MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các
thương nhân với nhau thông qua mua bán là điều kiện quan trọng cho sự tồn tại và
phát triển của xã hội. Khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường, tùy
thuộc vào đối tượng giao dịch, thị trường cũng như tính chất, thời cơ của thương
vụ mà thương nhân lựa chọn các phương thức giao dịch sao cho phù hợp. Một
trong những hình thức giao dịch được các thương nhân sử dụng phổ biến nhất hiện
nay là hình thức đại lí thương mại. Trong bài tập học kì, em xin trình bày vấn đề:
“Phân tích quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong quan hệ đại lý thương
mại.”
NỘI DUNG
I. Khái niệm:
1. Đại lý thương mại:
Điều 166 LTM2005 quy định:
“Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý
thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao
đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù
lao.”
2. Hợp đồng đại lý:
Điều 168 LTM 2005 quy định:
“Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị
pháp lý tương đương.”
II. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong quan hệ đại lý thương mại:
Khi hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa được giao kết thì sẽ làm phát sinh các
quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên với nhau và các bên phải thực hiện
đúng, đầy đủ các nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, trên thực tế thường gặp một hoặc các bên
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng
(vi phạm hợp đồng). Các hành vi vi phạm hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa
đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao
đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao
đại lý đó.
Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian
nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý. Trong
trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một
tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý.
3. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì
bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà
mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý.”
Căn cứ Điều 177 LTM 2005 thì bên giao đại lý và bên đại lý đều có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng đại lý.
LTM 2005 không quy định một cách tổng quát về các trường hợp chấm dứt hợp
đồng đại lý. Song căn cứ vào quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân
sự tại BLDS 2005 thì hợp đồng đại lý thương mại chấm dứt trong các trường hợp
do các bên thỏa thuận và trong những trường hợp sau: hợp đồng đã được thực hiện
xong, hết thời hạn hiệu lực, một trong các bên tham gia hợp đồng đã chết, mất hoặc
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tư cách thương nhân, hợp đồng bị hủy bỏ,
bị đơn phương chấm dứt thực hiện. Khoản 1 Điều 525 BLDS 2005 có quy định cụ
thể về một trong những lí do mà bên giao đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng
đại lý:
“1.Trong trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên thuê
dịch vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng,
nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên thuê
dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện
và bồi thường thiệt hại.”
Theo đó, bên giao đại lý trong trường hợp nhận thấy việc tiếp tục hợp đồng là
phần rất quan trọng, do đó em có một số kiến nghị liên quan ở phần thực tiễn và
kiến nghị.
III. Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về việc đơn phương
chấm dứt hợp đồng trong quan hệ đại lý thương mại:
1. Thực tiễn:
Luật thương mại 2005 có quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý
trong trường hợp hai bên không thỏa thuận về thời hạn trong hợp đồng. Tuy nhiên,
luật lại không quy định việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý trong trường
hợp hai bên không thỏa thuận về thời hạn trong hợp đồng. Hay trường hợp bên sản
xuất hàng hóa ký hợp đồng với bên làm đại lý thương mại thường yêu cầu không
được bán mặt hàng cùng loại của đối thủ cạnh tranh. Trong trường hợp này, nếu đại
lý thương mại vi phạm thì việc đưa ra giải quyết về pháp lý thường rất khó thực
hiện vì rất tốn kém, cơ quan quản lý nhà nước thì không can thiệp được vì đó là
tranh chấp thương mại thông thường.
2. Kiến nghị:
Thứ hai, việc xác định thời gian thông báo và giá trị bồi thường trong việc đơn
phương chấm dứt hợp đồng rất phức tạp. Tuy nhiên, cách quy định giá trị khoản
bồi thường của LTM2005 mang tính chủ quan, không phù hợp nguyện tắc tính bồi
thường thiệt hại. Điều 177 chỉ quy định bồi thường về thù lao. Tuy nhiên, trong
thực tế, bên đại lý phải tốn rất nhiều chi phí khác. Vì quan hệ giữa hai bên đại lý và
bên giao đại lý là quan hệ lâu dài, bên đại lý thường phải đầu tư rất nhiều cho việc
xây dựng cơ sở hạ tầng để chứa đựng hàng hóa của bên giao đại lý. Do đó, nên bổ
sung về chi phí quản lí như: vận chuyển, bảo quản hàng hóa, xây dựng cơ sở hạ
tầng… Ngoài ra có thể tính phí cơ hội như bên đại lý bỏ qua cơ hội làm đại lý cho
bên khác để làm đại lý cho bên giao đại lý hoặc chi phí phát sinh khi việc bên giao
đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại làm cho việc sản xuất
kinh doanh của bên đại lý không ổn định được. Vì thông thường, bên đại lí thường
lý và bên đại lý cần có những thỏa thuận cụ thể và chi tiết về tất cả các vấn đề liên
quan đến hợp đồng đại lý. Các thỏa thuận càng cụ thể bao nhiêu càng dễ dàng khi
tiến hành hoạt động đại lý và quan hệ đại lý về sau.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại tập 2, Nxb. CAND,
Hà Nội – 2009.
2. Luật Thương mại năm 2005. (LTM 2005)
3. Bộ Luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005)
4. Trần Trung Nguyên, Khóa luận tốt nghiệp, Các quy định của pháp luật Việt Nam
về hoạt động đại lý thương mại, Hà Nội – 2006.
5. Phạm Chung Thủy, Khóa luận tốt nghiệp, Pháp luật Việt Nam về hoạt động đại
lý mua bán hàng hóa, Hà Nội – 2009.
6. />7. />GHI CHÚ
BLDS: Bộ Luật Dân sự
LTM: Luật Thương mại