ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------------
LÊ DUY NGỌC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------------
LÊ DUY NGỌC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRỊNH THỊ HOA MAI
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
T
1
2
Bảng
Nội ndung
Bảng 2.1
Bảng 2.2
3
Bảng 3.1
4
Bảng 3.2
5
Bảng 3.3
6
Bảng 3.4
7
Bảng 3.5
16
Bảng 3.14
17
18
Bảng 3.15
Bảng 3.16
19
Bảng 3.17
20
Bảng 3.18
21
22
23
24
Bảng 3.9
Bảng 3.20
Bảng 3.21
Bảng 3.22
Quy trình nghiên cứu luận văn
Kết quả khảo sát đánh giá về nhân tố Năng lực thị
phần và hệ thống kênh phân phối
Kết quả khảo sát đánh giá về nhân tố Cơ sở hạ tầng
Kết quả khảo sát đánh giá về nhân tố Nguồn nhân lực
Kết quả khảo sát đánh giá về nhân tố Uy tín thương hiệu
Kết quả khảo sát đánh giá về nhân tố Chất lượng dịch vụ
7
Tran
g
31
37
43
46
48
51
52
52
53
53
54
55
55
57
58
59
60
61
62
63
32
Bảng 3.30
33
Bảng 3.31
34
Bảng 3.32
Kết quả khảo sát đánh giá về nhân tố Tính đa dạng
của sản phẩm dịch vụ và năng lực marketing
Kết quả điểm trung bình theo nhóm giới tính
Kết quả kiểm định t test theo nhóm giới tính
Kết quả phân tích phương sai theo nhóm tuổi
Kết quả phân tích so sánh khác biệt đa nhóm bằng
Bonferroni theo nhóm tuổi
Kết quả phân tích phương sai theo vị trí công việc hiện
tại
Kết quả phân tích so sánh khác biệt đa nhóm bằng
Bonfferroni theo vị trí công việc hiện tại
Kết quả phương sai phân theo trình độ học vấn
Kết quả phân tích so sánh đa nhóm bằng Bonferroni
theo trình độ học vấn
Kết quả phân tích phương sai theo mức thu nhập
trung bình
8
6
7
8
9
Hình 1.3
Hình 1.4
Hình 1.5
Hình 1.6
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 3.1
10
Hình 3.2
11
Hình 3.3
12
Hình 3.4
13
14
15
16
Mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu trong mô hình
9
Tran
g
9
11
16
17
18
19
32
33
45
46
47
48
68
69
70
81
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Chủ đề năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam đã, đang và tiếp tục là vấn
đề thời sự, thu hút được sự quan tâm lớn cả từ góc độ nghiên cứu, xây dựng và điều
hành chính sách, quản trị và điều hành kinh doanh ngân hàng,...Nhìn lại trong
hiện nhiều biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh trước yêu cầu hội nhập. Vì
vậy, nghiên cứu những vấn đề cơ bản để nâng cao năng lực cạnh tranh hội nhập
quốc tế của hệ thống NHTM vẫn tiếp tục và luôn có tính cấp bách đặt ra trong thực
tiễn ở nước ta hiện nay.
NHTM cổ phần công thương Việt Nam (VietinBank) là một trong số các
NHTM cổ phần nhà nước có quy mô dẫn đầu thị trường, có mạng lưới hoạt động
rộng trong toàn quốc, có cổ đông chiến lược nước ngoài là các Tập đoàn, tổ chức
Tài chính Ngân hàng lớn trên thế giới, trong đó phải kể đến Tập đoàn MUFG Bank,
Ltd đến từ Nhật Bản, sở hữu 19,73% cổ phần. Mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với
các định chế tài chính hàng đầu trên thế giới sẽ tạo điều kiện cho VietinBank mở
rộng quan hệ quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong
nước, cũng như khu vực và trên toàn thế giới.
Bên cạnh đó, với vai trò là đơn vị dẫn dắt thị trường ngành, VietinBank đã và
đang tích cực thực hiện đề án cơ cấu lại với nhiều giải pháp đồng bộ để nâng cao
năng lực cạnh tranh vươn tầm khu vực và hội nhập quốc tế. Mục tiêu của
VietinBank là tiếp tục chiến lược phát triển bền vững, nâng cao uy tín và vị thế trên
thị trường, cụ thể như cơ cấu lại tổ chức và bộ máy quản trị điều hành, mở rộng
thêm mạng lưới hoạt động kinh doanh, tái định vị lại vị thế thương hiệu. VietinBank
tích cực vận động thay đổi bộ nhận diện hành vi văn phòng công sở theo không gian
mới mà trong đó đặt khách hàng là trọng tâm trong mọi hoạt động của ngân hàng;
luôn hướng tới khách hàng, thay đổi mô hình chất lượng dịch vụ, nâng cao năng lực
quản trị rủi ro, đa dạng hóa sản phẩm huy động vốn, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực,....Do vậy, đứng trước những thách thức và cơ hội mới trong giai đoạn ứng
dụng công nghệ 4.0 như hiện nay, khi mà khách hàng ngày càng trở nên thông minh
hơn, VietinBank cần thiết phải có những giải pháp thiết thực nhất, phù hợp sát với
11
thực tiễn hơn, kỳ vọng mang lại hiệu quả chính sách cao hơn để nâng cao năng lực
cạnh tranh trên cơ sở cải thiện các yếu tố nội tại bên trong hoạt động kinh doanh của
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu giới hạn nội dung đánh giá tài chính tại
VietinBank thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Ngoài ra, khảo sát
được thực hiện chọn mẫu thuận tiện tại một số chi nhánh trên địa bàn Hà Nội, Bắc
Ninh, Phú Thọ.
Phạm vi về thời gian: Tập trung tổng hợp thông tin tài chính của VietinBank
vào các năm từ 2015 đến 2018
Phạm vi về nội dung: Năng lực cạnh tranh của VietinBank trên thị trường
Việt nam trong xu thế hội nhập quốc tế và các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến năng lực
cạnh tranh của VietinBank.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Tác động của các nhân tố nội tại ảnh hưởng đến Năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam như thế nào?
- Có những giải pháp gì nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam?
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về nhân tố ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn
Chương 3: Nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam
Chương 4: Định hướng và một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
13
CHƯƠNG 1
nghệ thông qua quy mô theo hiệu ứng địa lý, và tác động được phản ánh đến hiệu
suất của các NHTM nhỏ, hoạt động đơn lẻ thông qua so sánh doanh thu - chi phí.
Đề tài nghiên cứu “Business effectiveness of bank system in North Europe”
của nhóm tác giả Kunt và Huizinga công bố năm 2013, đã nghiên cứu các vấn đề
liên quan tới hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Bắc Âu. Tác giả dựa trên
cơ sở lý luận về “lợi thế cạnh tranh” của Michael E.Porter (1985) giải thích hiện
tượng thương mại quốc tế dưới giác độ cạnh tranh và vai trò nổi bật của doanh
nghiệp. Theo lý thuyết, của cải nhiều hay ít là do năng suất quyết định và năng suất
phụ thuộc vào môi trường cạnh tranh. Nghiên cứu của nhóm tác giả đã cho thấy
hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: đặc điểm kinh
doanh của ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô, quy mô tài sản của ngân hàng, đặc
biệt quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn sẽ cho thấy sức mạnh của ngân hàng, đồng
thời đa dạng hóa được hoạt động của các ngân hàng… và có điều kiện để làm tăng
lợi nhuận cho các ngân hàng, là cơ sở thúc đẩy sức cạnh tranh của ngân hàng.
Cùng trên cơ sở lý luận về lợi thế cạnh tranh của Michael E.Porter (1985), đề
tài nghiên cứu “The effects of reform on Chinas bank structure and performance”
của các tác giả Xiaoqing và Heffernan công bố năm 2009, cho thấy chất lượng quản
lý của ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngân hàng, chất
lượng quản lý thông qua chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển ngân hàng. Và
đề tài nghiên cứu “How do service quality perceptions contribute in satisfying
Banking Customers” của các tác giả Malik và Hamilton, công bố năm 2011, đã chỉ
ra rằng sự lành mạnh trong kinh doanh của ngân hàng càng lớn, tỷ suất sinh lời trên
tài sản càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng đó sẽ tốt hơn, quản lý
vốn hiệu quả sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh cao hơn, dẫn đến khả năng tài chính
phát triển tốt hơn, giúp cho định vị hình ảnh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng
trên thị trường.
Đề tài nghiên cứu “Competitive conditions in the Central and Eastern
European banking systems” của Manthos D. Delis và cộng sự công bố năm 2008,
đã trình bày các nội dung về các điều kiện cạnh tranh trong điều kiện thực tiễn tại
lý luận về năng lực cạnh tranh để đưa ra quan điểm chung về cạnh tranh là quá trình
kinh tế mà các chủ thể kinh tế ganh đua, tìm mọi biện pháp để chiếm lĩnh thị trường
để nâng cao vị thế của mình. Bên cạnh đó, luận án sử dụng số liệu thực tế giai đoạn
16
2008- 2013 để làm sáng tỏ các lực lượng quyết định mức độ cạnh tranh trong ngành
Ngân hàng tại Việt Nam như: mức độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại của các
NHTM Việt Nam, mối đe dọa của người gia nhập thủ tiềm năng, mối đe dọa của các
sản phẩm thay thế và sức mạnh của người mua
Luận án tiến sĩ "Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Tố Quyên bảo vệ năm 2014, tại trường
Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả luận án đã chỉ ra nội dung đầu tư, cơ cấu sử dụng
vốn đầu tư phụ thuộc vào chiến lược cạnh tranh, công cụ cạnh tranh của mỗi ngân
hàng. Luận án đã xây dựng quy trình và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu
quả đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại NHTM. Các chỉ tiêu này phản ánh mối
quan hệ chặt chẽ giữa đầu tư với năng lực cạnh tranh và được xác định tùy thuộc vào
chiến lược cạnh tranh của ngân hàng tại mỗi giai đoạn. Tuy nhiên, tác giả tập trung
vào nghiên cứu góc độ đầu tư cho nâng cao năng lực cạnh tranh của một NHTM.
Luận án tiến sĩ “Năng lực cạnh tranh của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tỉnh Long An trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả
Nguyễn Kim Thài, bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
năm 2012. Tác giả tập trung nghiên cứu toàn diện các khía cạnh về năng lực cạnh tranh
và phạm vi chỉ là năng lực cạnh tranh của một chi nhánh NHTM nhà nước.
Công trình nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt
Nam” của tác giả Đặng Hữu Mẫn đăng trên tạp chí Khoa học (Đại học Đà Nẵng) số
5.40 (2010). Nghiên cứu này đã đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt
Nam dựa trên cơ sở phân tích các năng lực bộ phận ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của NHTM như: Năng lực tài chính, năng lực thị phần, năng lực cạnh tranh về
nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh về công nghệ, năng lực cạnh tranh về hệ thống
1.1.2. Một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
NHTM
Luận án tiến sĩ "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán
Việt Nam" của tác giả Nguyễn Duy Hùng, bảo vệ năm 2016 tại trường Đại học
Kinh tế quốc dân. Tác giả luận án đã vận dụng mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ
của Thompson và Strickland (2001) để xác định hệ thống 07 yếu tố bên trong tác
động đến năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam, bao gồm yếu
tố về tiềm lực tài chính; vốn trí tuệ; chất lượng sản phẩm; trình độ công nghệ; chất
lượng dịch vụ; thương hiêu, uy tín và hoạt động xúc tiến; mạng lưới hoạt động.
Luận án đã lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố bên trong tới năng
lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam. Từ đó tác giả đưa ra giải
pháp tương ứng liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh cho các công ty chứng
khoán Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tự do hoá thị trường chứng khoán.
Luận án tiến sĩ "Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM cổ phần Ngoại
thương Việt Nam" của tác giả Hoàng Nguyên Khai bảo vệ năm 2016 tại trường Đại
học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả luận án đã đưa ra quan điểm năng
lực cạnh tranh của ngân hàng là: “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng kiểm
soát các điều kiện kinh doanh thuận lợi của ngân hàng so với NHTM và tổ chức tài
chính khác trong một môi trường nhất định nhằm thu được lợi nhuận tối đa”; đồng
thời đã xây dựng các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM cụ thể như:
Năng lực tài chính; Năng lực về sản phẩm dịch vụ; Trình độ công nghệ ngân hàng;
Nguồn nhân lực và năng lực quản trị điều hành; Thị phần và tốc độ tăng trưởng thị
phần của NHTM. Luận án cũng tập trung làm rõ các nhân tố tác động đến năng lực
cạnh tranh của NHTM bao gồm: Chất lượng dịch vụ; Nỗ lực xúc tiến bán hàng;
Công nghệ; Giá bán (phí dịch vụ).
Luận án tiến sĩ “Năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại
TP.Hồ Chí Minh” của tác giả Hoàng Thị Thanh Hằng bảo vệ năm 2012 tại trường
Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả luận án đã phác hoạ bức tranh
toàn cảnh hoạt động của các công ty cho thuê tài chính có trụ sở chính đóng trên địa
nhân tố thuộc về bản chất cố hữu, nội lực của ngân hàng mình, từ đó đề xuất giải
pháp cho chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh một cách bền vững trong dài hạn,
mở cửa thị trường dịch vụ tài chính vươn tầm khu vực và từng bước hội nhập kinh
tế quốc tế.
Tuy nhiên, như đã đánh giá ở trên, các nghiên cứu trong nước hiện nay tập
trung phân tích nhiều hơn vào đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM trên cơ
sở xem xét, đánh giá riêng lẻ các yếu tố có tác động ảnh hưởng như thị phần, sản
phẩm, thương hiệu, tài chính…. Từ đó đưa ra các khuyến nghị và chính sách cải
thiện cho vấn đề nghiên cứu đang xem xét. Điều này phản ánh mối quan hệ một
chiều khi xem xét đánh giá tác động của từng yếu tố đến năng lực cạnh tranh tổng
hợp của NHTM, mà chưa xem xét so sánh tương quan về mức độ tác động mạnh
yếu giữa các yếu này làm cơ sở đưa ra những chính sách tối ưu trong chiến lược
quản trị. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài trên thế giới
được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới tập trung vào đánh giá năng suất và từ
năng suất có thể phân tích về tính cạnh tranh thông qua các chỉ tiêu năng suất. Từ
kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất với các yếu tố đầu vào có tác động
đến năng suất, đã đi đến lập luận về tác động của năng suất đến hiệu quả kinh doanh
và cạnh tranh của doanh nghiệp ở mức độ ngành so với các ngành khác trên thị
trường. Có thể thấy, các nghiên cứu này hầu hết đều vận dụng mô hình kinh tế
lượng để đánh giá trên quy mô của ngành.
Do đó, hiện nay, các nghiên cứu trong nước cũng nước ngoài chưa thực sự có
một nghiên cứu nào nghiên cứu và xem xét cụ thể tác động tổng hợp của các nhân
tố nội tại (các yếu tố nội lực) ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một NHTM cụ
thể trên cơ sở cảm nhận từ phía khách hàng. Vì thế, tác giả lựa chọn đề tài: “Nhân
21
tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM cổ phần Công thương Việt
Nam” làm công trình nghiên cứu của mình và trình bày nội dung cụ thể trong luận
văn này.
Viersema công bố lần đầu năm 1997 về xây dựng 3 yếu tố trụ cột chính tạo nên sức
23
cạnh tranh của một doanh nghiệp, được mở rộng và kiện toàn bởi một số nhà kinh tế
học như Sheth và Sisodia năm 2002. Lý thuyết này đưa ra quan điểm nhận định về
bản chất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: năng lực cạnh tranh của
một doanh nghiệp phản ánh giá trị cảm nhận mà doanh nghiệp đó đem lại cho các
khách hàng của mình và được xây dựng bởi niềm tin của người sử dụng đối với
thuộc tính cố hữu từ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó cung cấp.
Xuất phát từ hành vi khách hàng khi phát sinh một nhu cầu tiêu dùng, người
tiêu dùng sẽ tiếp cận tìm hiểu những giá trị và lợi ích mà sản phẩm dịch vụ của
doanh nghiệp mang lại và so sánh nó với chi phí họ bỏ ra để mua sản phẩm dịch vụ
của doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp được đánh giá có năng lực cạnh tranh cao
trên thị trường nếu khách hàng đạt được sự thỏa mãn cao hơn mức chi phí mà họ
sẵn sàng bỏ ra khi sử dụng sản phẩm dịch vụ. Nội dung của lý thuyết này chỉ ra cụ
thể 3 yếu tố chính tạo nên sức cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm: (i) sản
phẩm dẫn dầu (ii) khách hàng thân thuộc và (iii) vận hành hoàn hảo. Cụ thể:
-
Trụ cột 1 - Yếu tố “sản phẩm dẫn đầu”: phản ánh về tổng thể chất lượng sản phẩm,
yếu tố mới, tính sáng tạo của sản phẩm dịch vụ, tính đa dạng và khả năng thích nghi
-
đáp ứng yêu cầu đa dạng của các khách hàng trên thị trường.
Trụ cột 2 - Yếu tố “khách hàng thân thuộc”: phản ánh về niềm tin của khách hàng
với uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp, sự trung thành của khách hàng với sản
phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, khả năng tiếp thị, thu hút các khách hàng tiềm
tiêu dùng.
b. Mô hình khả năng cạnh tranh
Mô hình khả năng cạnh tranh (copetitive capacity model) là nghiên cứu được
thực hiện tại Hoa Kỳ và Canada của Barth và cộng sự công bố năm 2003. Kết quả
nghiên cứu về mô hình này đã xác định và đo lường được sự tác động của một loạt
các yếu tố ảnh hưởng đối với khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, đặc biệt là
trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Đây là nghiên cứu mang tính khai phá vấn đề và
thường được sử dụng làm nghiên cứu cơ sở cho các nghiên cứu về năng lực cạnh
tranh trong hoạt động tài chính ngân hàng.
Trong nghiên cứu của mình, Barth (2003) cho rằng năng lực cạnh tranh của
NHTM đo lường thông qua một hệ thống các thang đo nhân tố, gồm có: (i) chất
25