Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ ở tỉnh long an - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

************

HUỲNH THỊ PHƯƠNG HẠNH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở TỈNH LONG AN

Chuyên ngành: Kinh tế – Tài chính – Ngân hàng
Mã số
: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. THÂN THỊ THU THỦY

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008


MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng số liệu
Danh mục biểu đồ
Giải thích một số thuật ngữ sử dụng trong Luận văn
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ
1.1. Những vấn đề chung về bảo hiểm phi nhân thọ ...................................................1
1.1.1. Nguồn gốc và sự ra đời của bảo hiểm phi nhân thọ ...........................................1

2.1.3. Tình hình tham gia bảo hiểm phi nhân thọ tại tỉnh Long An............................23
2.2. Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở tỉnh Long An ..........24
2.2.1. Mạng lưới tổ chức hoạt động ...........................................................................24
2.2.1.1. Các doanh nghiệp bảo hiểm PNT đang hoạt động tại tỉnh Long An ............24
2.2.1.2. Mô hình tổ chức ............................................................................................25
2.2.2. Nhiệm vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ .................................26
2.2.3. Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đang triển khai.....................................27
2.3. Phân tích thực trạng HĐKD bảo hiểm phi nhân thọ tại tỉnh Long An.................28
2.3.1. Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong HĐKD bảo hiểm PNT...............28
2.3.1.1. Những thuận lợi .............................................................................................28


2.3.1.2. Những khó khăn ............................................................................................30
2.3.2. Phân tích các chỉ tiêu tài chính ........................................................................32
2.3.2.1. Chỉ tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc ............................................................32
2.3.2.2. Chỉ tiêu tỷ lệ bồi thường ...............................................................................34
2.3.2.3. Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm ..................................38
2.3.2.4. Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp ....................................................................................41
2.3.2.5. Tỷ lệ nợ phí bảo hiểm ...................................................................................43
2.3.2.6. Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh ........................................................................50
2.4. Đánh giá thực trạng HĐKD bảo hiểm phi nhân thọ tại tỉnh Long An .................53
2.4.1. Những kết quả đạt được ....................................................................................53
2.4.1.1. Các doanh nghiệp phần nào đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng......53
2.4.1.2. Mỗi doanh nghiệp trên đòa bàn có thế mạnh tạo nên lợi thế cạnh tranh .......54
2.4.1.3. Mạng lưới đại lý chuyên nghiệp phủ kín đòa bàn ..........................................55
2.4.1.4. Trình độ văn hoá của cán bộ bảo hiểm phi nhân thọ ....................................56
2.4.1.5. Trình độ nghiệp vụ của cán bộ bảo hiểm phi nhân thọ ................................56
2.4.1.6. Cơ cấu tổ chức ổn đònh .................................................................................56
2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân .........................................................................57
2.4.2.1. Những tồn tại .................................................................................................57


-

Phụ lục 2: Bảng tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm phi nhân thọ hiện hành.

-

Phụ lục 3: Khảo sát đánh giá chất lượng dòch vụ của các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ tỉnh Long An.

-

Phụ lục 4: Tình hình trục lợi bảo hiểm.


-

Phụ lục 5: Số lượng khai thác so với tiềm năng của đòa phương.

Các bảng số liệu về hiệu quả qui ước nội bộ năm 2005 đến năm 2008.
Bảng số liệu các chỉ tiêu năm 2004
Tài liệu tham khảo


Danh mục các chữ viết tắt
1.

BH: Bảo hiểm

2.


10.

TT: Thông tư

11.

BTC: Bộ Tài chính

12.

KV1: Khu vực 1

13.

KV2: Khu vực 2

14.

KV3: Khu vực 3

15.

PNT: Phi nhân thọ

16.

TCN: Trước công nguyên

17.

14. Bảng 2.14 - Lợi nhuận của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
15. Bảng 2.15 - Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bảo hiểm


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1. Biểu đồ 2.1 - Cơ cấu tỷ trọng các khu vực kinh tế tỉnh Long An (2005-6/2008)
2. Biểu đồ 2.2 - Tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc so với cùng kỳ năm
trước
3. Biểu đồ 2.3 - Tốc độ gia tăng chi phí bồi thường bảo hiểm gốc so với cùng kỳ
năm trước
4. Biểu đồ 2.4 - Tốc độ gia tăng doanh thu và bồi thường bảo hiểm thuần so với
cùng kỳ năm trước
5. Biểu đồ 2.5 - Tỷ lệ chi phí bồi thường - Tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh - Tỷ
lệ kết hợp
6. Biểu đồ 2.6 - Nợ trong hạn, nợ quá hạn và nợ không khả năng thu hồi
7. Biểu đồ 2.7 - Lợi nhuận bảo hiểm - Lợi nhuận đầu tư - Tổng lợi nhuận
8. Biểu đồ 2.8 - Hiệu quả kinh doanh


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là một ngành đã được hình thành từ lâu
và phát triển mạnh mẽ. Ngành kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ đã có một vò trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động của bảo hiểm phi nhân thọ thâm
nhập vào mọi lónh vực, có ý nghóa quan trọng thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh
tế – xã hội. Cùng với các ngành nghề ở những lónh vực hoạt động kinh tế khác,
ngành kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là một trong những lónh vực hoạt động
không thể thiếu của nền kinh tế. Khi đời sống người dân ngày càng được nâng cao,
nhu cầu về bảo hiểm phi nhân thọ là nhu cầu cần thiết. Điều này càng khẳng đònh vò

Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở tỉnh Long An.
Trên cơ sở đó, đánh giá những kết quả, những tồn tại trong hoạt động kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở tỉnh
Long An.
Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ ở tỉnh Long An
3. Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh số tương đối, số tuyệt đối, tổng
hợp số liệu để đưa ra những minh chứng, kết luận.


Vận dụng những kiến thức đã học để phân tích chiều rộng lẫn chiều sâu về
hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ ở tỉnh Long An.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn chỉ nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ ở tỉnh Long An từ năm 2005 đến năm 2008 nhằm đưa ra những giải pháp
cơ bản nhất, chủ yếu nhất gắn liền với thực trạng của các doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ ở tỉnh Long An.
5. Ý nghóa thực tiễn của Luận văn.
Từ thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở tỉnh Long An, luận văn đưa ra những giải pháp
nhằm giúp các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại tỉnh nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần để kinh tế đòa phương phát triển.
6. Nội dung và kết cấu của Luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ.
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ ở tỉnh
Long An

thức nguyên khai của bảo hiểm. Sau đó để đối phó với những tổn thất nặng nề, hình
thức cho vay mạo hiểm đã xuất hiện ở Babylone (1.700 năm TCN) và Athènes (500
năm TCN). Theo đó, trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hàng hóa trong quá
trình vận chuyển, người vay sẽ được miễn trả khoản tiền vay cả vốn lẫn lãi; ngược
lại, họ phải trả một lãi suất rất cao khi hàng hóa đến bến an toàn. Lãi suất cao này
được xem như là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm. Song, số vụ tổn thất xảy ra
ngày càng nhiều làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn lâm vào tình thế nguy
hiểm và thay thế nó là hình thức bảo hiểm ra đời.
Vào thế kỷ XIV, ở Floren nước Ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên
xuất hiện. Theo đó, một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi
thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chòu khi có


3

thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoản phí. Hợp đồng bảo
hiểm hàng hải cổ xưa nhất có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren.
Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ, bảo hiểm hàng
hải đã phát triển rất nhanh.
Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vò trí hàng đầu trong buôn bán và
hàng hải quốc tế với Luân Đôn là trung tâm phồn thònh nhất. Tàu của các nước đi từ
Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều cập bến hai bên bờ sông Thame. Các
tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở,
người bảo hiểm … để giao dòch, trao đổi tin tức, bàn luận trực tiếp với nhau, cụ thể ở
Anh Quốc vào năm 1600, hoạt động kinh doanh bảo hiểm được Nữ hoàng cho phép
và năm 1720, các nhà bảo hiểm Lloys’s ra đời. Sau đó 60 năm, họ đảm bảo 90% rủi
ro hàng hải trên thế giới.
Sau bảo hiểm hàng hải là sự xuất hiện của bảo hiểm hỏa hoạn. Điều này
được đánh dấu bằng sự kiện vào năm 1666 ở Anh quốc, một vụ hoả hoạn kinh hoàng
tại Luân Đôn đã thiêu rụi 13.200 ngôi nhà trong đó có hơn 100 nhà thờ. Vụ hỏa hoạn

họ trong các trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm xã hội gặp rủi ro ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, rủi ro tuổi già, làm cho gia đình bò mất
hoặc giảm thu nhập bất ngờ.
(1): Dennis Kessler, Risque No 17, Jan-Mars 1994.
(2): Monique Gaultier, Généralité sur I’assurance, Projet d’assur, L’école
supérieur des Finances et de la Comptabilité de Hanoi-1994.


5

Bảo hiểm thương mại là hoạt động bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức
kinh doanh bảo hiểm trên thò trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm thương mại chỉ
những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở
người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo
hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thoả thuận trước trên
hợp đồng.
Bảo hiểm thương mại được chia ra làm hai loại là bảo hiểm nhân thọ và bảo
hiểm phi nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được
bảo hiểm sống hoặc chết. Ví dụ như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm
tử kỳ.
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân
sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:
- Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người;
- Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường
sắt và đường không;
- Bảo hiểm hàng không;
- Bảo hiểm xe cơ giới;

Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng
bảo hiểm.


7

- Nguyên tắc bồi thường
Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải
bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vò trí tài chính
như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi
dụng bảo hiểm để trục lợi.
- Nguyên tắc thế quyền
Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người
được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba trách
nhiệm bồi thường cho mình.
1.1.5. Bản chất của bảo hiểm phi nhân thọ
Thực chất bảo hiểm phi nhân thọ là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh
trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trò nhằm hình
thành và sử dụng quỹ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ gây
ra cho bên được bảo hiểm, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thường xuyên và
liên tục.
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thò trường các mối quan hệ kinh tế rất đa
dạng và phức tạp. Bảo hiểm phi nhân thọ, dưới mọi góc độ như doanh nghiệp bảo
hiểm, sản phẩm bảo hiểm, quản lý nhà nước, hiệp hội bảo hiểm…, bức thiết phải
được xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng nhằm phát huy chức năng vốn có của
mình: bảo vệ con người, bảo vệ tài sản, bảo vệ của cải vật chất của xã hội.
1.1.6. Sự cần thiết của bảo hiểm phi nhân thọ đối với đời sống kinh tế – xã
hội
Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, con người với tư cách là chủ thể
của hoạt động có ý thức, luôn phải đối đầu với các rủi ro. Tác động của rủi ro của


một mạng lưới đại lý rất mạnh, tạo ra công việc làm, thu hút một số lượng lớn lao
động tại các đòa phương, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp cho xã hội.
Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ còn có vai trò lá chắn kinh tế cho
các cá nhân/tổ chức. Điều này được thể hiện qua số liệu thống kê của Hiệp hội Bảo
hiểm Việt Nam. Trong nhiều năm qua, số tiền chi trả bồi thường của các DNBH
PNT rất lớn và ngày càng tăng qua các năm. Thực tế cho thấy, một số cá nhân/tổ
chức kinh tế khi không may gặp rủi ro, tưởng như cá nhân/ tổ chức đó rơi vào tình
trạng phá sản nhưng họ đã tham gia hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm đã
giúp họ nhanh chóng hoạt động trở lại. Điều đó chứng tỏ rằng, các DNBH PNT thật
sự là lá chắn cho các doanh nghiệp và cá nhân trong việc bù đắp những thiệt hại tài
chính, ổn đònh sản xuất và hỗ trợ kinh tế khi không may gặp rủi ro, tai nạn bất ngờ.
Những năm qua, các DNBH PNT đã chi trả nhiều vụ bồi thường tổn thất lớn như BH
cháy nổ, BH hàng hoá xuất nhập khẩu. Số tiền bồi thường lên đến hàng chục tỷ
đồng, giúp tổ chức/cá nhân ổn đònh kinh doanh sản xuất.
- Về mặt tài chính
Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ với tư cách là một đơn vò cung
cấp một loại sản phẩm dòch vụ cho xã hội, tham gia vào quá trình phân phối như là
một đơn vò ở khâu cơ sở trong hệ thống tài chính.
Ngoài ra, hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ đáp ứng nhu cầu vốn không
ngừng tăng lên của quá trình tái sản xuất mở rộng. Việc thu phí theo nguyên tắc
“ứng trước”, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chiếm giữ một quỹ tiền tệ rất
lớn tạm thời nhàn rỗi. Điều này giúp cho các doanh nghiệp bảo hiểm trở thành
những nhà đầu tư lớn, quan trọng cho các hoạt động khác của nền kinh tế quốc dân.


10

Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ huy động nguồn vốn trong dân cư
và sử dụng một phần nguồn vốn này đầu tư trở lại nền kinh tế, thông qua các hình

- Yêu cầu về mặt hoạt động kinh doanh: Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
phải được tổ chức thành một bộ máy hoàn chỉnh để có thể vận hành, gồm các bộ
phận chức năng như quản lý, nghiệp vụ, kinh doanh, tài chính-kế toán, hành chính
nhân sự,…
- Yêu cầu về tài chính: Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tập trung huy
động nguồn vốn từ số đông khách hàng nên phải có sự đảm bảo về mặt tài chính (ký
quỹ, quỹ dự phòng, vốn điều lệ, hiệu quả đầu tư,…) để hoạt động và tạo sự tin tưởng
đối với khách hàng. Những yêu cầu về tài chính phải được giám sát chặt chẽ bởi các
cơ quan quản lý nhà nước.
- Yêu cầu về mặt pháp lý: Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải được
thành lập và hoạt động đúng theo qui đònh của luật pháp đòa phương hoặc quốc gia
mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh.
1.2.1.2. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Trong lónh vực kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, các doanh nghiệp được
thành lập dưới các hình thức là doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước, doanh nghiệp bảo
hiểm cổ phần và doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ.
Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước là doanh nghiệp bảo hiểm mà quyền sở
hữu doanh nghiệp thuộc về Nhà nước.
Doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần được sở hữu bởi các cá nhân và/ hoặc các
tổ chức cùng chia nhau nắm giữ những phần khác nhau trong vốn sở hữu của doanh


12

nghiệp, họ được gọi là cổ đông. Khi doanh nghiệp hoạt động có lãi, một phần lợi
nhuận của doanh nghiệp sẽ được chia cho mỗi cổ đông gọi là cổ tức.
Doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ là doanh nghiệp bảo hiểm do chính các
chủ hợp đồng bảo hiểm của doanh nghiệp nắm quyền sở hữu. Nếu hoạt động có lãi,
một phần lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được chia cho mỗi chủ hợp đồng dưới dạng
bảo tức. Một đặc điểm quan trọng của doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ là không

- Đònh phí bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần xác đònh được giá bán sản phẩm
trước khi cung cấp ra thò trường, công việc đó được gọi là đònh phí bảo hiểm. Việc
đònh phí bảo hiểm được thực hiện bởi các đònh phí viên, những người này có trách
nhiệm tính toán và đưa ra mức phí (tỷ lệ phí) cho từng loại sản phẩm.
Cơ sở đònh phí bảo hiểm:
Luật số lớn trở thành cơ sở kỹ thuật quan trọng của bảo hiểm bởi vì nó chỉ ra
rằng việc không thể tiên liệu sự cố cho mỗi trường hợp riêng lẻ nay trở thành có thể
tiên liệu khi kết hợp số lớn các trường hợp tương đồng. Như vậy, người bảo hiểm có
thể đảm bảo một rủi ro hoàn toàn bấp bênh, bất trắc đối với người được bảo hiểm.
Vấn đề đặt ra là để tính toán được xác suất biến cố được bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm
phải dựa trên việc thực hiện công việc thống kê một cách khoa học.
Thống kê cung cấp cho người bảo hiểm con số về các lần rủi ro đã xảy ra
trong quá khứ và giá trò của tổn thất. Trên cơ sở đó, người bảo hiểm có thể dự báo



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status