Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã kèm theo Quy
chế thực hiện dân chủ ở xã thay thế cho Nghị định 29/1998.
đây là những văn bản pháp lý quan trọng, là cơ sở để nhân dân thực hiện
quyền làm chủ của mình, đồng thời là cơ sở để Nhà nớc giám sát, bảo đảm
quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân. Mục đích của Quy chế thực hiện dân chủ
ở xã là nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân cấp xã (cả ph-
những việc nào dân đợc biết, đợc tham gia ý kiến, bàn bạc, quyết định, giám sát,
kiểm tra; đồng thời quy định việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế, hình thức tổ
chức nhằm đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp. Bên cạnh
đó, QCDC ở cơ sở còn xác định trách nhiệm của chính quyền và các tổ chức tự
quản trong việc giải đáp những thắc mắc, khiếu nại, tố cáo và những ý kiến đóng
góp, phê bình của nhân dân. Có thể nói QCDC ở cơ sở chính là một bớc tiến
quan trọng cả về nhận thức, hành động và hiệu quả thực tế của sự vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
QCDC ở cơ sở là văn bản quy phạm pháp luật đợc Nhà nớc ban hành
nhằm cụ thể hoá phơng châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Đây
thực chất là một cuộc vận động chính trị lớn của Đảng đối với toàn xã hội, trớc
hết là vận động và tạo điều kiện cho nhân dân ở cơ sở trực tiếp tham gia thực
hiện các chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc; tham gia quản lý nhà nớc,
quản lý xã hội, giáo dục ý thức dân chủ, phát triển năng lực dân chủ, thực hiện
quyền làm chủ và thực hành dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân nhằm phát triển
kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, xây dựng một xã
hội dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. đó là một quá
trình với những tác động tổng hợp từ mọi lực lợng, môi trờng, điều kiện, để làm
cho dân chủ từ khả năng trở thành hiện thực phổ biến trực tiếp mà mọi ngời dân
đều có thể cảm nhận, nắm bắt và thực hiện, đợc hởng thành quả dân chủ bằng
chính thể chế pháp quyền nhà nớc từ cơ sở. Thực hiện QCDC ở cơ sở cũng là
23
nhằm vợt qua những hiện trạng còn nhiều hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện
dân chủ, là để đạt tới dân chủ, phát triển dân chủ.
Trong quá trình triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở, để dân chủ thật sự là
mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn luôn quan tâm tới việc
giữ vững tính chất XHCN của nền dân chủ. Phải đảm bảo cơ sở kinh tế của nền
dân chủ XHCN, đó là chế độ công hữu về các t liệu sản xuất chủ yếu. Trong thực
hiện dân chủ XHCN, thực hiện dân chủ trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa rất quan
trọng. Chỉ khi nào ngời lao động thực sự làm chủ về kinh tế, thì họ mới là lực l-
Thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ đợc coi là động lực của sự nghiệp
đổi mới theo định hớng XHCN, mà còn là phơng thức để phát triển dân chủ xã
hội chủ nghĩa. đó là một thành quả lớn trong thực tiễn chính trị nớc ta. Việc xây
dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở là một chủ trơng lớn, đúng đắn, kịp thời, phù
hợp ý Đảng lòng dân, có thể nói đây là một sáng kiến vĩ đại trong thực tiễn
chính trị Việt Nam. Bởi chỉ có thông qua việc thực hiện quy chế, nhận thức của
cả nhân dân và cán bộ, đảng viên về dân chủ mới đợc nâng lên. Nhân dân ý
thức đợc quyền làm chủ của mình, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, tích cực
tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Cán bộ, đảng viên thấy rõ vai trò, tác
dụng của dân chủ, vì thế mà nhiệt tình hơn, tận tuỵ hơn trong công tác. Cả cán
bộ, đảng viên và nhân dân đều hiểu rõ: quyền làm chủ của nhân dân không phải
là những gì xa vời, mà nó đợc thể hiện cụ thể trong những công việc hàng ngày
của nhân dân và hoạt động của chính quyền cơ sở.
Hơn thế, có thể coi việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở là một
"sáng kiến vĩ đại" vì:
Thứ nhất, QCDC ở cơ sở là thành quả của quá trình tìm tòi, sáng tạo
của Đảng trong phát triển dân chủ XHCN ở nớc ta. Nó tuyệt nhiên không phải là
một sự sao chép hay bắt chớc bất kỳ một mô hình dân chủ nào. Mà nó chính là
sản phẩm của sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo t tởng dân chủ của chủ nghĩa Mác-
Lênin và Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; đồng thời chọn lọc,
kế thừa và học tập những kinh nghiệm thành công cũng nh cha thành công trong
việc phát triển dân chủ của một số nớc trên thế giới, kết hợp chủ nghĩa yêu nớc,
tinh thần đoàn kết, t tởng thân dân, trọng dân của Đảng ta.
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở hình thành từ nhu cầu dân chủ của
nhân dân ta, trớc hết là nhân dân lao động ở cơ sở; từ đòi hỏi của công cuộc đổi
mới và trớc những thách thức của thời đại. để đa con thuyền cách mạng Việt
Nam tiến thẳng đến bến bờ chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền
phong của giai cấp công nhân, đại diện duy nhất cho lợi ích toàn dân tộc, phải
phát triển dân chủ, trớc hết là dân chủ ở cơ sở nhằm kích thích và huy động sức
mạnh của toàn dân. Với bản lĩnh và kinh nghiệm lãnh đạo, Đảng ta đã phát triển
dân đợc quan tâm hơn. Cùng với quy chế là những chính sách đầu t phát triển
nông thôn, chính sách xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, cũng đợc quan
tâm thực hiện tốt hơn; vì thế mà niềm tin của nhân dân đối với các tổ chức đảng
và chính quyền cơ sở đợc củng cố và tăng lên.
Thứ ba, QCDC ở cơ sở đã tạo đợc sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh
vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội theo hớng dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Trên lĩnh vực kinh tế: thực hiện quyền làm chủ
trên lĩnh vực kinh tế, nhân dân lao động, nhất là nhân dân lao động ở cơ sở có
điều kiện thể hiện khả năng lao động sáng tạo của mình; xuất hiện ngày càng
26
nhiều sáng kiến hay trong quá trình lao động sản xuất, nhiều cá nhân sản xuất
giỏi đợc nhà nớc phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Những chơng trình
phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở đợc nhân dân tham gia ý kiến, góp của, góp
công thực hiện nhanh hơn, tốt hơn. Sự chuyển biến mạnh mẽ đó đã đóng góp tích
cực cho quá trình phát triển nền kinh tế nớc ta, từng bớc cải thiện và nâng cao
đời sống vật chất của nhân dân. ở nhiều nơi, nhân dân đã mạnh dạn phát biểu ý
kiến đóng góp, đề xuất với Đảng và Nhà nớc sửa đổi chính sách, quy định cho
thiết thực hơn, tạo điều kiện cho họ vay vốn, hớng dẫn họ chuyển đổi cơ cấu sản
xuất và ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến vào phát triển sản xuất, xoá đói
giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội.
Trên lĩnh vực chính trị: QCDC góp phần tạo sự chuyển biến tích cực
trong phong cách lãnh đạo của cán bộ theo tinh thần hớng về cơ sở, trọng dân,
gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân; hạn chế sự thoái hoá,
biến chất của đội ngũ cán bộ cơ sở. Nhờ vậy, đội ngũ cán bộ cơ sở không ngừng
đợc bổ sung, đợc thanh lọc qua phong trào thực tiễn ở cơ sở và bằng một cơ chế
dân chủ do chính nhân dân đảm nhiệm. Quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở đã tác
động tích cực đến việc củng cố, đổi mới, nâng cao chất lợng của hệ thống chính
trị ở xã, phờng, thị trấn: xây dựng chỉnh đốn Đảng, thúc đẩy việc đổi mới phơng
thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ
chức cơ sở đảng, làm cho mối quan hệ giữa dân với Đảng gắn bó chặt chẽ hơn.
ớc bỏ nhiều tiền của ra đầu t, mà phần lớn là kết quả của việc khắc phục, sửa
chữa những thiếu sót trong quản lý và thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở. Nhìn
chung, qua gần 7 năm, QCDC ở cơ sở đợc triển khai thực hiện đã có những tác
động lớn đối với toàn xã hội, tạo đợc động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng
CNXH ở nớc ta. Trớc hết, QCDC ở cơ sở đã góp phần quan trọng vào việc thay
đổi, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về dân chủ. Dân hiểu
rõ hơn về quyền làm chủ của mình. Cán bộ, đảng viên thấy rõ hơn sức mạnh to
lớn, vai trò, động lực và hiệu quả thiết thực của dân chủ. Vì vậy, các chủ trơng,
chính sách của Đảng và Nhà nớc về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo đảm
an ninh quốc phòng đợc nhân dân hiểu biết hơn, hăng hái tham gia đóng góp và
tích cực thực hiện nên đạt kết quả tốt hơn. Phần lớn những tranh chấp, vớng mắc
trong dân với nhau, với chính quyền đều đợc hoà giải, giải quyết ổn thoả tạo bầu
không khí chan hoà, cởi mở trong cộng đồng, góp phần củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, phát triển xã hội.
Nh vậy, việc thực hiện QCDC ở cơ sở đã góp phần tạo ra động lực cả từ
phía hệ thống chính trị lẫn phía quần chúng. Sức mạnh của nhân dân đợc nhân
lên gấp bội nhờ môi trờng dân chủ. Chính sự hội tụ của hai nguồn động lực đó đã
tạo thành sức mạnh tổng hợp để dấy lên và thực hiện mục tiêu của phong trào
quần chúng với những kết quả to lớn và thiết thực nh: phong trào xoá đói giảm
nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, giữ gìn an ninh trật
tự, bảo vệ trị an Qua đó, các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở cơ
28