Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

QUẢN THỊ NGỌC THẢO

NGUY£N T¾C THÈM PH¸N Vµ HéI THÈM XÐT Xö §éC LËP
Vµ CHØ TU¢N THEO PH¸P LUËT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

QUẢN THỊ NGỌC THẢO

NGUY£N T¾C THÈM PH¸N Vµ HéI THÈM XÐT Xö §éC LËP
Vµ CHØ TU¢N THEO PH¸P LUËT
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 62 38 01 04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
2. PGS.TS Nguyễn Tất Viễn

HÀ NỘI - 2017


1.3.

Những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu ........................................18

Kết luận Chương 1 .....................................................................................................20
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC THẨM
PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ................................22
2.1.

Nguồn gốc và khái niệm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật .........................................................................22

2.2.

Ý nghĩa của việc quy định nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật...................................................................27

2.3.

Đặc điểm và nội dung của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự ........................30

2.4.

Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện nguyên tắc Thẩm
phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật .........................48

2.5.


Kết luận Chương 3 ...................................................................................................124
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC
THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN
THEO PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ ......................125
4.1.

Yêu cầu khách quan bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật .......................................................125

4.2.

Các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật .....................................................133

4.3.

Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán, Hội
thẩm trong quá trình xét xử vụ án hình sự ....................................................141

Kết luận Chương 4 ...................................................................................................147
KẾT LUẬN .............................................................................................................148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN.......................................................................................................151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................152
PHỤ LỤC ................................................................................................................166


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QPPL:



Trang
87

Biểu đồ 3.1. So sánh số lượng vụ án bị hủy, sửa, giám đốc
thẩm, tái thẩm trên tổng số vụ án đã xét xử

88

Biểu đồ 3.2. Diễn biến tỉ lệ vụ án bị hủy, sửa

88

Biểu đồ 3.3. Tương quan tỉ lệ về lí do hủy, sửa vụ án

89


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Đề tài
Tư pháp là hiện thân của công lý. Để công lý được đảm bảo và thực thi, tư
pháp cần phải được độc lập. Đó là một định đề được thừa nhận chung trong lịch sử
tư pháp của nhân loại. Trong xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay,
độc lập trong hoạt động xét xử nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng đã được
ghi nhận trong Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phụ thuộc
vào thể chế chính trị và cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước.
Ở Việt Nam, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, hệ thống tư pháp
thực dân phong kiến bị xóa bỏ, hệ thống tư pháp của chính quyền dân chủ nhân dân
được thiết lập, nguyên tắc độc lập của Tòa án được ghi nhận từ rất sớm. Các bản

Vấn đề có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng trong thực tiễn việc thực hiện
nguyên tắc độc lập xét xử chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cải cách tư pháp
về bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Các công trình nghiên cứu về tư pháp
tuy nhiều nhưng vẫn còn để ngỏ một số vấn đề quan trọng mà thực tiễn tư pháp hình
sự đặt ra đối với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong luật TTHS. Những năm qua, có một số công trình nghiên cứu của
các tác giả về nguyên tắc độc lập xét xử nhưng thường khai thác ở khía cạnh chung,
từ góc độ tổ chức quyền lực tư pháp và hoạt động của Tòa án. Nguyên tắc độc lập
xét xử thường được xem xét với tính cách là một nguyên tắc hiến định, chung cho
tất cả các loại hình tố tụng tư pháp (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành
chính). Tuy vậy, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống,
toàn diện, chuyên biệt về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật trong luật TTHS Việt Nam. Mặt khác, trong thực tiễn nhận thức
về nguyên tắc này trong các cơ quan và công chức nhà nước, kể cả công chức hoạt
động trong lĩnh vực tư pháp chưa thật đầy đủ; hoặc nhận thức được nhưng do những
lý do khách quan và chủ quan đã không thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Điều đó
không chỉ ảnh đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người mà còn làm
suy giảm niềm tin vào công lý.

2


Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập về pháp luật và tư pháp ngày càng
sâu rộng đòi hỏi hệ thống tư pháp của nước ta dần tiến đến các tiêu chuẩn của một
nền tư pháp hiện đại, đủ khả năng bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ công lý, quyền con
người, quyền công dân như Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định, nhằm thúc đẩy thực
hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Điều đó vừa là nhu cầu tự thân của đổi mới hệ thống tư pháp, vừa là yêu cầu chung
để xây dựng nền tư pháp tiến bộ, văn minh trong Nhà nước pháp quyền hiện đại. Việc

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
* Đối tượng nghiên cứu: là các vấn đề lý luận và thực tiễn về nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật TTHS
Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu: luận án tập trung xác định và giới hạn nghiên cứu
đối với những yếu tố cơ bản nhất, cần thiết nhất tác động, ảnh hưởng đến việc thực
hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự theo Bộ luật TTHS năm 2003. Từ đó đề
xuất những giải pháp nhằm đảm bảo khắc phục những bất cập, hạn chế khi áp dụng
nguyên tắc này.
Về không gian nghiên cứu: luận án chỉ tập trung nghiên cứu ở Việt Nam.
Tuy nhiên, để phục vụ cho việc so sánh, đối chiếu cơ sở pháp lý và thực tiễn về
nguyên tắc này ở Việt Nam, luận án có tìm hiểu các quan niệm, quy định pháp luật
quốc tế về nguyên tắc độc lập xét xử.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Một số nguyên lý, quy luật và phạm trù của chủ
nghĩa duy vật biện chứng được vận dụng để nghiên cứu luận án. Thông qua đó làm
rõ mối tương quan giữa yêu cầu của pháp luật về độc lập xét xử và khả năng hiện
thực để thực hiện các yêu cầu đó. Đồng thời xem xét các hiện tượng phát sinh trong
quá trình thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử trong mối liên hệ hữu cơ với các yếu
tố như chính sách hình sự, thể chế pháp lý, nhân lực, cơ sở vật chất bảo đảm cho
hoạt động tư pháp độc lập.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án gồm:
4


- Phương pháp phân tích được dùng để xác định mối liên hệ giữa cái chung
(độc lập xét xử của tư pháp nói chung) với cái riêng (độc lập xét xử trong các thủ
tục tố tụng tư pháp hình sự, dân sự, hành chính) và cái đặc thù (độc lập xét xử trong

- Hướng tiếp cận của luận án:
Tiếp cận dưới góc độ pháp lý hình sự và TTHS: Trên cơ sở lý luận và lịch sử
về nhà nước, các học thuyết tổ chức quyền lực nhà nước về mô hình TTHS là cơ sở
quan trọng để xem xét, nghiên cứu về nội dung, ý nghĩa và các yếu tố tác động đến
việc thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật trong luật TTHS Việt Nam.
Tiếp cận hệ thống: phân tích và đánh giá các nội dung và các yếu tố bảo đảm
thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử trong một thể thống nhất.
Tiếp cận liên ngành: có sự phối hợp của nhiều ngành khoa học xã hội nhân
văn như luật học so sánh, xã hội học, khoa học lịch sử, chính trị học...
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án đã khái quát sự hình thành và phát triển của tư tưởng độc
lập xét xử như là một giá trị chung, tiến bộ của nhân loại, đã được ghi nhận thành một
nguyên tắc pháp lý quan trọng trong các đạo luật cơ bản của nhiều quốc gia, qua đó
xác định tính chất đặc trưng của nguyên tắc độc lập xét xử trong luật TTHS.
Thứ hai, luận án đã đưa ra khái niệm về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật TTHS Việt Nam; phân tích nội
dung của nguyên tắc này trong xét xử vụ án hình sự.
Thứ ba, luận án xác định được các yếu tố phổ quát và yếu tố đặc thù ảnh
hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật trong luật TTHS Việt Nam.
Thứ tư, trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và
Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Bộ luật TTHS năm 2003,
đưa ra các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tình hình mới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả của luận án góp phần làm rõ, phát triển và bổ sung cơ sở lý luận
của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

6

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyên tắc độc lập xét xử được quy định ngay từ Sắc lệnh số 13/SL ngày
24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về
tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán: “Mỗi Thẩm phán xử án quyết định
theo pháp luật và lương tâm của mình. Không quyền lực nào được can thiệp trực
tiếp hay gián tiếp vào công việc xử án” [118, tr.428]. Nguyên tắc này tiếp tục quy
định tại Hiến pháp năm 1946 và các bản Hiến pháp sau này. Tuy nhiên, trong hoạt
động tư pháp những năm đầu kháng chiến đã phát sinh một số vấn đề cần được
nghiên cứu làm rõ đối với việc thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử. Điều này được
thể hiện qua cuộc tranh luận gay gắt trên Báo Sự Thật của Đảng Cộng sản Đông
Dương trong các năm 1947, 1948 giữa học giả Quang Đạm và một số cán bộ tư
pháp về độc lập của Tòa án, qua đó làm sáng tỏ một số nội dung mới của nguyên tắc
này trong thể chế của Nhà nước dân chủ nhân dân.
Khi công cuộc đổi mới bắt đầu, cải cách tư pháp mà trọng tâm là hoạt động
xét xử và bảo đảm cho Tòa án độc lập đã được nghiên cứu nhiều hơn so với giai
đoạn trước. Tuy nhiên, việc nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
mới chỉ dừng lại ở mức độ ban đầu, mang tính khái lược, chủ yếu ở giáo trình Luật
TTHS của các cơ sở đào tạo; Bình luận khoa học các điều luật của Bộ luật TTHS,
sách chuyên khảo mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về nguyên
tắc này. Các công trình nghiên cứu giai đoạn này có một phần nội dung trực tiếp đề
cập đến nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật như: cuốn Bình luận khoa học Bộ luật TTHS năm 1988 của Viện Khoa học
pháp lý (NXB Thành phố Hồ Chí Minh năm 1999) [114]; Bình luận khoa học Bộ
luật TTHS năm 2003 do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (NXB Công an nhân dân

8


pháp, hành pháp, lập pháp và những phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động

9


của các cơ quan tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN,
trong đó xác định độc lập xét xử là nguyên tắc cơ bản nhất của tư pháp trong Nhà
nước pháp quyền XHCN, nêu được một số hạn chế trong thực hiện nguyên tắc này
và kiến nghị giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử trong điều kiện
cải cách tư pháp. Cuốn “Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền” do PGS.TS.
Nguyễn Đăng Dung chủ biên, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2004 [16]. Cuốn sách lần đầu
tiên nêu khái niệm thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, thể chế tư pháp với
việc thực hiện các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền và các loại hình thể chế tư
pháp với một số mô hình tổ chức tư pháp đặc trưng trên thế giới. Tác giả cũng đã
nêu và phân tích quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án và những
vấn đề đặt ra cho cải cách tư pháp ở Việt Nam. Điểm nhấn của công trình này là nêu
và phân tích được độc lập tư pháp là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà
nước pháp quyền, đề xuất một số biện pháp thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử
trong tình hình hiện nay. Cuốn sách của TS. Tô Văn Hòa: “Tính độc lập của Tòa án
- nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam
và các kiến nghị đối với Việt Nam”, NXB Lao động, Hà Nội, 2007 [36], bàn về một
số đặc trưng của hoạt động xét xử ở các nền tư pháp theo hệ thống pháp luật khác
nhau. Đồng thời nêu những giá trị chung của tư pháp đó là nguyên tắc độc lập của
Tòa án như là một nguyên tắc không thể thiếu trong tổ chức thực hiện quyền tư
pháp ở các nhà nước đương đại. Tác giả cũng phân tích về nguyên tắc độc lập xét
xử trong pháp luật Việt Nam, nêu ra giới hạn thời gian của nguyên tắc, sự bảo đảm
hiến định, các biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử nói chung đối
với các loại thủ tục tố tụng tư pháp, tính độc lập của cá nhân Thẩm phán... và đưa ra
một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn nguyên tắc này. Cuốn sách của LS.TS.
Lưu Tiến Dũng “Độc lập xét xử trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam”, NXB Tư

chúng về độc lập tư pháp; đưa ra những khuyến nghị về độc lập tư pháp theo tinh thần
cải cách tư pháp. Cuốn sách đã góp phần làm rõ hơn những trở ngại của độc lập tư
pháp ở nước ta, xác định những trở ngại nào có thể khắc phục được trong điều kiện đặc
thù của Việt Nam, tạo cho các cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức xã hội bộ công
cụ đánh giá độc lập tư pháp, mức độ đảm bảo công lý cho những cá nhân, tổ chức bị
vi phạm, bị xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp.
Ở cấp độ Luận án tiến sĩ, có Luận án của tác giả Nguyễn Hải Ninh “Các yếu
tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay”, bảo vệ tại Viện Nhà nước và Pháp
luật năm 2013, nghiên cứu từ khía cạnh các yếu tố vật chất và phi vật chất bảo đảm
11


cho độc lập xét xử, từ việc hoàn thiện thể chế pháp lý, cách thức tổ chức và quản lý
các Tòa án, công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm đội ngũ Thẩm phán,
chế độ và chính sách đãi ngộ đối với họ, đến việc tạo cơ chế thích hợp để cho họ
được thực sự độc lập như pháp luật quy định. Một số bài viết nghiên cứu khác của
tác giả Nguyễn Hải Ninh: “Sự hình thành và phát triển tư tưởng độc lập xét xử”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2012 [58], “Quan niệm khoa học về độc lập
xét xử”, Tạp chí Thanh tra số 10/2012 [57], các bài viết nêu được quá trình hình
thành tư tưởng về độc lập xét xử trong lịch sử học thuyết về tư pháp và nội hàm
chính của khái niệm độc lập xét xử là sự không lệ thuộc của Tòa án, Thẩm phán vào
bất cứ cá nhân hay tổ chức nào, thiết chế nào trong khi xét xử vụ án để ra các phán
quyết nghiêm minh, đúng pháp luật, bảo đảm công lý, công bằng.
Một số đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ tuy không nghiên cứu trực tiếp
về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
trong luật TTHS nhưng đã dành một phần nhất định trong nội dung để nghiên cứu
nguyên tắc này dưới góc độ bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đề tài khoa
học đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Mã số QG.07.37 “Nâng cao hiệu quả
của hệ thống tư pháp hình sự phục vụ Chiến lược cải cách tư pháp” do TSKH.GS.
Lê Văn Cảm làm Chủ nhiệm, bảo vệ năm 2009 nghiên cứu sâu về tổ chức, cơ cấu

bài viết của các tác giả như: Nguyễn Ngọc Chí: “Một số yếu tố ảnh hưởng đến
nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2009 [13]; Đinh Thế Hưng: “Tiếp tục bàn về
sự độc lập của Thẩm phán”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2010 [42]; Trần
Văn Độ: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp năm 1992 về các cơ quan
tư pháp”, Tạp chí Cộng sản số 845 số 3/2013 [30]; Nguyễn Tất Viễn: “Trao đổi ý
kiến: tổ chức Tòa án theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW về cải cách tư pháp,
bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử, 2010[122]…
Các công trình trên đều là những đề tài nghiên cứu hết sức quan trọng, đề
cập sự độc lập của nhánh quyền lực tư pháp, của Tòa án là một thiết chế thực thi
quyền lực tư pháp và Thẩm phán, Hội thẩm là những con người trong thiết chế đó
có trách nhiệm thực hiện chức năng xét xử. Trong quá trình thực hiện luận án, tác
giả có kế thừa những kết quả nghiên cứu trên. Tuy nhiên có một điểm đặc biệt, chủ
yếu những công trình khoa học trên được các tác giả nghiên cứu và tiếp cận vấn đề
từ khía cạnh Luật học so sánh, Lý luận nhà nước và pháp luật, Luật Hiến pháp, nhìn
13


nhận, phân tích, đánh giá dưới góc nhìn tư pháp nói chung, hoạt động xét xử của
Tòa án chung mà ít đi sâu vào lĩnh vực tư pháp hình sự, càng không tiếp cận từ góc
độ là một nguyên tắc của luật thủ tục trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trong số các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, đối với các nước phát
triển, có nền tư pháp ổn định hàng thế kỷ qua, vấn đề độc lập của Tòa án tuy có
được bàn đến nhưng ít hơn so với các nước đang phát triển và các nước kém phát
triển. Đối với các nước XHCN trước đây cũng như hiện nay, vấn đề độc lập xét xử
luôn được quan tâm nghiên cứu do cách thức tổ chức và hoạt động của hệ thống tư
pháp khác về cơ bản so với các nước tư bản chủ nghĩa. Ở thời điểm Liên Xô tan rã,
đã có một số công trình nghiên cứu về độc lập của tư pháp. Điển hình là Luận án
TSKH. của tác giả L.B A-lêch-xây-ep-va, Matxcơva “Quyền tư pháp trong Nhà

thống Liên bang Nga về cải cách tư pháp “Luận cương về cải cách tư pháp ở Liên
bang Nga”, (Ôm-xcơ, 2011) [156] đã nêu rõ mục tiêu của cải cách tư pháp ở Liên
bang Nga là bảo đảm độc lập xét xử của Tòa án. Các tác giả cho rằng nếu quan
niệm rằng hành chính lẫn với tư pháp là vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử đã
được Hiến pháp quy định. Đồng thời nêu rõ cần tuyên chiến với hiện tượng “chỉ
đạo qua điện thoại” của các nhân viên hành pháp hay cán bộ của Đảng như là một
hiện tượng tiêu cực từ thời kỳ chính quyền Xô-viết còn sót lại. Hiện tượng này khá
phổ biến trong thời kỳ Xô-viết, diễn ra không phải chỉ ở một Tòa án, khi mà Tòa
án lệ thuộc không ít vào chính quyền và cấp ủy ở địa phương. Các tác giả cho rằng
giải pháp mang tính “chìa khóa” để mở ra khả năng thực hiện đầy đủ và nghiêm
túc nguyên tắc độc lập xét xử là tổ chức Tòa án theo thẩm quyền, không phụ thuộc
đơn vị hành chính; hoạt động của Tòa án phải công khai, minh bạch; Thẩm phán
phải trong sáng, liêm chính; việc quản lý ngân sách của Tòa án phải do một cơ
quan độc lập thực hiện, đó là Cơ quan quản lý Tòa án của Liên bang (tương đương
Hội đồng tư pháp quốc gia); tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với việc xét
xử của Tòa án…
Ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, độc lập xét xử của Tòa án và Thẩm phán
cũng là vấn đề được quan tâm nhiều trong các công trình nghiên cứu của các luật
gia. Trong Sách trắng “Xây dựng chính trị dân chủ của Trung Quốc”, do Văn phòng
báo chí Quốc vụ viện Trung Quốc công bố, được Thông tấn xã Việt Nam dịch và
xuất bản năm 2005 [90, tr.45] đã nêu rõ: cơ quan tư pháp của Trung Quốc lấy sự
15


thật làm căn cứ, lấy luật pháp làm tiêu chuẩn, dựa vào luật pháp mà nghiêm khắc
trừng trị kẻ phạm tội, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho công dân. Tiếp theo phải kể
đến các công trình nghiên cứu của học giả Trung Quốc được Viện nghiên cứu
Trung Quốc tổng thuật trong cuốn “Cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc” (1978
- 2003), do TS. Đỗ Tiến Sâm chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 2003 [74] đã đề cập
đến một nền tư pháp XHCN công minh, độc lập. Tư pháp công minh, độc lập có vai

K. Warren: The Importance of Judicial Independence and Accountability (Tầm
quan trọng của Độc lập xét xử và trách nhiệm giải trình) và khẳng định nước Mỹ
chính là nơi nguyên tắc độc lập xét xử được phát triển ở mức độ cao hơn so với
chính quốc. Năm 2012, NXB Wadsworth Publishing đã cho tái bản lần thứ 6 cuốn
“Judicial Process: Law, Courts, and Politics in the United States” (Thủ tục tư pháp:
Pháp luật, các Tòa án, và Chính trị ở Hoa Kỳ) của các tác giả: David W. Neubauer;
Stephen S. Meinhold. Cuốn sách nghiên cứu sâu về thủ tục tư pháp trong hệ thống
pháp luật Hoa Kỳ như tổ chức hệ thống Tòa án, thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục tố
tụng dân sự, vai trò và ảnh hưởng của Tòa án thông qua các án lệ điển hình của Hoa
Kỳ và một số Tòa án khác trên thế giới.
Ở Cộng hòa Liên bang Đức có các cuốn sách về đề tài quyền tư pháp độc lập
như: tác giả Fabian Wittresk, Tubingen: “Quản lý quyền lực thứ ba”, (2006); Andre
Brodock, Wiesbaden: “Quyền lực tư pháp” (2009) và một số công trình khác. Các
công trình này đề cập sự ra đời của quyền tư pháp, vai trò độc lập của quyền tư
pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa quyền tư pháp với các
nhánh quyền lập pháp và hành pháp trong cơ chế phân chia quyền lực, quyền tư
pháp với việc bảo vệ quyền con người…
Gần đây nhất, Hội nghị quốc tế thường niên lần thứ 19 về tư pháp tổ chức tại
Washington D.C, Hoa Kỳ từ ngày 18/5 đến ngày 21/5/2016 với các chủ đề liên
quan đến độc lập xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền: (i) Sáng kiến pháp
quyền với trọng tâm là Tòa án, (ii) Quản trị Tòa án và quản lý vụ việc; (iii) Bảo vệ
quyền con người; (iv) Minh bạch tư pháp; (v) Minh bạch và đạo đức tư pháp. Thành
phần tham dự Hội thảo gồm 116 đại biểu đến từ 41 nước là các Thẩm phán, cán bộ
làm công tác pháp luật. Đoàn Việt Nam cùng nhiều nước trên thế giới đã tập trung
trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan nhằm hỗ trợ tư pháp độc lập và đẩy mạnh
pháp quyền trong xét xử. Các diễn giả đều khẳng định giá trị của sáng kiến xây

17



18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status