BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TRỌN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TRỌN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS,TS. NGUYỄN VĂN SĨ
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
3
BH
Bảo hiểm
4
BHNT
Bảo hiểm nhân thọ
5
BHPNT
Bảo hiểm phi nhân thọ
6
BHTM
Bảo hiểm thương mại
7
DN
Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện
13
PVI
Tổng Công ty bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
14
TNDS
Trách nhiệm dân sự
15
TSCĐ
Tài sản cố định
16
PNT
Phi nhân thọ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Kết quả tung con xúc sắc
4
1.1.2. Phân loại bảo hiểm
4
1.1.3. Vai trò và sự cần thiết của bảo hiểm
7
1.1.4. Cơ sở kỹ thuật quan trọng và các nguyên tắc hoạt động cơ bản
9
1.1.4.1. Cơ sở kỹ thuật quan trọng của bảo hiểm
9
1.1.4.2. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm
12
1.2. Những hoạt động cơ bản của BH PNT
13
1.2.1. Hoạt động khai thác bảo hiểm
13
1.4.1. Sử dụng mô hình PEST để phân tích môi trường vĩ mô
23
1.4.2. Sử dụng mô hình 5 thế lực cạnh tranh để phân tích môi trường ngành
23
1.4.3. Phân tích SWOT của DN
24
Chương 2: Phân tích hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Tổng
Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
25
2.1. Giới thiệu về Tập đoàn tài chính- bảo hiểm Bảo Việt và Tổng Công ty Bảo
hiểm Bảo Việt
25
2.1.1. Vài nét về Tập đoàn
25
2.1.2. Vài nét về Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
29
45
2.4.1. Kết quả hoạt động chung của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
45
2.4.2.Đánh giá các chỉ số tài chính của các DNBH tốp đầu
46
2.4.3. Chỉ tiêu năng suất lao động
48
2.4.4. Đánh giá của khách hàng về thương hiệu và sản phẩm/dịch vụ
49
2.4.5. Độ hài lòng của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ của Bảo Việt
49
2.4.6.Những tồn tại, hạn chế của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
50
Chương 3: KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO
HIỂM BẢO VIỆT
57
3.2.5. Phát triển kênh phân phối sản phẩm
58
3.2.6. Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng
58
3.2.7. Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng và công tác giám định, bồi thường
59
3.2.8. Về phía khách hàng
60
3.3. Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước
60
3.3. Kiến nghị với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
62
KẾT LUẬN
63
Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề về cơ sở lý luận thuộc lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh phi nhân thọ
tại Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt, nhằm chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và
thách thức của DN để DN phát huy điểm mạnh vốn có của mình, hạn chế điểm yếu,
tận dụng các cơ hội để vượt qua các thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt trong
quá trình hoạt động.
2
Trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp nhằm gia tăng mở rộng thị phần,
tăng lợi nhuận cho DN,...góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt.
3. Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan:
Liên quan đến các nghiên cứu thuộc lĩnh vực bảo hiểm thương mại gồm
có:
- Nghiên cứu sinh Phí Trọng Thảo, năm 2004 đã nghiên cứu đề tài "Giải
pháp thỏa mãn nhu cầu tiềm năng về bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam".
- Nghiên cứu sinh Phạm Thị Định, năm 2004 đã nghiên cứu đề tài "Hoạt
động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước ở Việt Nam".
- Nghiên cứu sinh Đoàn Minh Phụng, năm 2006 với đề tài nghiên cứu
"Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các DNBH nhà
nước Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội nhập".
- Nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Trị, năm 2006 đã nghiên cứu đề tài
"Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam theo
mô hình Tập đoàn kinh doanh".
- Nghiên cứu sinh Trần Hùng Dũng, năm 2007 đã nghiên cứu đề tài "Giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ Việt Nam;....
Tuy nhiên, đề tài "Nâng cao hiệu quả hoạt động KDBH PNT tại Tổng
ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc
phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo
hiểm.
1.1.2. Phân loại bảo hiểm:
Ngoài loại hình BHTM, còn có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp. Ở gốc độ bài nghiên cứu này chỉ đề cập đến loại hình BHTM, giới hạn
trong phạm vi lĩnh vực BHPNT.
Căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm, BHTM được chia thành ba loại: bảo
hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm và bảo hiểm con người. Mỗi loại có một đối
tượng bảo hiểm cụ thể và có những quy tắc bảo hiểm đặc trưng riêng cho từng loại
bảo hiểm cụ thể.
5
Căn cứ vào hình thức bảo hiểm, BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm
bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.
Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm
nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
a.
Bảo hiểm nhân thọ:
BHNT là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền
thỏa thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến sinh mạng và sức khỏe của
con người. BHNT là loại hình bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngược nhau đó là sống
và chết. BHNT còn được chia ra thành: BHNT tử vong, bảo hiểm sinh kỳ, BHNT
hỗn hợp. Bên cạnh đó, khi triển khai BHNT các DNBH còn kết hợp triển khai các
điều khoản bảo hiểm bổ sung nhằm mục đích đan dạng hóa sản phẩm và mở rộng
phạm vi bảo hiểm để thu hút khách hàng.
Có mối quan hệ về quyền lợi, trách nhiệm bồi thường giữa người bảo
hiểm, người được bảo hiểm và người thứ ba (trừ bảo hiểm con người).
6
Về hình thức bảo hiểm: BHPNT có hai hình thức bảo hiểm đó là bảo hiểm
bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện. Hình thức bảo hiểm bắt buộc trong bảo hiểm phi
nhân thọ chỉ được áp dụng đối với loại hình bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối
với người thứ ba, một số đối tượng có nguy cơ cháy, nổ cao và mức độ ảnh hưởng
lớn thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm cháy, nổ,...
Bảo hiểm phi nhân thọ được phân loại như sau:
b.1. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm:
Căn cứ vào nhóm đối tượng bảo hiểm, BHPNT được chia thành ba nhóm chủ
yếu sau:
- Nhóm bảo hiểm tài sản: đây là nhóm có đối tượng được bảo hiểm là tài sản.
Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm do mất mát, hư hỏng người bảo hiểm có trách nhiệm
bồi thường cho bên được bảo hiểm căn cứ vào mức độ thiệt hại của tài sản và các
thỏa thuận đã ký kết giữa hai bên.
- Nhóm bảo hiểm con người: có đối tượng bảo hiểm là tính mạnh, sức khỏe,
thương tật thân thể của người được bảo hiểm. Khi xảy ra sự kiện thuộc phạm vi bảo
hiểm theo thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm, bên bảo hiểm sẽ chi trả bảo hiểm theo
nguyên tắc khoán cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng hợp pháp.
- Nhóm bảo hiểm trách nhiệm dân sự: đối tượng bảo hiểm của nhóm này là
trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba, ngoài bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm
theo hợp đồng. Trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của pháp luật dân sự, theo đó
người được bảo hiểm phái có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, tính
mạng, sức khỏe cho người khác từ hành vi của mình hoặc do sự vận hành, hoạt
thời bù đắp tổn thất, góp phần đảm bảo an ninh kinh tế, phúc lợi, an sinh xã hội. Chỉ
tính riêng năm 2013, năm 2014 các DNBH đã giải quyết bồi thường cho người
tham gia bảo hiểm lần lượt là 18,163 tỷ đồng và 19,752 tỷ đồng. Trong trường hợp
không có số tiền trên để bù đắp thiệt hại khi có rủi ro xảy ra thì không ít doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế và người dân sẽ gặp khó khăn trong việc khắc phục các thiệt
hại lớn, tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống: khi kinh doanh ngày
càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người ta càng có nhu
cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai. Môi trường kinh doanh cũng như môi
trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới. Những rủi ro do thiên nhiên như
8
bão lũ, hạn hán, sóng thần, cháy rừng tự nhiên... đang trở nên hết sức phức tạp, khó
dự đoán do môi trường thế giới đang thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Như vậy,
bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm
trong kinh doanh, trong cuộc sống cho con người.
Bên cạnh việc giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực
hiện một nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro. Đó là đề phòng và hạn chế
tới mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra. Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về
người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế - xã hội cũng được
chủ động phòng tránh. Dựa trên cơ sở các rủi ro xảy ra hàng năm, các tổ chức kinh
doanh bảo hiểm tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống kê các tai nạn, tổn thất, từ đó
xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thiệt hại. Những nghiên
cứu này giúp các công ty bảo hiểm có thể thực hiện hoặc phối hợp, hướng dẫn
khách hàng thực hiện các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất nhằm
giảm đến mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra, góp phần đảm bảo an toàn, hạn chế
tai nạn, tổn thất trong phạm vi toàn xã hội.
Với vai trò trung gian tài chính, bảo hiểm là kênh huy động vốn để đầu tư,
bản của nó.
1.1.4.1 Cơ sở kỹ thuật quan trọng của bảo hiểm:
* Quy luật số lớn:
Hoạt động bảo hiểm thương mại vận dụng cơ sở Lý thuyết về xác suất của
nhà toán học người Pháp, Pascal và Quy luật số lớn của Iacop Bernoulli, một nhà
toán học người Thụy sỹ. Luật số lớn là kết quả của quá trình thực nghiệm (tiếp nối
nghiên cứu của Pascal): tung một con xúc sắc 6 mặt đồng chất, quan sát và ghi lại
kết quả sau mỗi lần thực nghiệm (phép thử). Nếu số phép thử là ít, kết quả thu được
về số lần xuất hiện của các mặt (từ mặt 1 chấm đến mặt 6 chấm) có sự chênh lệch
rất lớn. Chẳng hạn, kết quả thu được về sự xuất hiện của mặt 3 chấm và 6 chấm như
sau:
10
Bảng 1.1. Kết quả tung con xúc sắc
Số lần tung xúc
sắc
Mặt 3 chấm
Số lần xuất
hiện
Mặt 6 chấm
Tần suất
Số lần xuất
hiện
0,200
Nếu số phép thử đủ lớn sẽ cho một kết quả với số lần xuất hiện mặt 3 chấm
cũng tương đương với số lần xuất hiện của tất cả các mặt còn lại. Chẳng hạn, nếu
tung con xúc sắc đến 60.000 lần thì số lần xuất hiện của các mặt đều xấp xỉ bằng
nhau và = 10.000 lần. Như vậy, nếu thực hiện được 60.000 lần thử thì tần suất của
biến cố xuất hiện bất cứ mặt nào cũng xấp xỉ bằng 1/6.
Trong trò chơi con xúc sắc, nếu người chơi xem xét sự xuất hiện một mặt
nào đó, mặt 6 chấm chẳng hạn thì sự xuất hiện mặt 6 chấm được coi là biến cố
thuận lợi; sự xuất hiện của các mặt còn lại (từ mặt 1 chấm đến mặt 5 chấm) là
những biến cố xung khắc. Mỗi lần chơi đều có thể xuất hiện bất kỳ một mặt nào, do
đó, trong mỗi lần chơi số trường hợp có thể xảy ra là 6 trong khi số trường hợp
thuận lợi chỉ là 1. Như vậy, khả năng xuất hiện mặt 6 chấm (biến cố thuận lợi) trong
một lần chơi bằng 1/6. Người ta gọi khả năng xuất hiện biến cố thuận lợi là xác suất
của biến cố đó.
Khi nghiên cứu xác suất của một biến cố nào đó, nếu khả năng xuất hiện
trường hợp thuận lợi là chắc chắn thì xác xuất của biến cố đó = 1, nếu không thể
xảy ra trường hợp thuận lợi thì xác suất của biến cố đó = 0. Xác suất của mọi biến
cố đều nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Trở lại thử nghiệm với con xúc sắc, kết quả đã
cho thấy: nếu số phép thử đủ lớn, tần suất biến cố sẽ xích gần lại với xác suất lý
thuyết của biến cố đang xem xét. Như vậy, để tính xác suất của một biến cố, nếu
thống kê được một số lượng đủ lớn các trường hợp đã xuất hiện biến cố đó trong
11
thực tế, có thể xấp xỉ xác suất của biến cố bằng tần suất biến cố - kết quả tính được
từ số liệu thống kê.
Quy luật số lớn là cơ sở kỹ thuật then chốt của bảo hiểm, được phát biểu như
nghiệp vụ, các doanh nghiệp còn sao chép, "bắt chước" sản phẩm và phí bảo hiểm
lẫn nhau, giảm phí bảo hiểm đơn thuần chỉ để lôi kéo khách hàng chưa dựa trên các
nền tảng về mặt kỹ thuật.
1.1.4.2 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm:
* Nguyên tắc sàng lọc: Đặc trưng của nghề nhận chuyển gia rủi ro, thực tế
kinh doanh cho thấy DNBH luôn phải đối mặt với những "lựa chọn bất lợi", do đó
nhà bảo hiểm phải đánh giá cân nhắc trước và trong khi thực hiện bất kỳ một quyết
định nào. Trước những nhu cầu bảo hiểm rất đa dạng của nhiều loại khách hàng như
:có yêu cầu bảo hiểm cho rủi ro ở mức trung bình, có yêu cầu bảo hiểm với mức độ
rủi ro cao hơn thậm chí là rất xấu. Liệu DNBH có thể chấp nhận mọi yêu cầu bảo
hiểm của người mua bảo hiểm hay không? Câu trả lời sẽ là "có" nếu người mua bảo
hiểm sẵn sàng chấp nhận giá mà người bảo hiểm yêu cầu. Điều đó có nghĩa là mức
độ rủi ro tỷ lệ thuận với phí bảo hiểm. Sàng lọc đòi hỏi người bảo hiểm phải từ chối
những trường hợp mức độ rủi ro quá lớn; phân nhóm các đối tượng bảo hiểm, rủi ro
được bảo hiểm theo những tiêu thức phù hợp để có thể sắp xếp được các rủi ro có
tính đồng nhất trong cùng một nhóm và định phí bảo hiểm theo từng nhóm đó . Quá
trình đánh giá rủi ro trước khi nhận bảo hiểm cho phép DNBH sàng lọc được rủi ro,
hạn chế sự lựa chọn bất lợi và có được quyết định đúng để đảm bảo hiệu quả kinh
doanh cho doanh nghiệp.
* Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được
thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, công khai và minh bạch. Tuy nhiên, trong bảo
hiểm, điều này được thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và ràng buộc cao
hơn về mặt trách nhiệm. Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối quan hệ bảo hiểm
(người bảo hiểm và người được bảo hiểm) phải tuyệt đối trung thực với nhau, tin
tuởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính
xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách
nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp. Nếu một bên vi phạm
thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực hoặc vô hiệu từng phần.
định trước giá thành sản phẩm. Đối với các ngành sản xuất khác thì giá bán được
14
tính trên cơ sở giá thành sản phẩm trong khi đó phí bảo hiểm hay giá bán của sản
phẩm bảo hiểm chỉ được ước tính trên cơ sở thống kê các dữ liệu trong quá khứ, giá
thành được xác định chính xác khi kết thúc năm bảo hiểm.
1.2.2. Hoạt động tái bảo hiểm:
Hoạt động nhận tái bảo hiểm nhằm mục đích tăng doanh thu, lợi nhuận và
tăng cường sự hợp tác giữa các nhà bảo hiểm. Hoạt động nhượng tái bảo hiểm nhằm
phân tái rủi ro, đảm bảo sự an toàn cho DNBH trong các vụ tổn thất có qui mô lớn,
thiên tai, địch hoa,…
Theo quy định của Bộ Tài chính DNBH có thể chuyển một phần trách nhiệm
bảo hiểm cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng không được
nhượng toàn bộ trách nhiệm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho DNBH khác
để hưởng hoa hồng tái bảo hiểm.
DNBH có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm mà DNBH khác đã nhận bảo
hiểm. Khi nhận tái bảo hiểm, DNBH phải đánh giá rủi ro để đảm bảo được khả
năng tài chính của doanh nghiệp.Tái bảo hiểm có thể cho phép DNBH có thể chấp
nhận bảo hiểm tài sản hoặc bảo hiểm trách nhiệm với số tiền bảo hiểm lớn hơn khả
năng tài chính của mình bằng cách chia sẻ rủi ro cho nhà bảo hiểm nhận tái. Tái bảo
hiểm thực chất là sự chia sẻ rủi ro và trách nhiệm giữa các DNDH với nhau. Tuy
nhiên, nếu tái bảo hiểm cho doanh nghiệp có khả năng tài chính yếu khi tổn thất lớn
xãy ra, doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm có thể phá sản sẽ làm ảnh hưởng đến doanh
nghiệp đã nhượng tái vì doanh nghiệp này vẫn có nghĩa vụ bồi thường đầy đủ cho
khách hàng. Để hạn chế điều này, Bộ Tài chính quy định rõ chỉ tái bảo hiểm cho
công ty bảo hiểm nước ngoài đạt tiêu chuẩn xếp hạng từ BBB theo xếp hạng của
quốc tế.
1.2.3. Giải quyết quyền lợi chi trả bảo hiểm:
1.2.4. Hoạt động quản lý quỹ và đầu tư vốn:
Do đặc thù của hoạt động KDBH là phí bảo hiểm được thu trước còn trách
nhiệm bồi thường, trả tiền bảo hiểm của DNBH phát sinh sau thời điểm thu phí. Vì
đặc điểm này mà trong quá trình kinh doanh, DNBH luôn có nguồn vốn lớn tạm
thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến. Để bảo toàn và phát triển vốn, các DNBH sử dụng
các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời để đầu tư.
16
Nguồn vốn đầu tư của DNBH bao gồm: vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ
dự trữ tự nguyện, các khoản lãi chưa sử dụng, các quỹ hình thành từ lợi tức được sử
dụng để đầu tư và nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ. Thông thường, nguồn
vốn từ dự phòng nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Các quỹ dự phòng nghiệp vụ
chính là khoản nợ của DNBH đối với người được bảo hiểm, do vậy việc sử dụng
nguồn vốn này trong hoạt động đầu tư được quản lý và giám sát chặt chẽ. Hoạt
động đầu tư vốn chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp lý, bắt buộc các DNBH
sử dụng an toàn, hiệu quả nguồn vốn này là bảo vệ một cách gián tiếp quyền lợi của
người tham gia bảo hiểm.
Ngoài các hoạt động nêu trên, DNBH còn thực hiện các hoạt động đề phòng
hạn chế tổn thất; trích lập dự phòng phí, dự phòng bồi thường, dự phòng dao động
lớn và một số hoạt động khác theo quy định của pháp luật, như đào tạo và tư vấn;
xây dựng các phương án quản lý rủi ro cho khách hàng; tổ chức các hoạt động dịch
vụ khác có liên quan,...
1.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các DNBH PNT:
1.3.1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh của DNBH là thước đo sự phát triển của bản thân
doanh nghiệp và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả
kinh doanh nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
- Với tư cách là thước đo sự phát triển của DNBH, hiệu quả kinh doanh thể
hiệu quả nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi này, góp phần đáng kể vào việc tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, thậm chí có thể dùng
để thưởng cho người tham gia bảo hiểm liên tục với số tiền bảo hiểm lớn, tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác khai thác bảo hiểm sau này.
1.3.2. Một số nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả kinh doanh của
DNBH PNT:
1.3.2.1. Các nhân tố khách quan:
- Sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế. Nếu một nền kinh tế có tốc độ
phát triển nhanh và ổn định, kéo theo là trình độ dân trí và mức sống của người dân
ngày càng cao sẽ làm tăng cầu tham gia bảo hiểm của người dân và các tổ chức kinh
tế, xã hội.