BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN PHƯƠNG NGỌC
ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN PHƯƠNG NGỌC
ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
Chuyên Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học
TS: LẠI TIẾN DĨNH
1.1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh ..................................................................... 6
1.1.1.3. Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM .................................................. 7
1.1.2. Tính đặc thù trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ............................ 8
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM ............................ 10
1.1.3.1. Nguồn lực tài chính..................................................................................... 10
1.1.3.2. Sản phẩm, dịch vụ ....................................................................................... 10
1.1.3.3. Chất lượng phục vụ ..................................................................................... 11
1.1.3.4. Mạng lưới và công nghệ ............................................................................. 12
1.1.3.5. Nguồn nhân lực ........................................................................................... 13
1.1.3.6. Thương hiệu ................................................................................................ 13
1.1.4. Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của Michael Porter ............................... 14
1.1.5. Ý nghĩa của cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM .............. 18
1.2. Các nghiên cứu trước ................................................................................................ 19
Kết luận chương 1 ............................................................................................................ 22
CHƯƠNG 2: ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM .................... 23
2.1. Tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của EXIMBANK ............................. 23
2.1.1. Lịch sử hình thành ............................................................................................. 23
2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh từ 2008 - 2013 .............................................. 25
2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Eximbank từ 2008 - 2013 ................................ 28
2.2.1. Tình hình vốn và năng lực tài chính .................................................................. 28
2.2.2. Tình hình phát triển sản phẩm – dịch vụ .......................................................... 31
2.2.3. Chất lượng phục vụ của Eximbank .................................................................... 37
2.2.4. Tình hình phát triển mạng lưới và công nghệ .................................................... 39
2.2.5. Đội ngũ nhân sự ................................................................................................. 41
2.2.6. Tình hình phát triển thương hiệu ....................................................................... 44
2.3. Quy trình nghiên cứu ................................................................................................ 45
2.3.1. Lựa chọn mô hình nghiên cứu ........................................................................... 45
3.2.5. Giải pháp về phát triển nguồn lực tài chính ....................................................... 73
3.2.6. Giải pháp phát triển một số yếu tố còn lại ......................................................... 74
Tài liệu tham khảo
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát
Phụ lục 2: Kết quả mô tả thống kê mẫu nghiên cứu
Phụ lục 3: Kết quả phân tích Cronbach’ Alpha
Phụ lục 4: Kết quả phân tích nhân tố EFA cho các biến độc lập
Phụ lục 5: Kết quả phân tích nhân tố EFA cho biến phụ thuộc
Phụ lục 6: Ma trận hệ số tương quan
Phụ lục 7: Kết quả hồi quy
Phụ lục 8: Biểu đồ Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu của Eximbank từ 2008 – 2013
Phụ lục 9: Quy mô vốn điều lệ một số ngân hàng thương mại Việt Nam
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
-
24/7: 24 giờ/7 ngày
-
ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
-
Agribank: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
-
-
Ficombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất
-
KHCN: Khách hàng cá nhân
-
KHDN: Khách hàng doanh nghiệp
-
MHB: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long
-
MB: Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội Việt Nam
-
NHTM: Ngân hàng Thương mại
-
NHTMCP: Ngân hàng Thương mại Cổ phần
-
SPSS: Statistical Product and Service Solutions
-
TCKT: Tổ chức kinh tế
-
Techcombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
-
TinNghiaBank: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tín Nghĩa
-
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
-
TS: Tiến sĩ
-
VCB: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
-
Vietinbank: Ngân hàng Công thương Việt Nam
Hình 1.2: Mô hình lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của Eximbank ......46
Hình 3.1: Mô hình hồi quy điều chỉnh .......................................................................59
1
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc nước ta gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới WTO đã mở ra nhiều cơ hội
cho nền kinh tế Việt Nam, đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức cho các doanh
nghiệp, nhất là các Tổ chức tài chính và các Ngân hàng trong nước. Sự tham gia của
các tập đoàn Ngân hàng nước ngoài đã tạo nên một thị trường tài chính – ngân hàng
đa dạng cho Việt Nam. Và chính việc tham gia mạnh mẽ của các tổ chức nước
ngoài này đã tạo ra sự canh tranh ngày càng gay gắt cho các ngân hàng nội địa.
Do đó, để tồn tại và phát triển trong điều kiện như vậy, các Ngân hàng Việt
Nam phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, từ đó mới có cơ hội
mở rộng thị phần, thu hút khách hàng và gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Vì
mỗi Ngân hàng có đặc điểm, ưu thế riêng nên để có thể xây dựng được một chiến
lược cạnh tranh hiệu quả thì các ngân hàng phải xác định được đúng và đủ các yếu
tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng mình.
Là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam,
ra đời từ những năm 90, cho đến nay Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN đã
tạo dựng được uy tín nhất định trên thị trường. Tuy nhiên, vì nhiều lý do đặc thù và
nhu cầu phát triển nên thời gian gần đây, Eximbank mới chuyển hướng sang nhóm
khách hàng cá nhân, và dĩ nhiên áp lực cạnh tranh của một thành viên mới trên thị
trường bán lẻ cũng theo đó tăng lên. Vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra cho Ngân hàng
TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam trong giai đoạn này là phải tìm ra được nhân tố
nào tạo nên tác động đến năng lực cạnh tranh của Eximbank, từ đó xây dựng chiến
lược cạnh tranh hoàn hảo và hiệu quả nhất cho Ngân hàng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng. Thang đo Likert 5 mức độ
sẽ được dùng để đo lường giá trị của các biến. Phép phân tích Cronbach’s Alpha
được dùng để kiểm định độ tin cậy của các biến và phân tích nhân tố khám phá EFA
dùng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Eximbank.
Tiếp đến, tác giả thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính để xác định những nhân tố
thực sự có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Eximbank, đồng thời mức độ tác
động của từng nhân tố cũng được thể hiện thông qua các hệ số tương ứng. Nghiên
cứu sử dụng công cụ hỗ trợ cho quá trình phân tích là phần mềm SPSS 16.0
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3
Thứ nhất, đề tài nghiên cứu này giúp Eximbank có cái nhìn tổng quát hơn về
năng lực cạnh tranh hiện tại của ngân hàng mình thông qua đánh giá của các đối
tượng mà nghiên cứu này đã khảo sát, chủ yếu là từ khách hàng trực tiếp của
Eximbank.
Thứ hai, nghiên cứu giúp Eximbank xác định được cụ thể những nhân tố và
mức độ tác động của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Thứ ba, kết quả của nghiên cứu góp phần giúp Eximbank thực hiện các khảo
sát thị trường hoặc nghiên cứu chuyên sâu hơn để xây dựng những chính sách, giải
pháp phù hợp và hiệu quả nhất nhằm cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của
toàn hệ thống Eximbank.
7. Bố cục của đề tài
Luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh của NHTM.
tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng
hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi
phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi
nhất.
Còn theo từ điển kinh doanh được xuất bản năm 1992 ở Anh thì định nghĩa
5
cạnh tranh trong cơ chế thị trường là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh
doanh nhằm giành lấy tài nguyên sản xuất của cùng một loại hàng hoá về cho mình.
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế
học xuất bản lần thứ 12, lại định nghĩa rằng: Cạnh tranh (Competition) là sự kình
địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác
giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).
Theo quan điểm của K. Marx thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh
gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản
xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Trong khái niệm của
K.Marx, cạnh tranh được định nghĩa ngắn gọn nhưng rõ ràng và súc tích, nêu lên
được chủ thể chính của cạnh tranh là các nhà tư bản; hành động cạnh tranh là ganh
đua, giành giật; với mức độ cạnh tranh luôn rất gay gắt trong cả sản xuất lẫn tiêu
thụ; và nhằm tới mục tiêu cuối cùng là siêu lợi nhuận.
Như vậy, cạnh tranh nói chung là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại
các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn,
giành được lợi nhuận, địa vị, các phần thưởng hay những lợi ích khác. Thuật ngữ
cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương
mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao….. Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều
lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được
sử dụng. Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau. Một vài kết quả, ví dụ
như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự
doanh nghiệp là năng lực và cơ hội trong hoàn cảnh riêng trước mắt và tương lai
của doanh nghiệp có sức hấp dẫn về giá và chất lượng hơn so với đối thủ cạnh tranh
trong và ngoài nước để thiết kế sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Ở góc độ vi mô, Micheal Porter, Giáo sư nổi tiếng về chiến lược cạnh tranh
của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) lại cho rằng: “Để có thể cạnh tranh thành công, các
doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi
phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức
giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày
càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng
7
hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn” [8, trang 19].
Tựu trung lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một hàm số của các
nhân tố như: các nguồn lực của chính doanh nghiệp (vốn, con người, trình độ công
nghệ…), các đối thủ hiện tại và tiềm năng, hệ thống pháp luật, môi trường kinh tế…
Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác,
sử dụng hợp lý thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản
phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận
ngày càng cao.
1.1.1.3. Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM
Ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp, nhưng là doanh nghiệp
đặc biệt, do đó năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại cũng mang
nhiều điểm giống với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo PGS.TS Nguyễn
Thị Quy thì: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo
ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được
mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm
bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những
biến động của môi trường kinh doanh” [8, trang 22].
các NHTM vừa phải cạnh tranh để từng bước gia tăng khách hàng, mở rộng thị
phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất
chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là các NHTM khác
bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất to lớn, thậm chí
dẫn đến đổ vỡ luôn chính NHTM này do tác động dây chuyền.
- Hoạt động kinh doanh của các NHTM có liên quan đến tất cả các tổ chức
kinh tế, chính trị – xã hội, đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huy động tiền
gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng thời,
trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, các NHTM cũng đều mở tài khoản
cho nhau để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung. Chính vì vậy, nếu như
một NHTM bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu sẽ tác động
lây lan đến gần như tất cả các NHTM khác, không những thế, các tổ chức tài chính
phi ngân hàng cũng sẽ bị “vạ lây”. Đây quả là điều mà các NHTM không bao giờ
9
mong muốn. Chính vì vậy, các NHTM luôn vừa phải cạnh tranh lẫn nhau để giành
giật thị phần, nhưng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường
lành mạnh để tránh rủi ro hệ thống.
- Do hoạt động của các NHTM có liên quan đến tất cả các chủ thể, đến mọi
mặt hoạt động kinh tế – xã hội, cho nên, để tránh việc các NHTM hoạt động mạo
hiểm gây nguy cơ đổ vỡ hệ thống, tất cả Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước
đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để
phòng ngừa rủi ro. Thực tiễn đã chỉ ra những bài học đắt giá, khi mà NHTW thờ ơ
trước những diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là sự đổ vỡ của thị
trường tài chính – tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy,
sự cạnh tranh trong hệ thống các NHTM không thể dẫn đến tình trạng đánh bại và
thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế.
- Hoạt động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ
đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng sẽ gồm:
1.1.3.1. Nguồn lực tài chính
Các lý thuyết cơ bản chứng minh rằng năng lực tài chính đang giữ một vai
trò rất quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Năng lực tài chính mạnh giúp ngân
hàng có điều kiện nhiều hơn để đầu tư vào công nghệ; ứng dụng các thiết bị, kỹ
thuật hiện đại vào các sản phẩm, nhất là các sản phẩm ngân hàng điện tử; nâng
cấp và mở rộng quy mô các chi nhánh, phòng giao dịch trở nên hoành tráng hơn,
góp phần làm gia tăng uy tín và niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Vì
thế, các ngân hàng thương mại có tiềm lực tài chính mạnh sẽ dễ dàng thu hút và
giữ chân khách hàng hơn.
Ngoài ra, năng lực tài chính mạnh còn là lá chắn giúp ngân hàng tăng cường
khả năng chịu đựng rủi ro và luôn đứng vững trước những biến động khó lường
trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh khốc liệt.
1.1.3.2. Sản phẩm, dịch vụ
Ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt - kinh doanh tiền tệ - do đó,
các sản phẩm, dịch vụ chính của ngân hàng đều có liên quan đến tiền. Các sản phẩm
về huy động vốn như: tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, chứng chỉ tiền
gửi, kỳ phiếu… Các sản phẩm tín dụng như: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu chứng từ,
mở L/C…. Các dịch vụ liên quan đến thanh toán như chuyển khoản trong và ngoài
11
nước, phát hành thẻ, phát hành séc, …. Và rất nhiều các dịch vụ có liên quan khác
như thu chi hộ, giữ hộ tài sản, thanh toán các hóa đơn điện nước….
Các sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng đều giống nhau, rất dễ sao chép và
bị sao chép một cách hợp pháp. Cho nên, để nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình, các ngân hàng phải luôn đổi mới sản phẩm, cải tiến dịch vụ, gia tăng nhiều
tiện ích cho khách hàng sử dụng.
Trong cạnh tranh, bên cạnh sản phẩm đa dạng thì giá cả bao giờ cũng là vũ
1.1.3.4. Mạng lưới và công nghệ
Mạng lưới giao dịch rộng khắp chắc chắn sẽ giúp ngân hàng có lợi thế hơn
trong việc cung ứng sản phẩm dịch vụ tài chính, kèm theo đó là cơ hội để quảng bá
thương hiệu trên diện rộng, và cũng là cơ sở rất quan trọng để gia tăng tính tiện ích
của sản phẩm dịch vụ cung ứng khi mà khoảng cách địa lý giữa ngân hàng và khách
hàng được rút ngắn.
Nếu như sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng được khách hàng sử dụng
nhiều hơn, nó là chọn lựa ưu tiên của khách hàng khi có nhu cầu dịch vụ tài chính,
thì dĩ nhiên ngân hàng đó sẽ có được lợi thế trong cạnh tranh. Trong thời đại hiện
nay, điều đáng quan tâm của khách hàng khi lựa chọn, đặc biệt là người Việt Nam,
chỉ đơn giản là thuận tiện nhất theo kiểu “ra ngõ là gặp”. Dĩ nhiên, trong trường hợp
này, mạng lưới rộng khắp là điều kiện tiên quyết.
Thêm vào đó, các sản phẩm, dịch vụ tài chính tiện ích cao, giá rẻ, … hầu
hết đều được phát triển dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại; thực hiện các dịch vụ
nhanh chóng, chính xác, khách hàng sử dụng được dịch vụ mà không cần đến ngân
hàng cũng là kết quả ứng dụng công nghệ. Bởi vậy, trình độ ứng dụng công nghệ
cao sẽ là cơ sở cho một ngân hàng tạo sự khác biệt về chất lượng và giá cả của sản
phẩm, dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh.
Song song đó, ứng dụng công nghệ cao cho phép ngân hàng tập trung dữ
liệu về thông tin khách hàng, quản lý và khai thác chính xác lợi ích từng khách hàng
mang lại cho ngân hàng thông qua sử dụng dịch vụ để quyết định chiến lược khách
hàng. Công nghệ hiện đại cũng là cơ sở quan trọng để tạo ra kênh trao đổi thông tin
đa chiều giữa ngân hàng và khách hàng. Và ứng dụng công nghệ cao cũng cho phép
13
ngân hàng thiết lập một hệ thống giám sát hiệu quả toàn bộ các hoạt động, giảm
thiểu rủi ro hệ thống có thể xảy ra.
1.1.3.5. Nguồn nhân lực
Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới
hiện nay, đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích năng lực cạnh tranh của một
đơn vị. Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh
doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh.
Hình 1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter.
Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành
Lực lượng cạnh tranh đầu tiên trong mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của
Porter là sự ganh đua của các đơn vị trong cùng ngành. Đây là lực lượng cạnh tranh
chính của các doanh nghiệp. Các nhà kinh tế học đo lường cường độ cạnh tranh
bằng các chỉ số về mức độ tập trung của ngành. Hệ số tập trung (Concentration
Ratio) được xác định bằng thị phần mà bốn công ty lớn nhất trong ngành chiếm giữ.
Hệ số tập trung cũng có thể được đánh giá bằng thị phần của 8, 25 hay 50 công ty
hàng đầu trong ngành. Hệ số tập trung cao chỉ ra rằng các doanh nghiệp hàng đầu
15
chiếm giữ một vị trí quan trọng trên thị trường và tính chất tập trung của ngành cao.
Điều đó cũng có nghĩa rằng khả năng thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp
lớn, quyền lực trong đàm phán với hệ thống cung cấp hay hệ thống phân phối cũng
được tập trung. Khi chỉ có một số ít doanh nghiệp nhưng chiếm giữ một thị phần
lớn thì thị trường trở lên ít cạnh tranh, thị trường tiến gần đến tình trạng độc quyền.
Trái lại, mức độ tập trung thấp chỉ ra rằng ngành kinh doanh bị cạnh tranh
bởi nhiều doanh nghiệp, không có doanh nghiệp nào có được thị phần quan trọng.
Hiện tượng này gọi là thị trường bị phân tán, nhưng mức độ cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp lại trở lên rất gay gắt. Các doanh nghiệp thường luôn cố gắng để gia
tăng phần thị trường của mình. Thị trường ở các ngành này thường diễn ra các cuộc
chiến về giá.
Hệ số tập trung ngành không phải là biến số duy nhất đánh giá mức độ cạnh
tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp.
Theo Porter, các nhà cung cấp sẽ có quyền lực nhất khi mà:
-
Mức độ tập trung và quy mô của các nhà cung cấp lớn;
-
Sản phẩm mà nhà cung cấp bán ít có khả năng thay thế và quan trọng đối
với công ty;
-
Các sản phẩm tương ứng của các nhà cung cấp được làm khác biệt đến
mức có thể gây tốn kém cho doanh nghiệp nếu thay đổi nhà cung cấp;
-
Khả năng liên minh, hợp nhất giữa các nhà cung cấp cao.
Với tất cả các ngành, nhà cung cấp luôn gây các áp lực nhất định nếu họ có
quy mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quý hiếm. Chính vì thế những nhà
cung cấp các sản phẩm đầu vào nhỏ lẻ (Nông dân, thợ thủ công.... ) sẽ có rất ít
quyền lực đàm phán đối với các doanh nghiệp mặc dù họ có số lượng lớn nhưng họ
lại thiếu tổ chức.
Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành. Khách hàng của doanh nghiệp có thể là