Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

MAI VĂN DUẨN

PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ NG¦êI Tè C¸O
ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

MAI VN DUN

PHáP LUậT Về BảO Vệ NGƯờI Tố CáO
ở VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Lý lun v Lch s nh nc v Phỏp lut
Mó s: 62 38 01 01

LUN N TIN S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: 1. PGS.TS Nguyn Hong Anh
2. PGS.TS V Cụng Giao

H NI - 2017



Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU ......................................................................................................................1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ KHUNG LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN ....................8
1.1.
Tình hình nghiên cứu ...................................................................................8
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ...................................................................8
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .............................................................20
1.1.3. Nhận xét, đánh giá chung về kết quả nghiên cứu đã công bố có liên
quan đến đề tài ..............................................................................................26
1.2.
Khung lý thuyết của luận án .....................................................................30
1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu.......................................................................................30
1.2.2. Giả thuyết khoa học ......................................................................................30
Tiểu kết Chƣơng 1 ....................................................................................................31
Chƣơng 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƢỜI TỐ CÁO
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƢỜI TỐ CÁO .................................32
2.1.
Những vấn đề lý luận về bảo vệ ngƣời tố cáo ..........................................32
2.1.1. Khái niệm tố cáo, người tố cáo, quyền của người tố cáo và bảo vệ
người tố cáo ..................................................................................................32
2.1.2. Vai trò của tố cáo và sự cần thiết phải bảo vệ người tố cáo ........................48
2.1.3. Ý nghĩa của việc bảo vệ người tố cáo ..........................................................51
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tố cáo và bảo vệ
người tố cáo ..................................................................................................53
2.1.5. Cách tiếp cận về bảo vệ người tố cáo ..........................................................58
2.2.

3.1.1.
3.1.2.
1.1.3.
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.3.
3.3.1.
3.3.2.
3.3.3.

Khái quát sự phát triển của các quy định pháp luật về bảo vệ
ngƣời tố cáo ở Việt Nam ............................................................................88
Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước Hiến pháp
năm 1980 ......................................................................................................88
Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1980 đến trước khi ban hành Luật Tố
cáo năm 2011 ................................................................................................90
Giai đoạn từ khi Luật Tố cáo năm 2011 được ban hành đến nay ...............96
Thực trạng pháp luật về bảo vệ ngƣời tố cáo ..........................................98
Khuôn khổ pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố cáo .............................98
Những tồn tại, hạn chế của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố cáo ........103
Thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ ngƣời tố cáo .................................118
Khái quát về việc thực hiện quyền tố cáo và thực trạng đe dọa, trả thù,
trù dập người tố cáo ....................................................................................118
Thực tiễn thực thi các biện pháp bảo vệ người tố cáo ...............................126
Đánh giá chung về thực tiễn thực thi bảo vệ người tố cáo ........................133

Tiểu kết Chƣơng 3 ..................................................................................................135
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
BẢO VỆ NGƢỜI TỐ CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ......................136

Một số giải pháp khác gắn với việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ
người tố cáo ................................................................................................148
Tiểu kết Chƣơng 4 ..................................................................................................154
4.2.3.
4.2.4.

KẾT LUẬN .............................................................................................................155
DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ................................................................................................................157
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................158
PHỤ LỤC ................................................................................................................170


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

1

BPBV

Biện pháp bảo vệ

2

BVNTC

Bảo vệ người tố cáo

3

CBCC


Vi phạm pháp luật


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Bảng 3.1. Đánh giá, tổng hợp kết quả BVNTC

Trang
123


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu

Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1. Lý do không tố cáo tham nhũng ở Việt Nam

53

Biểu đồ 3.1. Quan điểm, sự nhìn nhận của CBCC về tố cáo

119


Tố cáo và giải quyết tố cáo có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong quản lý
xã hội. Tố cáo là một trong những kênh thông tin giúp nhà nước phát hiện, phòng
ngừa và xử lý các hành vi gian lận, tiêu cực, tham nhũng và các hành vi VPPL
khác. Giải quyết tố cáo hiệu quả sẽ góp phần bảo vệ lợi ích xã hội, lợi ích nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thông qua hoạt động giải quyết tố
cáo, một mặt nhà nước thừa nhận quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân trong việc
kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước; mặt khác
thấy được thực trạng về phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong
quá trình thực thi công vụ, nhiệm vụ và trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động
quản lý nhà nước, từ đó có cơ sở bổ sung, hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Thực tiễn cho thấy, tố cáo các biểu hiện VPPL của người có chức vụ, quyền
hạn trong thi hành công vụ, nhiệm vụ mang tính quyền lực nhà nước cũng như mọi
hành vi VPPL khác là việc làm đầy thách thức. Nó đòi hỏi NTC phải thực sự gan
dạ, dũng cảm đương đầu với những khó khăn trong việc tiếp cận, cung cấp chứng
cứ và trách nhiệm pháp lý (hành chính, hình sự và dân sự). NTC thường phải chịu
đựng sự nhìn nhận tiêu cực, những áp lực từ dư luận xã hội, những người xung
quanh và ngay cả từ phía bạn bè, đồng nghiệp, người thân trong gia đình; đặc biệt là
có thể bị trù dập, cô lập và trả thù từ phía người bị tố cáo. “NTC thường chấp nhận
rủi ro cá nhân cao. Họ có thể bị sa thải, bị kiện, danh sách đen, bị bắt, bị đe dọa
hoặc trong trường hợp nặng, bị tấn công hoặc bị giết” [140, tr.24], “bị tẩy chay
khỏi tổ chức, bị buộc tội vì VPPL” [117, tr.1]; thậm chí họ có thể bị kiện vì vi phạm
quy định bảo mật thông tin hoặc bôi nhọ danh dự người khác [110, tr.9].
Cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có số liệu, báo cáo thống kê một cách chi tiết
về tình hình đe dọa, trả thù NTC, cũng như kết quả bảo vệ họ. Duy nhất chỉ có Báo
cáo số 180/BC-TH ngày 28/9/2015 của Cục Chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ
đánh giá, tổng hợp kết quả BVNTC từ khi Luật Tố cáo có hiệu lực đến 31/3/2015;
tuy nhiên, số liệu trong báo cáo còn thiếu toàn diện, chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn
tình trạng trả thù, trù dập NTC đã và đang diễn ra. Qua một số vụ trả thù NTC xảy ra


đắn, nguyên tắc của NNPQ.
Thực tế nêu trên đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện các quy định pháp luật về
BVNTC, để NTC yên tâm thực hiện quyền tố cáo của mình, góp phần tích cực vào
việc đấu tranh đẩy lùi các hành vi VPPL, nhất là đấu tranh phòng chống tham
nhũng, đấu tranh phòng chống sự lạm dụng quyền hành trong thực thi công vụ của

2


người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị cũng như các đơn vị
sản xuất kinh doanh.
Để góp phần giải quyết nội dung nêu trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn
vấn đề “Pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu cho luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận án là nghiên cứu cơ sở lý luận của hệ thống pháp luật về
BVNTC; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam về pháp luật
BVNTC, đặc biệt chú trọng phân tích những bất cập, hạn chế của hệ thống pháp
luật và việc thực hiện pháp luật về BVNTC ở Việt Nam, từ đó đề xuất những sửa
đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về BVNTC theo hướng hiệu quả, phù hợp
với hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, điều kiện thực tế của Việt Nam, đồng thời phù hợp
với pháp luật, thông lệ quốc tế.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận án phải giải quyết được các
nhiệm vụ cụ thể như sau:
Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên
quan đến đề tài. Cụ thể, tiến hành thu thập các tài liệu, công trình khoa học liên
quan đến đề tài luận án; nghiên cứu, nhận xét, đánh giá và nêu quan điểm về những
vấn đề đã được đề cập, phân tích trong các công trình khoa học đã công bố về đề

xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVNTC.
+ Về nội dung, luận án nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về
BVNTC; trong đó tập trung vào các khái niệm, định nghĩa, quy trình, thủ tục, nghĩa vụ,
trách nhiệm của cá nhân, cơ quan nhà nước trong việc BVNTC, đặc biệt là từ sau khi
có Luật Tố cáo năm 2011. Để bảo đảm tính chuyên sâu của đề tài nghiên cứu, luận án
không mở rộng phân tích đến các quy định pháp luật về bảo vệ người tố giác tội phạm,
người làm chứng, người bị hại mà là những vấn đề đặc thù của tố tụng hình sự.
+ Về không gian, luận án tập trung khảo sát hệ thống pháp luật và thực tiễn
BVNTC ở Việt Nam. Điều đó có nghĩa là pháp luật quốc tế và pháp luật của các
quốc gia khác về vấn đề này không phải là trọng tâm phân tích. Mặc dù vậy, để
củng cố cho những lập luận, quan điểm và đề xuất của tác giả, luận án đồng thời đề
cập khái quát đến vấn đề bảo vệ quyền của NTC trong Công ước của Liên hợp quốc
về chống tham nhũng và một số bài học kinh nghiệm về xây dựng và thực thi pháp
luật về BVNTC ở một số nước trên thế giới và khả năng áp dụng ở Việt Nam.
+ Về thời gian, để phác họa một cái nhìn tổng thể, xuyên suốt, luận án đề cập
đến lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về BVNTC, tuy nhiên, những phân
tích trong luận án tập trung vào giai đoạn từ sau khi Quốc hội thông qua Luật Tố
cáo năm 2011 đến nay.

4


4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, luận án được thực hiện dựa trên phương
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lê Nin; Tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng;
chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về nhà nước pháp quyền XHCN do
dân, vì dân; về cải cách tư pháp; về xây dựng và hoàn thiện pháp luật XHCN; về tố
cáo và BVNTC.

học (bằng phỏng vấn sâu) để khảo sát, đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành
pháp luật về BVNTC ở nước ta hiện nay (ở Chương 3).
- Phương pháp tổng hợp kết hợp với phân tích, so sánh để đề xuất các quan
điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả BVNTC ở nước ta trong
thời gian tới (ở Chương 4).
5. Những điểm mới của luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học nghiên cứu
toàn diện, có hệ thống về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về BVNTC ở Việt Nam.
Luận án có những điểm mới về khoa học như sau:
Luận án tập hợp, phân tích một cách hệ thống các vấn đề lý luận về BVNTC
và pháp luật về BVNTC mà chưa hoặc đã được đề cập nhưng còn thiếu thống nhất
và thiếu toàn diện trong một số công trình nghiên cứu khác, cụ thể như khái niệm tố
cáo, NTC, BVNTC; nhu cầu và ý nghĩa của việc BVNTC; các yếu tố ảnh hưởng
đến việc thực hiện quyền tố cáo và bảo vệ người tố cáo; những cách tiếp cận về
BVNTC; khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức thể hiện của pháp luật về
BVNTC; bảo đảm thực hiện pháp luật về BVNTC; vai trò của pháp luật trong việc
BVNTC; các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện pháp luật về BVNTC; những yêu cầu
về BVNTC trong Công ước của Liên hiệp quốc về phòng chống tham nhũng; những
bài học kinh nghiệm nổi bật về xây dựng và thực thi pháp luật về BVNTC ở một số
nước trên thế giới và khả năng áp dụng ở Việt Nam.
Luận án phân tích và đánh giá một cách toàn diện khuôn khổ pháp luật hiện
hành về BVNTC của Việt Nam, dựa trên các tiêu chí về tính toàn diện, tính thống
nhất, khoa học, tính hiệu quả, tính khả thi với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam,
và tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan và với pháp luật của một
số quốc gia trong vấn đề này; đồng thời chỉ ra quy luật vận động, phát triển của các
quy định pháp luật về BVNTC. Một hệ thống pháp luật chỉ thực sự được đánh giá
chuẩn xác khi được xem xét sự vận hành trong thực tiễn. Vì vậy, luận án đã phân
tích, đánh giá việc thực hiện pháp luật về BVNTC trong thực tiễn Việt Nam; đánh
giá năng lực thực thi pháp luật về BVNTC của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền,
từ đó chỉ ra những kết quả đã đạt được, cũng như những hạn chế cùng các nguyên



Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ KHUNG LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu
BVNTC là một vấn đề tương đối mới ở Việt Nam, vì vậy, chưa có nhiều
công trình nghiên cứu về pháp luật về BVNTC được công bố ở nước ta. Hiện tại,
các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài chủ yếu đề cập đến các
vấn đề lý luận chung về KNTC, mới chỉ có một vài công trình bước đầu phân tích
một số khía cạnh của việc BVNTC như những yêu cầu với việc BVNTC, cơ chế
BVNTC. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có phần đa dạng hơn, tập trung
vào các vấn đề lý luận, các quy tắc quốc tế, hệ thống pháp luật và kinh nghiệm xây
dựng, thực hiện pháp luật về BVNTC của một số quốc gia. Tuy nhiên, vẫn chưa có
công trình nghiên cứu nào của các học giả nước ngoài tập trung phân tích vấn đề
BVNTC ở Việt Nam.
Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu đã công
bố có liên quan đến đề tài, luận án sẽ chỉ ra những nội dung mới, những vấn đề chưa
được đề cập hoặc đã được đề cập nhưng còn thiếu, chưa rõ để từ đó xác định
phương hướng và mục tiêu tiếp tục nghiên cứu. Từ nhận định chung nêu ở đoạn
trên, dưới đây, nội dung đánh giá đối với các công trình nghiên cứu trong nước sẽ
bao gồm các vấn đề lý luận về BVNTC và pháp luật về BVNTC; thực trạng pháp
luật và thực thi pháp luật về BVNTC ở Việt Nam; các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về BVNTC. Nội dung đánh giá đối với công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ
yếu là các vấn đề lý luận, hệ thống pháp luật và kinh nghiệm xây dựng, thực hiện
pháp luật về BVNTC của nước ngoài.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Các công trình khoa học của các tác giả trong nước nghiên cứu pháp luật về
BVNTC được công bố thời gian qua chủ yếu được thực hiện dưới hình thức các bài
viết khoa học đăng trên các tạp chí. Ngoài ra còn có một (01) đề tài nghiên cứu

hiện và thông báo chính thức với”. Về đối tượng bị tố cáo, đa số các công trình
nghiên cứu cho rằng đó là “hành vi trái luật” hay VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào [45, 63, 64, 101, 105], trong khi một số công trình đó là “hành vi sai
trái” [84], “hành vi VPPL hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng” [79].
Ngoài ra, có công trình cho rằng đối tượng bị tố cáo ngoài “hành vi” còn có thể là
“việc làm”, thậm chí là “lời nói” hoặc “hiện tượng khả nghi” nào đó mà NTC cho
là có dấu hiệu vi phạm, sai trái, phạm pháp, cần được lên án, ngăn chặn, xem xét,
kết luận và xử lý nghiêm minh theo đúng quy định: “Tố cáo là báo cho cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết bằng văn bản hoặc lời nói về những hành vi,

9


việc làm, lời nói hoặc hiện tượng khả nghi nào đó…mà NTC cho là có dấu hiệu vi
phạm, sai trái, phạm pháp, cần được lên án, ngăn chặn, xem xét, kết luận và xử lý
nghiêm minh theo đúng quy định” [26, tr.9].
* Về người tố cáo
NTC là chủ thể thực hiện quyền tố cáo, tuy nhiên hiện chưa có sự thống nhất về
quan điểm trong các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về phạm vi chủ thể của quyền
tố cáo. Hầu hết các công trình đã công bố hiện nay ở nước ta đều cho rằng “NTC” là
“công dân” [3, 64, 75, 79, 101, 105] hay “cá nhân” [79], “một người” [26, 84]…, tuy
nhiên, cũng có công trình cho rằng “NTC được quy định trong Luật Tố cáo là công
dân th c hiện quyền tố cáo, nhưng có thể được hiểu là cơ quan, tổ chức tố giác, báo tin
về tội phạm” [95, tr.173]. Sự khác biệt trong nhận thức về phạm vi chủ thể của quyền
tố cáo một phần là do các nhà nghiên cứu khi đề cập đến NTC chỉ giới hạn ở một phạm
vi hay quy về một lĩnh vực nhất định như: tố cáo hành chính [3, 75, 88, 101, 102]; tố
cáo trong Đảng [26]; tố giác tội phạm hình sự; tố cáo hành vi tham nhũng…
* Phân biệt s khác nhau giữa khiếu nại và tố cáo; giữa quyền khiếu nại và
quyền tố cáo
Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định

cáo hành vi VPPL thì không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm, còn tố giác tội
phạm thì chỉ bao gồm những hành vi VPPL có thể cấu thành tội phạm đã được quy
định trong Bộ luật Hình sự [61, tr.33]. Khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao
hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm, hay nói cách khác, tố cáo hành vi phạm tội
được gọi là tố giác tội phạm [61, tr.33]. Điểm khác biệt giữa hai khái niệm này là:
Tố cáo là quyền của công dân, còn tố giác tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ
của công dân; quan hệ pháp luật về tố cáo chỉ phát sinh khi công dân thực hiện
quyền tố cáo; còn quan hệ pháp luật tố giác tội phạm thì phát sinh ngay sau khi
công dân biết về tội phạm [61, tr.33].
Tác giả Phạm Quốc Huy (2009) trong bài viết đăng trên Tạp chí Kiểm sát
cũng phân biệt giữa hai khái niệm “Tố cáo tội phạm” và “Tố giác tội phạm” [43].
Theo tác giả, khái niệm “tố cáo tội phạm” có nhiều điểm gần giống với khái niệm
“tố giác tội phạm”. Cụ thể như: Tố cáo tội phạm cũng là một nguồn thông tin về tội
phạm được báo cho chủ thể có thẩm quyền giải quyết; đối tượng của tố cáo tội
phạm cũng chỉ là công dân; đối tượng của tố cáo tội phạm cũng là hành vi có dấu
hiệu tội phạm; mục đích của tố cáo tội phạm cũng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của chính mình hoặc của chủ thể khác bất kỳ; NTC tội phạm cũng có quyền
giống người tố giác tội phạm [43, tr.29]. Tuy nhiên, theo tác giả, giữa hai khái niệm
này có những điểm khác biệt như: người biết hành vi phạm tội mà không tố cáo tội
phạm thì không phải chịu trách nhiệm pháp lý (không có nghĩa vụ phải tố cáo tội
phạm), còn người không tố giác tội phạm có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về

11


tội “không tố giác tội phạm”; NTC tội phạm có nghĩa vụ tố cáo đúng sự thật, nếu tố
cáo sai thì tùy mức độ phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự về tội “vu
khống”, còn người tố giác tội phạm không có nghĩa vụ và trách nhiệm này; NTC tội
phạm có nghĩa vụ phải tố cáo đúng cơ quan có thẩm quyền và không được tố cáo
nặc danh hoặc mạo danh, còn người tố giác tội phạm có thể tố giác với bất cứ cơ

biết danh tính NTC mà chỉ cần có mã số). Cơ quan đầu mối cần có sự theo dõi chặt chẽ
đối với những đơn tố cáo đã chuyển và kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết của cơ quan, cá
nhân có thẩm quyền. Thực tiễn cho thấy “các đơn tố cáo sau khi chuyển đến cơ quan có
thẩm quyền giải quyết, rất ít các vụ việc có hồi âm về kết quả xử lý” [98, tr.30].
Ba là, ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giải
quyết tố cáo và BVNTC. Thanh tra Chính phủ phối hợp với các bộ ngành có liên
quan tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính
trong tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết KNTC. Trong đó quy định xử lý
nghiêm và có chế tài cụ thể đối với: Người có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập NTC;
Người có hành vi cố ý không thực hiện, phối hợp hoặc cản trở việc áp dụng các biện
pháp BVNTC; Người có hành vi cản trở, gây khó khăn cho NTC thực hiện quyền tố
cáo; Người có hành vi bao che cho NTC, cố ý kéo dài thời gian giải quyết tố cáo,
làm sai lệch hồ sơ trong quá trình giải quyết tố cáo.
Bốn là, xây dựng cơ chế giải quyết khiếu kiện hành vi trả thù, trù dập NTC;
hành vi cố ý không áp dụng; hoặc có áp dụng biện pháp BVNTC nhưng không kịp
thời gây hậu quả cho người được bảo vệ.

190


Pháp luật về BVNTC hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc ứng phó với những
hành động trả thù sẽ xảy ra hoặc đang xảy ra chứ chưa có quy định nhằm giải quyết
những hậu quả hoặc những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật
về BVNTC. Vì thế, các quy định về việc giải quyết các khiếu kiện về việc bảo vệ,
các khiếu kiện về khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại chưa được đề cập. Trong
thời gian tới, các nhà lập pháp cần nghiên cứu xây dựng cơ chế giải quyết khiếu
kiện đối với những hành vi trả thù, trù dập NTC; hành vi không áp dụng biện pháp
BVNTC; hành vi không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quyết định của
người có thẩm quyền; giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại cho NTC.


Tùy theo tính chất vụ việc thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có
thẩm quyền áp dụng BPBV lần đầu có thể chỉ đạo người đã giải quyết lần đầu áp
dụng các BPBV hoặc ban hành quyết định áp dụng BPBV và giao cho cơ quan
thanh tra cùng cấp phối hợp với cơ quan công an thực hiện các BPBV.

192



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status