Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động theo pháp luật lao động việt nam - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ HOÀI TRANG

QUYỀN ĐƠN PHƢƠNG CHẤM DỨT
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ HOÀI TRANG

QUYỀN ĐƠN PHƢƠNG CHẤM DỨT
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

PHƢƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƢỜI
LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƠN PHƢƠNG
CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƢỜI LAO
ĐỘNG ................................................................................................... 9
1.1.

Khái niệm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động ............ 9

1.1.1. Khái niệm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ............... 9
1.1.2. Khái niệm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của
người lao động ...................................................................................... 13
1.2.

Ý nghĩa của sự ghi nhận quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động của người lao động ....................................................................... 16

1.2.1. Đối với người lao động ......................................................................... 16
1.2.2. Đối với người sử dụng lao động ........................................................... 17
1.2.3. Đối với nhà nước và xã hội ................................................................... 28
1.3.

Nội dung pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động của người lao động ....................................................................... 19


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ QUYỀN ĐƠN PHƢƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG
LAO ĐỘNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN........................................................................................ 27

dứt hợp đồng lao động của người lao động .......................................... 61

3.2.

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động của người lao động .......................................... 64


3.3.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao
động về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người
lao động ................................................................................................. 69

3.3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật lao động nói
chung, pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
của người lao động nói riêng ................................................................ 69
3.3.2. Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn trong vấn đề
thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người
lao động ................................................................................................. 71
3.3.3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật
trong vấn đề quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của
người lao động ...................................................................................... 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81


MỞ ĐẦU
1.


quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu để từng bước thực hiện, vận dụng nhằm
đảm bảo lợi ích của họ trong các quan hệ lao động. Tuy nhiên, phải thừa
nhận rằng, việc thực hiện các quy định trên còn hạn chế, chưa thực sự
được chú trọng ưu tiên áp dụng như một hình thức để chấm dứt hợp đồng
lao động.
Từ những lý do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “Quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động theo pháp luật
lao động Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ của mình với mục đích làm rõ
một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động của người lao động ở Việt Nam hiện nay.
2.

Tình hình nghiên cứu của đề tài
Chấm dứt hợp đồng lao động nói chung và quyền đơn phương chấm

dứt hợp đồng lao động nói riêng là vấn đề được đề cập trong khá nhiều
khóa luận, luận văn, luận án, tài liệu, bài viết nghiên cứu ở những góc độ
khác nhau về vấn đề liên quan. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa
có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên sâu về nội
dung này.
Các tài liệu là giáo trình, bài giảng Luật Lao động của các trường đại
học có viết về vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong nội
dung “chấm dứt hợp đồng lao động” của phần hợp đồng lao động. Đó là
các giáo trình như: “Giáo trình Luật Lao động” của Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
xuất bản năm 2011 do PGS.TS Trần Hoàng Hải chủ biên; “Giáo trình
Luật Lao động” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân
dân phát hành 2008 do tác giả Chu Thanh Hưởng chủ biên; “Giáo trình
Luật Lao động” của Trường Đại học Lao động - Xã hội do Nxb. Lao động
- Xã hội ấn hành năm 2009; “Giáo trình Luật Lao động Việt Nam” của

Để đạt được mục đích nghiên cứu, cần phải thực hiện các nhiệm vụ
như sau:

4


-

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm của quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, ý nghĩa và hệ quả pháp lý
của việc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
của người lao động đối với các bên trong quan hệ lao động;

-

Nghiên cứu sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và nội dung
điều chỉnh bằng pháp luật đối với quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động của người lao động để làm cơ sở đánh giá tính hợp lý
của pháp luật hiện hành về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động của người lao động;

-

Nghiên cứu thực trạng pháp luật nước ta về quyền đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động của người lao động và thực tiễn thực hiện các
quy định này nhằm tìm ra vướng mắc, những điểm bất cập, chưa hợp
lý của các quy định hiện hành về quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động của người lao động.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động ở Việt Nam.

đảm bảo công bằng, an toàn về pháp lý khi các chủ thể đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng
nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng hệ thống pháp luật
đồng bộ, khách quan, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước
hiện đại, phục vụ nhân dân và đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.
4.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, các phương pháp
nghiên cứu khoa học cụ thể khác nhau, như phân tích, tổng hợp, thống kê,
lịch sử cụ thể, khảo cứu thực tiễn nhằm minh chứng cho những lập luận,
những nhận xét đánh giá, kết luận khoa học của luận văn. Phương pháp so
sánh được sử dụng xuyên suốt luận văn để phân tích, đối chiếu những
quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của nước
ta nhiều thời kỳ, so sánh những điểm tương đồng, khác biệt của các quy
6


định này với các quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế, văn bản pháp
luật của một số quốc gia được lựa chọn trên thế giới và pháp luật quốc tế.
5.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về phương diện lý luận, luận văn góp phần củng cố và hoàn thiện cơ

sở lý luận về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người
lao động trong pháp luật Việt Nam để các nhà lập pháp, các cơ quan có
thẩm quyền, các cán bộ nghiên cứu, người sử dụng lao động và người lao
động tham khảo, vận dụng trong quá trình thực hiện, giải quyết tranh chấp
hay xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp

Ngoài phần mở đầu, kết luận, những công trình liên quan đến luận

văn đã được công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận
văn gồm ba chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động của người lao động và pháp luật về quyền đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động của người lao động.
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và thực tiễn thực
hiện.
Chƣơng 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực hiện pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
của người lao động.

8


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƠN PHƢƠNG CHẤM
DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ PHÁP
LUẬT VỀ QUYỀN ĐƠN PHƢƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO
ĐỘNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
1.1. Khái niệm quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động và
quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động của ngƣời lao
động
1.1.1. Khái niệm quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động
Trước khi tìm hiểu khái niệm về quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động, chúng ta cần nắm rõ các nội dung liên quan đến quan hệ lao
động. Theo đó, quan hệ lao động là loại quan hệ phát sinh dựa trên cơ sở sự
thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trong đó, đối

“Quyền” theo nghĩa chung nhất là “khả năng thực hiện ý chí của mình
được pháp luật hoặc xã hội chấp nhận, là cái mà pháp luật, xã hội, phong
tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành, và khi thiếu được
yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại.” [53]
Đơn phương được hiểu là “Riêng một bên, không có sự thoả thuận
hoặc sự tham gia của bên kia.” [54]
Như vậy, quyền đơn phương là khả năng thực hiện ý chí được pháp
luật hoặc xã hội chấp nhận của riêng một bên, không cần có sự thoả thuận
hoặc sự tham gia của phía bên kia. Theo Báo cáo tổng kết công tác ngành
Toà án năm 1999 thì quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là
việc “Một bên chủ thể quyết định chấm dứt việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ trong quan hệ lao động mà không phụ thuộc vào ý chí của bên
kia.” [52]

10


Theo PGS.TS Trần Thị Thuý Lâm thì “Đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động được hiểu là trường hợp một trong các bên chấm dứt quan
hệ khi hợp đồng vẫn còn thời hạn. Việc chấm dứt này hoàn toàn chỉ do ý
chí của một bên chủ thể mà không phụ thuộc vào ý chí của phía bên kia.”
[33, tr22]
Theo quan điểm của PGS.TS Đào Thị Hằng thì:
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi pháp lý
trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm chấm dứt quan
hệ lao động với bên kia. Ý chí này phải được biểu thị ra bên
ngoài dưới hình thức nhất định và phải được truyền đạt tới chủ
thể đối tác mà không cần thiết phải được chủ thể đó chấp nhận.
Về nguyên tắc, hình thức biểu thị ý chí đó có thể bằng văn bản
hay bằng lời nói (miệng). Nếu bằng văn bản thì văn bản đó phải

kết nên quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có thể bị vi phạm, không
được đảm bảo. Chính vì vậy, khi phát sinh các sự kiện pháp lý làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích của mỗi bên tham gia quan hệ lao động, người
lao động hoặc người sử dụng lao động có thể áp dụng cơ chế tự bảo vệ
quyền lợi của mình thông qua việc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động mà pháp luật cho phép.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không chỉ là cách để
người sử dụng lao động thực hiện quyền tự do của mình trong công tác
tuyển dụng, phân bổ, sử dụng lao động một cách hợp lý, phù hợp với nhu
cầu sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động, là biện pháp để
người sử dụng lao động bảo vệ lợi ích của mình khi bị xâm hại hoặc có
nguy cơ bị xâm hại mà còn là công cụ hữu hiệu mà pháp luật dành cho
người lao động để họ thực hiện quyền tự do việc làm, đồng thời bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ lao động khi họ không thể
12


tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động được nữa. Khi người lao động không
muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hoặc vì lý do nào đó họ không
thể tiếp tục thực hiện hợp đồng, người lao động sẽ chấm dứt việc thực hiện
hợp đồng lao động mà không cần phụ thuộc vào việc người sử dụng lao
động có đồng ý hay không. Hay nói cách khác là việc chấm dứt hợp đồng
lao động là do người lao động hoàn toàn quyết định.
Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau: “Quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động là việc người
lao động áp dụng các quy định của pháp luật để tự mình quyết định chấm
dứt thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng lao động với người sử
dụng lao động trước thời hạn”.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

một số trường hợp), người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động ngay cả khi người sử dụng lao động không có bất kỳ vi
phạm hợp đồng lao động nào. Đây là một đặc điểm khác biệt giữa hợp
đồng lao động và hợp đồng dân sự thông thường và thể hiện rõ nét việc
công khai bảo vệ hơn đối với người lao động - người yếu thế hơn trong mối
quan hệ với người sử dụng lao động.
Thứ ba, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người
lao động là quyền được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Người lao động là một bên tham gia quan hệ lao động, do đó pháp luật
lao động có các quy định ghi nhận quyền và nghĩa vụ của họ, trong đó có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động. Trong
điều kiện của nền kinh tế thị trường, người lao động được quyền tự do việc
làm nên họ cũng phải có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
để chấm dứt quan hệ lao động với chủ thể này và thiêt lập quan hệ lao động
14


mới với chủ thể khác. Trong trường hợp người sử dụng lao động không
thực hiện đúng nghĩa vụ hoặc có hành vi cản trở việc thực hiện quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động thì người lao
động có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ tư, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người
lao động là quyền có điều kiện và chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là quyền của cả
người lao động và người sử dụng lao động được pháp luật thừa nhận. Tuy
nhiên, đối với mỗi chủ thể thì quyền năng này được quy định lại khác nhau.
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ lao động,
hạn chế tối đa tình trạng lạm dụng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng

1.2. Ý nghĩa của sự ghi nhận quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng
lao động của ngƣời lao động
1.2.1 Đối với ngƣời lao động
Thứ nhất, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người
lao động nhằm bảo đảm quyền của người lao động trong việc chủ động lựa
chọn và quyết định công việc đáp ứng nhu cầu bản thân về việc làm.
Với môi trường lao động đầy cạnh tranh và hấp dẫn, việc người lao
động dịch chuyển lao động cùng tính chất hoặc khác tính chất, từ đơn vị lao
động này sang đơn vị lao động khác nhằm tìm kiếm công việc phù hợp với
nhu cầu và mục đích bản thân: tìm kiếm công việc nâng cao năng lực bản
thân, công việc đem lại hiệu suất, hiệu quả và mức thu nhập cao. Không chỉ
là nhu cầu công việc đơn thuần như trước kia, hầu hết người lao động
thường mong muốn tìm kiếm một nơi có được việc làm ổn định, gắn bó lâu

16


dài với một đơn vị lao động mà không đòi hỏi phải có áp lực lớn trong
công việc.
Thứ hai, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người
lao động bảo vệ tốt hơn về sức khỏe, tính mạng bản thân người lao động
hoặc trong những hoàn cảnh khó khăn dẫn tới việc người lao động không
thể tiếp tục thực hiện lao động.
Đây cũng là một ý nghĩa vô cùng quan trọng của pháp luật lao động,
thể hiện tinh thần bảo vệ công khai đối với người yếu thế trong xã hội người lao động đối với người sử dụng lao động.
Thứ ba, việc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động không chỉ đáp ứng nhu cầu tự do lao động bản thân của người lao
động mà việc chấm dứt hợp đồng lao động nói chung và chấm dứt hợp
đồng lao động do người lao động thực hiện quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động nói riêng còn làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường

lao động vẫn phải được định giá theo giá trị thông qua việc so sánh với giá
trị của các hàng hoá khác và ngay cả với chính nó.
Thông qua việc người lao động được thực hiện quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động đã tạo ra sự so sánh,
cạnh tranh giữa người lao động trong và ngoài doanh nghiệp. Đồng thời
giữa các doanh nghiệp cũng có sự cạnh tranh với nhau. Vì trên thực tế
người lao động luôn có xu hướng lựa chọn nơi làm việc điều kiện, môi
trường làm việc thuận lợi, sẵn sàng trả lương cao cho họ và có chính sách,
chế độ tốt cho người lao lao động.
Sự cạnh tranh được thể hiện trên nhiều phương diện, nhưng quyết liệt
và quan trọng nhất được thể hiện thông qua giá trị sức lao động và giá cả
sức lao động. Hay nói cách khác là sự cạnh tranh về hiệu suất lao động của
người lao động và mức lương người lao động được hưởng. Từ sự lựa chọn
18


nêu trên, sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa những người lao động về hiệu suất
sức lao động và sự cạnh tranh giữa những người sử dụng lao động về mức
tiền lương sẽ trả cho người lao động. Từ sự cạnh tranh này, đòi hỏi người
lao động phải nâng cao chất lượng sức lao động và người sử dụng lao động
phải nâng cao tiền lương cho người lao động. Qua kết quả của sự cạnh
tranh cả từ phía người lao động và người sử dụng lao động đều có tác động
tích cực đến đời sống xã hội vì qua đó đã cải thiện được chất lượng sức lao
động và đời sống của người lao động. Cũng từ sự cạnh tranh bắt nguồn từ
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động này,
đã tạo ra động lực thúc đẩy thị trường lao động phát triển vì cả người lao
động và người sử dụng lao động đều sẽ thông qua thị trường lao động để
tìm đối tác phù hợp trong quan hệ lao động và ký kết hợp đồng lao động.
1.3.Nội dung pháp luật về quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao
động của ngƣời lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status