ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------(((------
BẾ THỊ THU TRANG
QUẢN LÝ QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN
PRIME - ĐẠI VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội, 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------(((------
BẾ THỊ THU TRANG
QUẢN LÝ QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN
PRIME - ĐẠI VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
MÃ SỐ: ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
Quan hệ lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
NLĐ
Người lao động
BHYT
Bảo hiểm y tế
CĐCS
Công đoàn cơ sở
HĐLĐ
Hợp đồng lao động
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
LĐLĐ
Liên đoàn lao động
1.3. Quản lý quan hệ lao động ...................................................................... 24
1.3.1. Chủ thể, mục tiêu quản lý quan hệ lao động .................................... 24
1.3.2. Những dấu hiệu nhận biết hiệu suất quan hệ lao động ................... 25
1.3.2.2. Những dấu hiệu tiêu cực .................................................................. 27
1.3.3. Ba trụ cột trong quản lý quan hệ lao động ......................................... 30
1.3.4. Ảnh hưởng của bối cảnh hội nhập quốc tế đến quản lý quan hệ
lao động........................................................................................................... 31
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 33
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN PRIME – ĐẠI VIỆT .............................................. 34
2.1. Giới thiệu về công ty .............................................................................. 34
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Prime - Đại Việt ........ 34
2.1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và hoạt động sản xuất kinh doanh ............ 35
2.1.3. Tổ chức bộ máy của Công ty Cổ phần Prime Đại Việt......................... 38
2.2. Ƣu điểm và hạn chế của quản lý quan hệ lao động tại công ty cổ phần
Prime Đại Việt ............................................................................................... 43
2.3. Nguyên nhân hạn chế của quản lý quan hệ lao động tại Công ty cổ
phần Prime Đại Việt...................................................................................... 62
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 65
CHƢƠNG 3. THÁCH THỨC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ........................ 66
3.1. Thách thức .............................................................................................. 66
3.2. Một số giải pháp về quản lý quan hệ lao động trong bối cảnh hội
nhập hiện nay................................................................................................. 69
3.2.1. Đổi mới nâng cao nhận thức cho các chủ thể quản lý quan hệ lao
động ................................................................................................................. 69
3.2.2.Tạo tính ổn định, minh bạch trong chính sách việc làm, tiền lương và
điều kiện lao động .......................................................................................... 71
3.2.3. Tuyển dụng và hoặc bố trí nhân viên quan hệ lao động có năng lực, nhiệt
Bảng 2.9. Khảo sát mức độ tâm sự, chia sẻ về cuộc sống cá nhân và gia đình
của ngƣời lao động với đồng nghiệp ......................................................................51
Bảng 2.10. Khảo sát mức độ tâm sự, chia sẻ về công việc của ngƣời lao động với
đồng nghiệp ..............................................................................................................51
Bảng 2.11. Khảo sát đánh giá của lãnh đạo công ty về mối quan hệ giữa những
ngƣời lao động trong công ty..................................................................................52
Bảng 2.12. Khảo sát về sự hài lòng và sự mong muốn của ngƣời quản lý đối với
cấp dƣới ....................................................................................................................53
Bảng 2.13. Khảo sát mức độ tiếp nhận thông tin từ cấp trên .............................55
Bảng 2.14. Khảo sát các loại thông tin tiếp nhận đƣợc từ cấp trên ....................56
Bảng 2.15. Thâm niên làm việc của lao động trong công ty ................................59
giai đoạn 2012 – 2016 ..............................................................................................59
Bảng 2.16. Mức độ xảy ra bất bình giai đoạn 2012 – 2016 ..................................60
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo
nên những nét đặc trưng của Quan hệ lao động Việt Nam. Từ khi đất nước
chuyển mình sang thời kỳ đổi mới, QHLĐ cũng không thể nằm ngoài các
quan hệ thị trường. QHLĐ trong thị trường lao động là quan hệ được hình
thành trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện. Nó vừa là quan hệ kinh tế, vừa là quan
hệ có tính xã hội. Có thể nói QHLĐ trong thị trường lao động là tổng hòa của
các quan hệ xã hội. Sự phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng đã làm phát sinh
những vấn đề phức tạp trong QHLĐ như các hiện tượng vi phạm pháp luật,
TCLĐ, đình công, khiếu nại xảy ra thường xuyên. Đây là vấn đề rất đáng lo
ngại bởi doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại về uy tín, kinh tế, người lao động phải
chịu mất mát, thiệt thòi, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội.
Hội nhập khu vực và quốc tế sâu rộng mang lại những lợi ích to lớn đồng
thời cũng có những thách thức không hề nhỏ đặc biệt là vấn đề quản lý
trình toàn cầu hóa của QHLĐ thông qua các sự kiện, ý tưởng và nhân vật chủ
chốt.
Ở Việt Nam cũng đã có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu lý thuyết và
thực tiễn về đề tài này. Luận án “Một số vấn đề về QHLĐ tại các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế (trường hợp khảo sát tại thành phố Hồ
Chí Minh)” của Vũ Việt Hằng (2004) tập trung phân tích thực trạng về QHLĐ
ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp đầu tư nhà nước
tại Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế, nhấn mạnh các biểu hiện
không lành mạnh về QHLĐ và phân tích các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến
quan hệ này ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện
QHLĐ trong các doanh nghiệp kể trên. Tuy nhiên đề tài này nghiên cứu các
vấn đề về QHLĐ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh
2
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình chuyển đổi, tức là từ năm
1986 đến khi thực hiện đề tài (2004) đến nay đã hơn 10 năm.
Luận án “Vấn đề đình công của công nhân ở nước ta hiện nay” của Phạm
Xuân Hương (2001) được viết trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề đình công
của giai cấp công nhân Việt Nam.
Luận án “Hoàn thiện QHLĐ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Quân (1995) tập trung nghiên cứu thực
trạng QHLĐ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
trong khoảng thời gian từ 1988 – 1995.
Cũng có nhiều đề tài luận án tiến sỹ nghiên cứu về vấn đề QHLĐ như tác
giả Nguyễn Thị Minh Nhàn (2010), tác giả Nguyễn Duy Phúc (2011). Các
luận án này cũng đã nghiên cứu khá hệ thống về QHLĐ.
- Phòng nhân sự: 6 người
- Phòng tài chính kế toán: 7 người
- Phòng kinh doanh: 37 người
- Phòng kỹ thuật công nghệ: 32 người
- Phân xưởng xương: 164 người
- Phân xưởng men màu: 127 người
- Phân xưởng thành phẩm: 106 người
Tác giả tiến hành phát phiếu khảo sát toàn bộ cán bộ công nhân viên công
ty nhằm nghiên cứu, xem xét công tác quản lý QHLĐ tại Công ty Cổ phần
Prime - Đại Việt trong thời gian qua.
7. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng quản lý QHLĐ tại Công ty Cổ phần Prime Đại Việt thời gian qua
như thế nào, có những ưu điểm, hạn chế gì và nguyên nhân?.
4
- Những giải pháp cơ bản Công ty Cổ phần Prime - Đại Việt cần phải thực
hiện nhằm quản lý tốt hơn QHLĐ trong bối cảnh hội nhập quốc tế là gì?
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Trong thời gian vừa qua, Công ty Cổ phần Prime – Đại Việt hầu như
chưa quan tâm đúng mức đến quản lý QHLĐ, chưa có chuyên viên quản lý
QHLĐ. Đây cũng là thực trạng chung của nhiều doanh nghiệp Việt Nam
trong thời gian qua.
- Để quản lý QHLĐ tốt hơn, Công ty Cổ phần Prime – Đại Việt cần nầng
cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về tầm quan trọng của quản lý QHLĐ,
nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế; cần có chuyên viên đủ năng lực
chuyên phụ trách QHLĐ.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi: Thực hiện khảo sát đối với toàn
1.1.1. Quan hệ lao động
Khái niệm quan hệ lao động
Trong bất cứ xã hội nào con người cũng bị chi phối bởi các mối quan hệ
xã hội, mối quan hệ xã hội là mối quan hệ rất phức tạp, bao gồm: quan hệ
chính trị, quan hệ kinh tế, QHLĐ, quan hệ đạo đức, quan hệ tôn giáo... Nhờ
có các mối quan hệ này mà con người mới tồn tại, phát triển như một thực
thể, một thành viên trong cộng đồng xã hội. Trong các mối quan hệ đó thì
QHLĐ được coi là một trong những quan hệ chủ yếu nhất của con người.
Khái niệm về QHLĐ thực sự được quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỷ
XX. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về QHLĐ. Trong nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung: “QHLĐ là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất”. Cách hiểu này được tiếp cận phổ biến trong những năm giữa thế kỷ
XX, hệ tư tưởng kinh tế này không thừa nhận sự tồn tại của quan hệ mua bán
sức lao động, không có quan hệ chủ - thợ. Do đó, mọi người bình đẳng và làm
việc vì lợi ích chung.
Năm 1958, nhà kinh tế học người Mỹ J.T Dun lop, trong cuốn “The
Industrial Relations” - Cuốn sách đầu tiên về đề tài này, đã viết: “ Có thể coi
QHLĐ là một hệ thống có tính logic như một hệ thống kinh tế trong một xã
hội công nghiệp”. Hai giáo sư Grant và Malette ( Trường Đại học tổng hợp
Québec tại Montréal) thì cho rằng, QHLĐ là “những mối QHLĐ cá nhân và
tập thể giao hòa trong một tổ chức công nghiệp hóa”. Theo Giáo sư Loic
Cadin ( Trường Đại học thương mại Paris- ESCP) “ QHLĐ nói tới một tập
hợp các quy tắc và chính sách thực tế cấu thành nên các mối quan hệ giữa
7
người sử dụng lao động và người lao động với sự điều chỉnh và can thiệp về
mặt pháp lý của Nhà nước trong một doanh nghiệp, một ngành, một vùng hay
một quốc gia”.
- Khoản 6, điều 3: QHLĐ là quan hệ xã hội, phát sinh trong việc thuê
mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ.
Khoản 1, điều 7: QHLĐ giữa NLĐ hoặc tập thể NLĐ với NSDLĐ được
xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện,
thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau.
Khoản 2, Điều 7: Công đoàn, tổ chức đại diện NSDLĐ tham gia cùng với
các cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ;
giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ.
Theo PGS, TS Nguyễn Tiệp, trường Đại học Lao động – Xã hội cho rằng:
“ QHLĐ là hệ thống các mối quan hệ giữa các cá nhân hay tổ chức đại diện
của người sử dụng lao động hoặc giữa các tổ chức đại diện của họ với Nhà
nước và các chủ thể khác. Những mối quan hệ này diễn ra xoay quanh quá
trình thuê mướn lao động ( giữa người sử dụng lao động và người lao động)
nhằm đảm bảo sự hài hòa và ổn định về lợi ích của các bên liên quan.”
QHLĐ trong tổ chức là quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ diễn ra xung quanh
quá trình thuê mướn lao động, đảm bảo cho quan hệ đó được thực hiện một
cách tối ưu và bảo vệ được lợi ích của các bên trong thị trường lao động.
Quan hệ này có thể diễn ra trước khi người lao động được tuyển chọn vào tổ
chức (quan hệ tiền lao động), trong suốt quá trình người lao động làm việc
trong tổ chức (quan hệ trong lao động) và diễn ra sau khi người lao động
không còn làm việc trong tổ chức nữa (quan hệ sau lao động).
9
Quan hệ tiền lao động: được diễn ra trước khi NLĐ vào làm việc trong tổ
chức, đây có thể hiểu là mối quan hệ giữa NLĐ mong muốn vào làm việc trong
tổ chức với NSDLĐ dự định tuyển lao động. Mối quan hệ này được biểu hiện
thông qua hoạt động tuyển mộ, tuyển chọn nhân lực, tiếp đón nhân viên mới,
dụng lao động...)
- Nhà nước
Trên phạm vi quốc gia, các chủ thể này còn được gọi là các đối tác xã hội
trong QHLĐ.
Ngƣời lao động và tổ chức đại diện cho ngƣời lao động
- Người lao động
NLĐ được hiểu là những người tham gia vào một hợp đồng lao động mà
theo đó họ phải thực hiện một công việc nhất định, được cung cấp các phương
tiện vật chất cần thiết để làm việc và được nhận một số tiền nhất định theo
hợp đồng đã thảo thuận, phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ góc độ kinh tế học, NLĐ là người trực tiếp cung cấp sức lao động – một
yếu tố sản suất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ bản
của nền kinh tế. Những người đang lao động là những người có cam kết lao
động, có sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác.
Trong QHLĐ, NLĐ có vai trò là một chủ thể, là người trực tiếp hoặc
gián tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất. Đồng thời NLĐ là yếu tố giữ vai
trò quyết định trong quá trình tạo ra của cải vật chất. NLĐ không chỉ quyết
định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng tất cả các nguồn lực mà còn tạo ra
những giá trị, của cải xã hội, đặt nền móng cho sự phát triển bền vững trong
tương lai.
- Tổ chức đại diện cho người lao động
Để thích ứng với yêu cầu mới của công việc trong bối cảnh hiện nay NLĐ
phải không ngừng hoàn thiện năng lực của bản thân . Tuy nhiên do sức ép về
11
việc làm, kèm theo việc không sở hữu tư liệu sản xuất, NLĐ thường ở vị thế
yếu hơn so với NSDLĐ. Nếu chỉ dựa vào cá nhân NLĐ thì khó có thể bảo vệ
quyền và lợi ích của chính mình. NLĐ cần phải đoàn kết, tập hợp nhau lại, tạo
ra công đoàn còn có vai trò hỗ trợ các dịch vụ kỹ thuật, tổ chức các hoạt động
đào tạo, rèn luyện kỹ năng, hỗ trợ, tư vấn thông tin, dịch vụ việc làm cho các
thành viên của công đoàn.
Công đoàn với tư cách là đại diện cho NLĐ đã tham gia vào các cuộc
thương lượng hai bên, giải quyết các TCLĐ. Vai trò của công đoàn hiện nay
đang ngày càng được khẳng định và nâng cao.
Ngƣời sử dụng lao động và tổ chức đại diện cho quyền lợi của ngƣời
sử dụng lao động
Người sử dụng lao động
NSDLĐ được hiểu là người sở hữu vốn, là người chủ hợp đồng (nên còn gọi
là giới chủ). Trong nền kinh tế hiện đại đã có nhiều thay đổi, NSDLĐ không
nhất thiết phải là chủ sở hữu doanh nghiệp, mà chỉ cần họ có quyền tuyển dụng,
sử dụng, sa thải lao động. Vì vậy trong pháp luật lao động của một số nước, tất
cả những người đang làm công tác quản lý (Tổng giám đốc, Giám đốc…) đều
được gọi là NSDLĐ.
NSDLĐ là người đại diện hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp và có
quyền tuyển dụng, sử dụng, sa thải lao động, đó là người trực tiếp làm chủ thể
cùng người lao động trong hợp đồng lao động được ký kết.
NSDLĐ có quyền tuyển chọn, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu
kinh doanh; sa thải, khen thưởng và sử lý các vi phạm kỷ luật lao động theo
quy định của pháp luật lao động.
NSDLĐ có quyền đề cử đại diện để thương lượng, ký kết TƯLĐTT trong
các doanh nghiệp hoặc TƯLĐTT ngành; có trách nhiệm cộng tác với công
đoàn bàn bạc các vấn đề về QHLĐ, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
cho NLĐ. Đồng thời NSDLĐ có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động,
13
TƯLĐTT và những thỏa thuận khác với NLĐ, tôn trọng danh sự, nhân phẩm
Nhà nƣớc
Trong hệ thống QHLĐ, Nhà nước được hiểu như một bên đối tác, đại diện
cho lợi ích của quốc gia và toàn thể cộng đồng. Nhà nước tham gia vào
QHLĐ với tư cách là đại diện cao nhất cho lợi ích quốc gia và lợi ích của toàn
thể cộng đồng, xã hội và điều hòa mối quan hệ giữa nhau đối tác khác của
QHLĐ là NLĐ và NSDLĐ.
Vai trò của Nhà nước trong QHLĐ:
Trong QHLĐ có vai trò định ra pháp luật lao động, hướng dẫn thực hiện
pháp luật lao động, đồng thời vừa có vai trò là một chủ thể trong quan hệ 3
bên, đại diện cho lợi ích quốc gia và toàn thể cộng đồng. Nhà nước tham gia
vào QHLĐ từ trung ương đến địa phương thông qua hệ thống hành chính nhà
nước của mình.
Như vậy, QHLĐ trong doanh nghiệp được thiết lập và vận hành trực tiếp
bởi hai chủ thể là NLĐ (hay tổ chức đại diện cho NLĐ) và NSDLĐ (hay tổ
chức đại diện cho NSDLĐ). Trong hệ thống QHLĐ, chính phủ được hiểu như
một bên đối tác, đại diện cho lợi ích của quốc gia và toàn thể cộng đồng. Nhà
nước là một bên đối tác thứ ba trong QHLĐ, nhà nước tham gia vào QHLĐ
với tư cách là đại diện cao nhất cho lợi ích quốc gia, lợi ích của toàn thể cộng
đồng xã hội và điều hòa mối quan hệ giữa hai đối tác khác của QHLĐ đó là
NLĐ và NSDLĐ.
1.1.2. Nguyên tắc và phƣơng thức của quan hệ lao động
QHLĐ là toàn bộ những quan hệ có liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa
các bên tham gia trong quá trình lao động. Để đảm bảo cho mối quan hệ giữa
NLĐ và NSDLĐ được xây dựng một cách tốt đẹp, lâu dài, pháp luật lao động
có quy định nguyên tắc xác lập QHLĐ tại khoản 1 điều 7 Bộ luật lao động
năm 2012:
15
thiểu xung đột lợi ích giữa hai bên.
- Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Các hình thức đối thoại trong tổ chức bao gồm: trao đổi thông tin, tư vấn
tham khảo và thương lượng
Trao đổi thông tin trong đối thoại xã hội:
Trao đổi thông tin diễn ra khi một bên đối tác công bố, thông báo, đưa ra
những thông tin có liên quan, tác động đến đối tác còn lại. Việc trao đổi thông
tin nhằm mục đích để các bên đối tác biết được chủ trương, chính sách của
người đưa ra thông tin để cùng phối hợp thực hiện.
Việc trao đổi thông tin có thể được thực hiện một chiều hoặc hai chiều,
gián tiếp hoặc trực tiếp, dưới nhiều hình thức biểu hiện khác nhau như công
văn, thông báo, báo cáo, bản tin… Đây là hoạt động đơn giản nhưng là nền
tảng cho một cuộc đối thoại hiệu quả.
Tư vấn, tham khảo:
Đây là việc một bên đối tác tư vấn, tham khảo ý kiến của bên đối tác còn
lại trước khi đưa ra một quyết định liên quan đến họ.
Hoạt động tư vấn, tham khảo có thể diễn ra dưới nhiều hình thức: mời các
bên đối tác tham gia các cuộc họp, cuộc hội thảo hoặc thông qua các công văn
tham khảo, các phiếu điều tra…Người cần tư vấn vẫn là người đưa ra quyết
định cuối cùng nhưng có sự xem xét, cân nhắc đến ý kiến của các bên liên
quan, vì thế đối thoại mang tính chiều sâu.
Thương lượng:
Thương lượng là một quá trình trong đó hai bên hoặc nhiều bên có lợi ích
chung và lợi ích xung đột ngồi lại cùng nhau để thảo luận nhằm tìm kiếm một
thỏa thuận chung. Trong quá trình thương lượng đại diện của các bên đối tác
cùng tham gia, thảo luận, thống nhất về các vấn đề liên quan trực tiếp đến họ
17