LUẬN VĂN:
Năng lực thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cơ sở của cán bộ chính quyền cấp
xó tỉnh Bến Tre
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ (DC) xã hội chủ nghĩa (XHCN) vừa là mục tiêu vừa là động lực của công
cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa đảng, Nhà
nước và nhân dân. Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ
chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp
luật (PL) của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân.
Trong quá trình lãnh đạo nhà nước và xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới Đảng ta đã rút
ra bài học quan trọng: Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham
gia có hiệu quả vào quản lý nhà nước phải đi đôi với việc đẩy mạnh đấu tranh khắc phục
tình trạng quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ, kết hợp giữa dân chủ đại diện và dân chủ
trực tiếp, thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Từ bài học kinh nghiệm trên ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị Trung ương Đảng
khóa VIII đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Cụ thể hóa Chỉ thị này, ngày 15/5/1998, Chính phủ ra Nghị định số 29/NĐ-CP ban hành
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, đến ngày 07/7/2003 Nghị định này đã được thay thế bằng
Nghị định số 79/NĐ-CP. Dấu mốc pháp lý quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của
DC ở cơ sở
(CS) là việc ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn (20/4/2007).
Thực hiện pháp luật (THPL) về DC ở xã, phường, thị trấn nhằm phát huy quyền
làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, động viên sức mạnh vật chất và
+ Đề tài Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay do PGS.TS Hoàng
Chí Bảo làm chủ nhiệm, trong khuôn khổ của đề tài cấp Nhà nước Nghiên cứu một số vấn
đề nhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở, trong sự nghiệp đổi mới và
phát triển ở nước ta hiện nay . đề tài đã xây dựng khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn, đặc điểm và cấu trúc của nó, những tác động ảnh hưởng và những quan điểm,
giải pháp tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống ấy ở Việt Nam.
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện nghị
quyết của Đảng đối với cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay,
do TS Nguyễn Quốc Tuấn làm chủ nhiệm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ
trì, nghiệm thu tháng 4 năm 2004. Nội dung đề tài nghiên cứu năng lực tổ chức thực hiện
nghị quyết của Đảng đối với cán bộ chủ chốt cấp huyện vùng đồng bằng sông Cửu Long
và đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực đó. Kết quả nghiên cứu đề tài
cho phép tác giả kế thừa nhiều vấn đề, trong đó có những vấn đề phương pháp luận tiếp
cận khái niệm năng lực của cán bộ, công chức.
- Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ:
+ Luận án tiến sĩ (1998), Vấn đề dân chủ trên lĩnh vực chính trị ở nông thôn Việt
Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay (qua khảo sát vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu
Long), của Đào Bá Phương, thuộc chuyên ngành triết học. Nội dung luận án tập trung làm
rõ tình hình thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị ở nông thôn Việt Nam (dưới góc độ
triết học), đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ thực hiện dân chủ trên
lĩnh vực chính trị ở nông thôn hiện nay.
+ Luận văn thạc sĩ (1997) Nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp cơ sở (qua thực thực tỉnh Long An), của Phạm Văn Hai, thuộc chuyên ngành
triết học. Nội dung luận văn tập trung làm rõ khái niệm năng lực (dưới góc độ triết học), đề
xuất các giải pháp nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở
Long An.
+ Luận văn thạc sĩ (2003), Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp
cơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, của Phạm Thị Thu Vinh, thuộc chuyên ngành quản lý nhà
GS.TSKH Vũ Huy Từ, đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 5/2002. Nội dung bài viết
đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên chỉ chủ yếu nghiên cứu năng lực
của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng, tổ
chức thực hiện các lĩnh vực pháp luật khác nhau. Việc nghiên cứu năng lực thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cơ sở của cán bộ chính quyền cấp xã ở mỗi địa phương cụ thể, và dưới
góc độ luật học, thì chưa có công trình nào. Vì thế đề tài luận văn không trùng lặp với các
công trình khoa học đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Về mục đích:
Luận văn trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về NLTHPL về
DC ở CS của CBCQCX, để đề xuất và luận chứng các giải pháp bảo đảm năng lực đó của
đội ngũ CBCQCX ở tỉnh Bến Tre hiện nay.
- Về nhiệm vụ:
Phù hợp mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ sau:
+ Xây dựng khái niệm NLTHPL về DC ở CS của CBCQCX, chỉ ra các đặc điểm,
các yếu tố cấu thành, ảnh hưởng và yêu cầu đối với việc bảo đảm năng lực của đội ngũ đó
hiện nay.
+ đánh giá đúng thực trạng THPL về DC ở CS và thực trạng NLTHPL về DC ở
CS của CBCQCX ở Bến Tre.
+ đề xuất và luận chứng các giải pháp bảo đảm NLTHPL về DC ở CS của
CBCQCX ở Bến Tre hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
NLTHPL về DC ở CS của CBCQCX, thực trạng cũng như các giải pháp bảo đảm năng lực
của đội ngũ cán bộ đó ở tỉnh Bến Tre hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
cấu thành và ảnh hưởng đến năng lực đó.
- Đánh giá khách quan thực trạng NLTHPL về DC ở CS của CBCQCX tỉnh Bến
Tre.
- Xây dựng các luận chứng về các quan điểm, giải pháp bảo đảm NLTHPL về DC
ở CS của CBCQCX tỉnh Bến Tre hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần phát triển lý luận về pháp luật, trực tiếp là những vấn đề lý
luận về chủ thể thực hiện PL, NLTHPL của một loại chủ thể đặc biệt là CBCQCX đối với
một lĩnh vực PL cụ thể (dân chủ ở cơ sở).
Những giải pháp mà luận văn đưa ra có giá trị tham khảo đối với các cấp chính
quyền, trực tiếp là chính quyền cấp xã trong xây dựng đội ngũ CBCQCX, bảo đảm
NLTHPL về DC ở CS của đội ngũ cán bộ này.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích để nghiên cứu, giảng
dạy ở Trường Chính trị Bến Tre.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
CƠ Sở Lý Luận Về NĂNG Lực Thực Hiện Pháp Luật
Về DÂN Chủ ở CƠ Sở Của Cán Bộ Chính Quyền Cấp Xã
1.1. Khái niệm, đặc điểm của năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
của cán bộ chính quyền cấp xã
1.1.1. Khái niệm năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cán bộ
chính quyền cấp xã
Muốn hiểu rõ khái niệm năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của của
riêng của từng cá nhân trong từng quan hệ xác định mà năng lực của con người có những
hình thái (hình thức, dạng, kiểu, loại) biểu hiện những khả năng khác nhau một cách sinh
động, tinh tế, đa dạng, phức tạp. Có thể khái quát những khả năng đó như sau:
- Khả năng tư duy: đó là khả năng luôn có được những ý nghĩ chín chắn, sâu sắc đi
đến nhận thức mới về đối tượng để tìm ra được những phương kế mới cho việc hoàn thành
nhiệm vụ thực tiễn. để có tư duy sắc bén đòi hỏi chủ thể phải có khả năng tự hình thành
cho mình một thế giới quan khoa học và một hệ thống phương pháp luận vững chắc về
hoạt động chuyên biệt của mình trên cơ sở tự tiếp nhận những tri thức của nhân loại có liên
quan đến đối tượng, xác lập quan điểm độc lập trước những vấn đề còn có nhiều ý kiến
khác nhau. Xác lập quan hệ giữa các loại tri thức khác nhau mà mình đã thâu thái được với
đối tượng để có thể sử dụng độc lập từng loại tri thức hay kết hợp giữa chúng với nhau tác
động vào đối tượng theo những yêu cầu của xã hội. Đó còn là văn hóa tư duy biểu hiện ở
văn hóa nghĩ, văn hóa nói, văn hóa viết; chúng trực tiếp giúp chủ thể có thể chuyển những
"nguyên liệu" của tư duy thành sản phẩm tư tưởng bằng sự phong phú của ngôn ngữ, chất
lượng của diễn đạt, trình bày lập luận. Khả năng tư duy còn đòi hỏi đến sự ghi nhớ nhanh
chóng, sâu sắc, bền vững và nhớ một cách sáng tạo của chủ thể. Người ta thường ví trí nhớ
là sức khỏe của tư duy.
- Khả năng quan sát thực tế: Quan sát thực tế là khả năng phát hiện ra những nhu
cầu và tiềm năng của đời sống hiện thực, những vấn đề đang đặt ra đối với chủ thể; thấy
được phương thức giải quyết vấn đề của hiện thực bằng những phương tiện được lựa chọn
từ hiện thực đó. Người có khả năng quan sát còn phải có khả năng cảm giác tốt "nghe"
được những diễn biến nhỏ nhất, những biểu hiện tinh tế nhất của sự biến động, "thấy"
được những dấu hiệu mờ nhạt nhất của sự kiện. đồng thời, còn có khả năng tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn nhưng không rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm; biết lấy sự biến đổi trong
đời sống hiện thực làm thước đo cho hiệu quả hoạt động của mình nhưng không rơi vào
chủ nghĩa thực dụng.
- Khả năng phát hiện tình huống: Phát hiện tình huống là khả năng đánh giá đúng
thực trạng của những vấn đề gay cấn không bình thường, những việc ập đến bất ngờ đặt
sử cụ thể mà khả năng triển khai của mỗi người có sự đòi hỏi cao thấp về những khả năng
xác định khác nhau. Nhưng, nhìn chung, khả năng triển khai của một người phải bao gồm
các khả năng: nhận thức vấn đề, truyền đạt đến những đồng sự, tổ chức thành một thiết chế
tổ chức, phối hợp nhiều loại hành động của nhiều người để giải quyết vấn đề đó; đồng
thời, còn điều chỉnh và xử lý được các vấn đề phát sinh.
- Khả năng làm việc độc lập: Làm việc độc lập là khả năng có được tinh thần chủ
động trong công việc, có thể tự hoạch định chương trình và trù tính kế hoạch hành động
cho mình để thực hiện mục tiêu đã định mà không trông chờ hay nhờ vào sự " chỉ bảo "
hay sự " viện trợ " của người khác; biết tìm cho mình con đường riêng với những phương
thức hành động đặc thù trong tính phổ biến; tránh sáo mòn, dẫm lại những lối mòn của
người khác một cách không cần thiết. để có khả năng làm việc độc lập, con người không
chỉ phải lao động bền bỉ, cần mẫn tìm tòi học hỏi với tinh thần trách nhiệm cao, có kỳ luật
tự giác mà còn là lòng say mê, ham thích công việc với một sự năng nổ và tháo vát đối với
công việc.
- Khả năng phê phán: Phê phán là khả năng tự phê phán mình, biết tiếp nhận sự
phê phán của người khác đối với mình và phê phán người khác. Tự phê phán là khả năng
tự phản tỉnh của chủ thể để nhận ra những khuyết điểm và yếu kém, những sai lầm và thiếu
sót của bản thân trong quá trình thừa hành nhiệm vụ; dám chịu trách nhiệm cá nhân về
toàn bộ hậu quả do hành vi của mình gây ra. Biết lắng nghe, chân thành và dũng cảm tiếp
nhận sự đóng góp của đồng nghiệp, của bạn bè, của tổ chức và của xã hội một cách tự
nhiên. Không những thế mà còn biết tìm ra con đường và những giải pháp tự hoàn thiện
mình để không ngừng vươn lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Phê phán người
khác là khả năng có thể nhìn nhận đúng đắn về người khác, khẳng định những điểm mạnh
và chỉ ra được những hạn chế của họ đối với yêu cầu của xã hội một cách vô tư, thẳng thắn
nhưng vừa thấu lý vừa đạt tình với những biện pháp thật khéo léo, tế nhị để người được
góp ý tiếp thu một cách thoải mái, nhẹ nhàng.
- Khả năng kiềm chế: Kiềm chế là khả năng có thể tránh được những phản ứng
bồng bột, vội vã có thể bình tĩnh đè nén những xúc động, sự tức tối, sự giận dữ trước sự
thực hiện có hiệu quả tối đa một công việc cụ thể, một hoạt động cụ thể nào đó trong
những điều kiện nhất định; là những phẩm chất của con người tạo cho họ có khả năng
hoàn thành một công việc nào đó hiệu quả nhất. Khi nói đến năng lực là nói đến năng lực
của từng con người - chủ thể cụ thể. Đó là con người đã trưởng thành về mặt xã hội, một
chủ thể có nhân cách, đang hoạt động cho mình và cho đồng loại. Do vậy, tùy thuộc vào
nghề nghiệp, hoàn cảnh sống và hoạt động, chức trách cá nhân đảm nhiệm mà năng lực
của họ được biểu hiện ra một cách sinh động, đa dạng, khác nhau.
Tóm lại, năng lực là những phẩm chất bên trong tạo điều kiện thuận lợi cho cá
nhân có được khả năng hoàn thành một hoặc một số hoạt động chung hay chuyên biệt nào
đó với chất lượng và hiệu quả cao.
Hai là, năng lực thực hiện pháp luật
- Năng lực thực hiện pháp luật nói chung
Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý. Quá trình THPL
được diễn ra đồng thời và tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn thiện PL của nhà nước.
Thực hiện pháp luật là trách nhiệm của mọi tổ chức (kể cả các cơ quan nhà nước)
và mọi công dân Việt Nam, cũng là trách nhiệm của cả các tổ chức, người nước ngoài làm
việc, sinh sống trên đất nước Việt Nam.
Về phương diện lý luận, thực hiện pháp luật là một khái niệm pháp lý, song hiện
đang có nhiều quan niệm khác nhau:
+ Theo Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường đại học Luật Hà
Nội, "thực hiện pháp luật” được quan niệm là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các
quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các
chủ thể pháp luật [37, tr.463].
+ Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật-Trường
đại học Tổng hợp Hà Nội, "thực hiện pháp luật” là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho
những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật (cơ quan,
tổ chức, cá nhân) [36, tr.369].
+ Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và
pháp luật- Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, "thực hiện pháp luật”
luật khi ấy mới đạt được [19, tr.2].
+ Thực hiện pháp luật có thể được tiến hành thông qua các hình thức như tuân thủ
PL, thi hành PL, sử dụng PL và áp dụng PL.
Mỗi loại chủ thể PL có cách thức thực hiện PL khác nhau. Đối với cá nhân, tổ
chức không có thẩm quyền thì thực hiện PL chủ yếu dưới các hình thức tuân thủ, thi hành,
sử dụng PL; đối với các cơ quan nhà nước và những người có chức vụ, quyền hạn thì thực
hiện PL thường là dưới hình thức áp dụng PL.
Từ quan niệm trên về thực hiện PL có thể hiểu NLTHPL là khả năng của chủ thể
pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật nhằm làm cho các quy định của pháp
luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Chủ thể thực hiện PL khác nhau thì NLTHPL
khác nhau. Về phương diện pháp lý, NLTHPL đồng nhất với năng lực hành vi, tức là khả
năng của chủ thể bằng chính hành vi của mình để thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Tuy nhiên, từ quan niệm về “năng lực” như trên thì khái niệm “năng lực thực hiện pháp
luật” có nội hàm rộng hơn nhiều, thể hiện cả một quá trình từ tư duy, nhận thức và tổ chức
thực tiễn hết sức phức tạp, và do đó, khi nghiên cứu NLTHPL phải chú ý đầy đủ, toàn diện
tất cả các yếu tố xuất hiện trong toàn bộ quá trình đó. Nhìn nhận dưới góc độ “ mô hình
hóa”, NLTHPL là khả năng của cá nhân trong việc xác định và thực hiện một quy trình
tối ưu trong việc chuyển tải các yêu cầu, đòi hỏi của PL vào cuộc sống, thường là bắt đầu
từ sự nhận thức đúng và đầy đủ những quy định của PL; lập kế hoạch tổ chức thực hiện
PL; sơ kết, tổng kết việc thực hiện PL; vận dụng những bài học kinh nghiệm vào hoạt
động thực hiện PL tiếp theo.
Ba là, năng lực thực hiện pháp luật của cán bộ chính quyền cấp xã
Năng lực thực hiện PL của CBCQCX đóng vai trò hết sức quan trọng trong quy
trình tổ chức thực hiện PL cũng như hiệu quả thực hiện PL của chính quyền cấp xã. Đó
cũng là một quá trình từ tư duy, nhận thức PL cả ý nghĩa, nội dung, mục đích điều chỉnh
của PL đến quá trình tự mình tổ chức thực hiện PL, gắn với từng chức danh cụ thể của đội
ngũ CB,CCCX.
Từ những quan niệm trên cho thấy NLTHPL về DC ở CS của CBCQCX là
năng lực của cán bộ cơ sở là không ngừng nâng cao dân sinh, dân trí, dân chủ của dân,
thực hiện và phát huy tốt nhất quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức tốt và ngày càng tốt
hơn đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cho dân cư trong cộng đồng. Hơn bất cứ ở đâu,
cơ sở và cán bộ cơ sở phải không được quan liêu hành chính, bệnh hội họp, giấy tờ, thói
mệnh lệnh, áp đặt, nói suông, bàn suông, nói mà không làm, xa rời thực tiễn, thoát ly các
công việc cụ thể, dẫn tới xa dân, cách biệt với dân chúng.
+ Cấp xã là nơi chính quyền trong lòng dân. Hiện trạng ở xã, phường, thị trấn là
nơi kiểm nghiệm đánh giá đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước xem
đúng hay sai. Phải dựa vào dân mà xây dựng hệ thống chính trị, mà chấn chỉnh tổ chức,
giáo dục cán bộ. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, PL của Nhà nước phải
xuất phát từ thực tiễn cuộc sống của dân ở xã, phường, thị trấn, phải truyền đạt tới dân và
giáo dục thuyết phục cho dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ, dân hành động.
+ Cấp xã, do đó là cấp hành động, cấp tổ chức thực hiện, tập hợp và lãnh đạo dân
chúng thực hiện. Cấp xã vừa thực thi chức năng quản lý nhà nước lại vừa diễn ra hoạt
động tự quản của dân ở cộng đồng. Kết hợp tốt quản lý với tự quản đòi hỏi phải giải quyết
mối quan hệ giữa xã và ấp. Phải có đội ngũ CBCQCX giỏi, năng động, tháo vát, gần dân,
tận tụy phục vụ nhân dân, không quan liêu, tham nhũng. Phải có hệ thống chính trị cơ sở
vững mạnh đặc biệt là đội ngũ CBCQCX có NLTHPL về DC ở CS và đội ngũ trưởng ấp,
khu phố phải sát dân, biết tập hợp và tổ chức cho dân hoạt động tự quản.
Do vị trí, vai trò của cấp xã như trên mà việc thực hiện DC ở xã, phường, thị trấn
là nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, động
viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính
trị, xã hội, tăng cường đoàn kết, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ, chính
quyền và các đoàn thể ở xã, phường, thị trấn trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc
phục tình trạng suy thoái, quan liêu tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tóm lại, đơn vị hành chính cấp cơ sở là tế bào của xã hội, là khâu cuối cùng để chính
sách, PL của Nhà nước đến với dân; là nơi trực tiếp diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh
thấy, trong những điều kiện thực hiện dân chủ, ngoài điều kiện về dân sinh, dân trí, dân
quyền thì việc thực hiện DC ở CS đòi hỏi mỗi CB,CCCX phải có NLTHPL về DC ở CS,
phải biết cụ thể hóa những yêu cầu của PL, hiện thực hóa các yêu cầu đó trong cuộc sống
của dân để tổ chức đời sống cho dân và tập hợp được lực lượng của dân tại xã, phường, thị
trấn, làm cho mỗi người dân vừa là đối tượng thụ hưởng những quyền và lợi ích DC mà xã
hội, nhà nước đem lại, vừa là chủ thể xây dựng, bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ chế độ Nhà nước,
bảo vệ Đảng và cách mạng.
1.1.2. đặc điểm của năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cán
bộ chính quyền cấp xã
để bảo đảm NLTHPL về DC ở CS của CBCQCX, cần phải làm rõ những đặc điểm
cụ thể của CBCQCX, thấy được những yếu tố tác động tích cực lẫn tiêu cực và dự báo
được những thuận lợi, khó khăn trong thực tiễn. ở đây, CBCQCX được hiểu:
- Cán bộ chuyên trách làm việc tại HĐND và UBND là những người do bầu cử để
đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ, gồm các chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch HĐND và chủ
tịch, phó chủ tịch UBND cấp xã.
- Công chức cấp xã là những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên
môn thuộc UBND, gồm các chức danh: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an
chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng-Thống kê; Địa chính - Xây dựng; Tài
chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.
- Cán bộ không chuyên trách cấp xã (không tính khối Đảng, đoàn thể), gồm các
chức danh: Phó Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Phó Chỉ huy
trưởng quân sự; cán bộ kế hoạch- giao thông - thủy lợi- nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; cán bộ
dân số- gia đình và trẻ em; Thủ quỹ- văn thư- lưu trữ; cán bộ phụ trách đài truyền thanh và cán
bộ quản lý nhà văn hóa.
- Cán bộ không chuyên trách ở ấp, khu phố: trưởng ấp, khu phố, công an viên ở
ấp, khu phố.
Đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã trên có chung đặc điểm sau:
+ Cán bộ chính quyền cấp xã vừa là người đại diện Nhà nước, vừa đại diện cộng
+ Về mặt chế độ, chính sách đối với cán bộ chính quyền cấp xã hiện còn bất
cập, mức lương thấp. Mặt khác, họ vừa là cán bộ quản lý của chính quyền cấp xã vừa là
người trực tiếp tham gia sản xuất (có khi họ là lao động chính trong hộ gia đình). Chính
từ đây, chính sách chế độ ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng công tác cũng như tính
chuyên nghiệp của đội ngũ CBCQCX.
+ Cán bộ chính quyền cấp xã tỉnh Bến Tre đa số hiện sống và làm việc ở địa bàn
nông thôn, nơi có kết cấu hạ tầng và trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, thu nhập và đời
sống thấp hơn ở thành thị.
+ Cán bộ chính quyền cấp xã tỉnh Bến Tre đa số trưởng thành từ phong trào cách
mạng ở địa phương, tham gia công tác sau ngày 30/4/1975.
Xuất phát từ chức trách, nhiệm vụ cũng như những đặc điểm trên của cán bộ chính
quyền cấp xã, năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của đội ngũ cán, công chức
này có đặc điểm sau:
- Năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của chủ tịch, phó chủ tịch
hội đồng nhân dân cấp xã thể hiện khả năng:
+ Chủ trì trong việc tham gia xây dựng nghị quyết của HĐND liên quan đến tổ chức
thực hiện nội dung dân chủ ở cơ sở;
+ Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của HĐND về dân chủ
ở cơ sở;
+ Tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố
cáo của nhân dân liên quan đến thực hiện nội dung DC ở CS.
- Năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban
nhân dân cấp xã thể hiện khả năng:
+ Tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra đối với công tác chuyên môn thuộc UBND
trong việc thực hiện chính sách, PL của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND
và các quyết định của UBND cấp xã liên quan đến nội dung DC ở CS;
+ Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của CT UBND cấp xã, tham
gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể ubnd liên quan đến nội dung DC ở CS;
+ Thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách theo quy
định của pháp luật liên quan đến nội dung dân chủ ở cơ sở;
+ Tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật;
+ Phối hợp hướng dẫn hoạt động đối với tổ hòa giải. Phối hợp với trưởng thôn, tổ
trưởng tổ dân phố sơ kết, tổng kết công tác hòa giải, báo cáo với ubnd cấp xã và cơ quan tư
pháp cấp trên;
+ Thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch theo các nhiệm vụ cụ thể được phân
cấp quản lý và đúng thẩm quyền được giao;
+ Thực hiện việc chứng thực theo thẩm quyền đối với các công việc thuộc nhiệm
vụ được pháp luật quy định;
+ Giúp ubnd cấp xã thực hiện một số công việc về quốc tịch theo quy định của
pháp luật;
+ Giúp ubnd cấp xã về công tác thi hành án theo nhiệm vụ cụ thể được phân cấp.
- Năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của công chức Địa chính Xây dựng thể hiện khả năng:
+ Giúp UBND cấp xã hướng dẫn thủ tục, thẩm tra để xác nhận việc tổ chức hộ gia
đình đăng ký đất ban đầu, thực hiện các quyền công dân liên quan tới đất trên địa bàn xã,
phường, thị trấn theo quy định của pháp luật;
+ Tham mưu cho ubnd quản lý công tác xây dựng, giám sát về kỹ thuật trong việc
xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương;
+ Tuyên truyền, giải thích, hòa giải tranh chấp về đất đai;
+ Tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai để giúp UBND cấp có
thẩm quyền giải quyết;
+ Tham gia tuyên truyền, phổ biến về chính sách, pháp luật đất đai.
- Năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của công chức Văn phòng Thống kê thể hiện khả năng:
+ Giúp ubnd tổ chức tiếp dân, nhận đơn khiếu nại của nhân dân chuyển đến
HĐND và UBND hoặc lên cấp trên có thẩm quyền giải quyết;
+ Nhận và trả kết quả trong giao dịch công việc giữa UBND với cơ quan, tổ chức
và công dân theo cơ chế "một cửa".
chủ ở cơ sở của cán bộ chính quyền cấp xã
1.2.1. Các yếu tố cấu thành năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
của cán bộ chính quyền cấp xã
Năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cở sở của cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã được cấu thành bởi những yếu tố sau:
- Tri thức pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Năng lực này được thể hiện ở khả năng nắm vững cả tinh thần và nội dung của
pháp luật về dân chủ ở cơ sở, gồm:
+ Nắm vững nội dung công khai để nhân dân biết, đó là: công khai kế hoạch phát
triển kinh tế- xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế; dự án, công trình đầu tư và thứ
tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư
liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi
tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã; công khai nhiệm
vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân
dân; công khai việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương