Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ANH TƯ

MỐI QUAN HỆ GIỮA THANH ĐIỆU
TRONG CA TỪ VỚI GIAI ĐIỆU
CỦA HÁT VÍ NGHỆ TĨNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ANH TƯ

MỐI QUAN HỆ GIỮA THANH ĐIỆU
TRONG CA TỪ VỚI GIAI ĐIỆU
CỦA HÁT VÍ NGHỆ TĨNH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9 22 90 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:


Tác giả luận án

Trần Anh Tư


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả khảo sát thanh điệu trong ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh
theo tiêu chí âm vực
Bảng 3.2. So sánh tỉ lệ thanh điệu theo tiêu chí âm vực trong Hát ví Nghệ
Tĩnh với từ điển tiếng Việt
Bảng 3.3. Số lượng thanh điệu trong ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh theo âm vực
cao - thấp
Bảng 3.4. Khu vực cao độ của thanh ngang trong Hát ví Nghệ Tĩnh
Bảng 3.5. Khu vực cao độ của thanh huyền trong Hát ví Nghệ Tĩnh
Bảng 3.6. Khu vực cao độ của thanh sắc trong Hát ví Nghệ Tĩnh
Bảng 3.7. Khu vực cao độ của thanh nặng trong Hát ví Nghệ Tĩnh
Bảng 3.8. Khu vực cao độ của thanh ngã trong Hát ví Nghệ Tĩnh
Bảng 3.9. Khu vực cao độ của thanh hỏi trong Hát ví Nghệ Tĩnh
Bảng 3.10. Tần suất xuất hiện của các thanh điệu tương ứng với cao độ của
các nốt nhạc trong Hát ví Nghệ Tĩnh
Bảng 4.1. Tổng hợp kết quả khảo sát thanh điệu trong ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh
theo tiêu chí đường nét
Bảng 4.2. So sánh tỉ lệ thanh điệu theo tiêu chí đường nét trong Hát ví Nghệ
Tĩnh với từ điển tiếng Việt
Bảng 4.3. Số lượng thanh điệu trong ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh theo âm điệu
bằng - trắc
Bảng 4.4. Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh ngang
Bảng 4.5. Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh huyền
Bảng 4.6. Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh sắc
Bảng 4.7. Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh nặng

2.2.2. Mối quan hệ giữa âm và thanh
2.3. Giai điệu trong âm nhạc và âm điệu - ngữ điệu trong tiếng Việt
2.3.1. Âm vực của thanh điệu tiếng Việt theo quan điểm của
Âm nhạc học
2.3.2. Ngữ điệu và giai điệu trong dân ca Nghệ Tĩnh
2.4. Vài nét về Hát ví Nghệ Tĩnh

Trang
1
1
4
5
6
7
7
8
9
9
9
11
15
17
20
24
25
25
25
28
39
40

3.4.2. Âm vực thanh điệu tạo nên “màu sắc riêng” của giai điệu Hát
ví Nghệ Tĩnh
3.4.3. Âm vực thanh điệu tạo nên âm hưởng trầm - lắng của giai điệu
Hát ví Nghệ Tĩnh
3.5. Tiểu kết
Chương 4. SỰ TƯƠNG ỨNG GIỮA DIỄN TIẾN CAO ĐỘ CỦA
THANH ĐIỆU TRONG CA TỪ VỚI SỰ BIẾN ĐIỆU CỦA CÁC
NỐT NHẠC TRONG HÁT VÍ NGHỆ TĨNH
4.1. Định hướng nghiên cứu
4.2. Kết quả khảo sát chung

50
51
54

56
56
57
57
59
62
62
67
71
74
78
81
83
83
87

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

98
101
104
104
108
112
116
118
120
121
122
125

130
134
144
146
151
152


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Xét về mặt loại hình, đặc điểm quan trọng nhất của tiếng Việt là

truyền khẩu, nên các bài dân ca của mỗi địa phương, mỗi vùng, miền, mỗi thế
hệ, và ngay cả của mỗi nghệ nhân… luôn được gọt giũa, sửa sang để thành
những sáng tạo mang tính tập thể, khuyết danh, và tính dị bản cao.
Nhờ vào sự chắt lọc, gọt giũa qua nhiều thế hệ, những bài dân ca ấy trở
thành những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao về âm nhạc cũng như lời ca,
đại diện cho những ước vọng chân chính của con người trong cuộc sống, thể
hiện sự thông minh, sắc sảo của quần chúng lao động. Có thể dễ dàng nhận
thấy, trong các hình thái văn hoá dân gian Việt Nam, ca dao và dân ca gắn bó
với nhau rất khăng khít. Sự gắn bó giữa thơ và nhạc dân gian Việt Nam đã tồn
tại cùng với quá trình lịch sử dân tộc. Những bài thơ xưa được sáng tác không
phải để đọc hay in (bằng chữ), mà gắn liền với ngâm, hát (bằng lời). Các bài
ca dao và dân ca là do nhân dân, đa phần là nông dân không biết nhiều chữ
nghĩa, sáng tạo tùy hứng và tập thể, truyền miệng người này qua người khác.
Sự hoàn chỉnh và phát triển của bài hát dân ca là quá trình được “bẻ làn nắn
điệu”, tức là một điệu hát khi được hát lên thấy còn chưa hay có thể sửa chữa
thêm bớt, hoặc luyến láy thêm vào cho đến khi định hình (tương đối) để thành
những làn điệu dân ca. Có thể khẳng định, nhiều làn điệu dân ca Việt Nam
như Trống quân, Cò lả, Quan họ, Ru con, Hát ví... được phát triển từ những
câu ca dao được sáng tác theo những thể thơ truyền thống của dân tộc. Đa
phần âm điệu của lời thơ là cơ sở cho sự hình thành giai điệu của âm nhạc dân
ca. Với bước khởi đầu của sự hình thành và phát triển, âm điệu dân ca hầu
như không tách khỏi âm điệu tiếng nói, cụ thể ở đây là âm điệu lời thơ. Tìm
hiểu mối quan hệ này chúng ta sẽ thấy được sự tương đồng giữa thanh điệu
tiếng nói với giai điệu của dân ca trên từng vùng miền khác nhau với những
đặc trưng nổi bật.

2


1.3. Nghệ Tĩnh, gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, có một kho tàng thơ



ca xứ Nghệ so với dân ca của các vùng miền khác trên đất nước. Cũng là tìm
hiểu những đặc trưng về ngôn ngữ và văn hóa của con người xứ Nghệ, giúp
chúng ta cảm nhận được cái tinh túy của âm nhạc dân gian thể hiện qua sức
mạnh biểu đạt của ngôn từ mà người xưa đã sử dụng chất liệu ca dao, tục ngữ
để sáng tạo nên các làn điệu này bằng cả tâm hồn và nhiệt huyết dân tộc.
1.4. Trong thực tiễn đời sống âm nhạc đương đại, việc sáng tác các ca
khúc mới có sử dụng chất liệu dân ca nói chung, Ví, Giặm nói riêng cũng là
một cách thức để khơi nguồn và tiếp nối sức sống của dân ca cổ truyền trong
bối cảnh mới. Những đặc trưng, đặc điểm riêng có của tiếng địa phương Nghệ
Tĩnh được sử dụng tinh tế, uyển chuyển sẽ tạo cho nền âm nhạc Việt Nam
những tác phẩm mới có giá trị trường tồn. Nghiên cứu của luận án sẽ đóng
góp về mặt thực tiễn cho việc sáng tác ca khúc mới dựa trên chất liệu Ví, hoặc
làm mới dân ca theo kiểu lồng ghép làn điệu, cũng có thể biến đổi và làm mới
giai điệu cho có nhịp, có cao trào để âm hưởng Hát ví không còn trầm buồn
mà trong sáng, vui tươi… Đây là việc làm thiết thực, có ý nghĩa góp phần lưu
giữ, bảo tồn và phát triển vốn văn hóa dân gian, bản sắc của Đất - Người xứ
Nghệ, những viên ngọc quý dễ bị lãng quên trước sự tác động của nhiều yếu
tố xã hội và quy luật của sự hội nhập, phát triển kinh tế, văn hóa.
Với những lí do đã trình bày ở trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Mối
quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh”
làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là: khảo sát, phân tích nguồn ngữ liệu
để làm rõ đặc điểm sử dụng thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh trong ca
từ để tạo nên giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh ở những nét cơ bản và nổi bật
nhất. Qua đó, đưa ra những nhận xét về vai trò, sự ảnh hưởng của thanh điệu
tiếng địa phương đối với việc hình thành giá trị cao độ của giai điệu trong dân

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ tương ứng giữa thanh
điệu trong ca từ và cao độ của các nốt nhạc trong các bài dân ca Hát ví Nghệ
Tĩnh để làm rõ vai trò của thanh điệu tiếng địa phương với giai điệu của Hát

5


ví Nghệ Tĩnh thông qua khảo sát 1.732 âm tiết mang thanh điệu của 68 bài
dân ca Hát ví phổ biến do các nghệ nhân hát và được các nhạc sĩ kí âm, in
trong các tài liệu sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu liên quan đến các làn điệu
Hát ví Nghệ Tĩnh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu, nguồn ngữ liệu
3.2.1. Phạm vi nội dung
Luận án nghiên cứu đặc điểm sử dụng thanh điệu tiếng địa phương
Nghệ Tĩnh (âm vực và âm điệu) thuộc phần lời thơ (chủ yếu là lục bát, lục bát
biến thể…), không bao gồm tiếng đệm, tiếng phụ nghĩa, tiếng lấy hơi… để tạo
nên giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh.
3.2.2. Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu của chúng tôi là 68 bài dân ca Hát ví được lấy từ 3 tài
liệu tiêu biểu, được tuyển chọn, giới thiệu và phổ biến rộng rãi sau đây:
1. Tuyển tập dân ca xứ Nghệ [152]:

bài 1 – 19

2. Hát ví Nghệ Tĩnh [93]:

bài 20 – 63

3. Phim tư liệu “Hát phường Vải xứ Nghệ” [180]: bài 64 – 68
Với nguồn ngữ liệu này, chúng tôi chỉ khảo sát ca từ (phụ lục 2) của

diện ngữ âm trong Hát ví Nghệ Tĩnh, cụ thể là về mối quan hệ cũng như vai
trò của thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh đối với giai điệu của Hát ví
Nghệ Tĩnh. Vận dụng những kiến thức cơ bản của ngữ âm học, phương ngữ
học, lý thuyết âm nhạc cơ bản để khảo sát, phân tích về sự tương ứng giữa âm
vực và đường nét của thanh điệu đối với việc hình thành giá trị cao độ của
giai điệu trong Hát ví Nghệ Tĩnh, qua đó nhằm làm rõ sự hành chức của thanh
điệu tiếng Việt trong âm nhạc. Đồng thời đề tài cũng góp phần làm rõ vai trò
của thanh điệu tiếng địa phương đối với việc hình thành nên những giá trị âm
nhạc đặc trưng vùng miền của các làn điệu dân ca Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần:

7


- Làm rõ một số khía cạnh lý thuyết về thanh điệu tiếng Việt nói chung
và thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh nói riêng.
- Bổ sung, làm rõ thêm vai trò đặc biệt của thanh điệu tiếng Việt không
chỉ trong việc sáng tác thơ ca mà còn tạo nên vẻ đẹp của giai điệu âm nhạc
thông qua hoạt động hành chức của nó.
- Miêu tả, làm rõ sự tương ứng giữa âm vực, âm điệu của thanh điệu
trong ca từ với giai điệu trong Hát ví Nghệ Tĩnh, mối quan hệ tương tác và vai
trò của thanh điệu với giai điệu của dân ca.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào việc nghiên cứu,
giảng dạy, bảo tồn và sáng tác mới các ca khúc có âm hưởng dân ca xứ Nghệ.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án
gồm 4 chương:

âm tiết. Chỉ sau những năm sáu mươi, những người học tập ở Liên Xô cũ đã
tiếp thu những tư tưởng của E.D. Polivanop và A. A. Dragunop về đơn vị
được gọi là xilabem - hình tiết tương đương với tiếng hay âm tiết trong tiếng
Việt, thì việc xác định vai trò âm tiết mới được quan tâm thỏa đáng. Vào năm
1985, Tạp chí Ngôn ngữ, cơ quan ngôn luận duy nhất thời kỳ này đã tổ chức
thảo luận chuyên đề “Tiếng, hình vị và từ” theo hình thức các bài trình bày,
thảo luận công khai trên Tạp chí trong nhiều số và đã thu được những kết quả
thú vị.
Các tác giả tiêu biểu chúng tôi đã nêu trên đều nhất trí và xác nhận vai
trò của âm tiết: cho dù là đơn vị ngữ âm, nhưng nó là đơn vị cơ bản nhất và
quan trọng nhất tạo nên đặc điểm loại hình đơn lập tiếng Việt. Sự khác biệt
giữa các tác giả chỉ là quan niệm về cấu trúc của âm tiết. Nguyễn Hàm

9


Dương là tác giả đầu tiên nêu lên vai trò của âm tiết tiếng Việt qua bài “Âm
tiết tiếng Việt, một đơn vị tín hiệu cơ bản” (1966). Trong bài viết, tác giả
chứng minh âm tiết trong tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhất và có
chức năng không chỉ đối với ngữ âm mà còn đối với cả từ vựng, ngữ pháp
tiếng Việt. Tiếp tục tư tưởng này, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt. Tiếng –
Từ ghép – Đoản ngữ” (1975), Nguyễn Tài Cẩn khi bàn về đơn vị cơ bản của
ngữ pháp tiếng Việt, đã chỉ ra đầy đủ vai trò của âm tiết mà ông gọi là tiếng
với tư cách là một thể nhưng thống nhất ba ngôi: tiếng đồng thời là âm tiết
(ngữ âm), là từ cơ bản (từ vựng) và là hình vị (ngữ pháp). Rõ ràng, đặc trưng
đơn tiết thể hiện ở tất cả các cấp độ của tiếng Việt và là đặc trưng không thể
phủ nhận.
Cao Xuân Hạo, ngay từ bài viết “Về cương vị ngôn ngữ học của tiếng”
(1985) đã chứng minh cho luận điểm “trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị,
vừa là hình vị vừa là từ” và “tôi có chứng minh rằng trong tiếng Việt đơn vị

năng mà chủ yếu bàn về cấu trúc của âm tiết tiếng Việt. Các tác giả này đều
chia âm tiết thành bốn thành phần chiết đoạn: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm
cuối và một thành phần siêu đoạn: thanh điệu.
1.1.2. Về thanh điệu tiếng Việt
Hệ thống thanh điệu tiếng Việt, từ rất lâu đã được các tác giả cả
trong nước và và đặc biệt là các tác giả nước ngoài quan tâm, nghiên cứu từ
nhiều góc độ khác nhau.
Các công trình của các tác giả trong nước viết về thanh điệu tiếng Việt
bằng tiếng Việt phải kể đến: Đoàn Thiện Thuật (1977), Bùi Văn Nguyên
(1977), Hoàng Cao Cương (1986), Vũ Kim Bảng (1986), Hoàng Thị Châu
(1989), Võ Xuân Quế (1993), Vũ Bá Hùng (1978, 1988, 1990, 1999), Huỳnh
Công Tín (1999), Nguyễn Văn Tài (1980), Trần Trí Dõi (1991, 2002),
Nguyễn Hoài Nguyên (2002), Nguyễn Văn Lợi (1991, 1997, 2002, 2009,
2012), Nguyễn Tài Thái (2015)…
Các công trình của các tác giả ở ngoài nước viết về thanh điệu tiếng
Việt bằng tiếng nước ngoài là rất đa dạng và phong phú. Có thể kể đến các tác
giả: Lê Văn Lý (1948), Andreev, N.D. & Gordina, M.V. (1957), Nguyen Ham
Duong (1966), L. Thompson (1965), Nguyễn Đăng Liêm (1970), Earle
(1975), Han và Kim (1974), Gordina M.V. và Bystrov, I.X. (1984), Vu Thanh
Phuong (1982), Đỗ Thế Dũng (1986), Haudricourt A.G. (1991), Efimov. A.J.
(1991), Ferlus Michel (1997), Andrea Hoa Pham (2001, 2003, 2005), Koichi
Honda (2006)...
Những nghiên cứu về thanh điệu tiếng Việt có nội dung được đề cập
đến rất phong phú: nguồn gốc; miêu tả đặc trưng; các biến thể địa phương và
các vấn đề khác liên quan. Về phương pháp, các tác giả dùng cả phương pháp
cảm thụ thính giác và phương pháp ngữ âm học thực nghiệm. Sau đây là một

11



một cách toàn diện ở diện đồng đại, trước tiên phải kể đến hai công trình “Hệ
thống thanh điệu tiếng Việt” của Andreev N.D. & Gordina V. (1957) và “Ngữ
âm tiếng Việt” của Đoàn Thiện Thuật (1977). Cả hai công trình này trước tiên

12


đã tiến hành miêu tả hệ thống thanh điệu tiếng Việt ở cả bình diện âm vị học
và ngữ âm học bằng hai phương pháp điển hình: cảm thụ thính giác (Đoàn
Thiện Thuật) và ngữ âm thực nghiệm (Andreev N.D. & Gordina V.M.). Các
tác giả đã trình bày, bàn luận từng đặc điểm tiêu chí ngữ âm học của hệ thanh
điệu tiếng Việt: âm vực, đường nét, trường độ, hiện tượng tắc họng, hiện
tượng yết hầu hoá... có đối chiếu với những kết quả nghiên cứu đã có của các
tác giả đi trước. Có thể khẳng định, các kết quả nghiên cứu của hai công trình
trên về thanh điệu tiếng Việt đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Các công trình nghiên cứu mới về hệ thanh điệu Việt cũng đã xuất hiện.
Một số tác giả như: Thompson (1965), Vu Thanh Phuong (1982), Nguyễn
Văn Lợi & Jerold A. Edmondson (1987), Andrea Hoa Pham (2003)... có sự
khác biệt với nhiều tác giả theo quan niệm truyền thống ở Việt Nam, đã đưa
ra một cách nhìn mới về các tiêu chí khu biệt thanh điệu khi cho rằng để khu
biệt thanh còn phải dựa vào tiêu chí chất giọng (voice quality) vốn là hệ quả
của các thức tạo thanh (phonation type).
c) Các biến thể của hệ thống thanh điệu tiếng Việt về mặt địa lý
Tiếng Việt là sự thể hiện đa dạng nhưng thống nhất qua các phương
ngữ. Do vậy, thanh điệu tiếng Việt thể hiện trong từng phương ngữ đặc biệt
được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Võ Xuân Quế (1993), Hoàng Thị
Châu (2004), Nguyễn Văn Lợi (1997, 2009, 2012), Võ Xuân Trang (1997),
Trần Trí Dõi (2002), Trịnh Cẩm Lan (2005), Nguyễn Tài Thái (2015)…
Do tính đại diện và đa dạng của phương ngữ Bắc qua các tiếng Hà Nội
và các thổ ngữ vùng đồng bằng Bắc Bộ nên nhận được sự chú ý của nhiều nhà

khảo sát (Vương Hữu (1985), Đinh Điền, Đỗ Đức Hào (2015) …)
Trong dòng lời nói liên tục, các thanh điệu hiếm khi đạt được giá trị
đích của chúng, chúng thường chịu ảnh hưởng bởi ngữ cảnh: âm tiết có
trọng âm và âm tiết không trọng âm (nhấn - không nhấn); ảnh hưởng bởi các
thanh điệu xung quanh; nhịp điệu... những yếu tố ảnh hưởng này ít được
nghiên cứu. Liên quan trực tiếp đến vấn đề mà đề tài quan tâm, năm 1990,
tác giả Vũ Bá Hùng cũng đã đặt ra vấn đề cần phải xem xét đặc điểm thanh
điệu trong chuỗi lời nói, tuy nhiên, ông mới chỉ xem xét thanh điệu trong
“ngữ cảnh vi mô”, cụ thể là “nghiên cứu thanh điệu trong các từ song tiết,
hình thái nhỏ nhất của sự kết hợp”, đo sự thay đổi của tần số cơ bản ở 3
điểm: đầu, giữa và cuối mỗi thanh và trường độ của các thanh ngang, huyền,
hỏi, sắc, nặng; và 6 điểm đối với thanh ngã (bởi đường nét thanh này bị
gãy). Tuy nhiên, nếu chỉ đo giá trị F0 ở ít điểm thì khó dựng lại được sự thay
đổi cụ thể, tinh tế của đường nét thanh điệu. Do đó, trong nghiên cứu của
mình, chúng tôi mong muốn mở rộng phạm vi sang khảo sát thanh điệu
trong “ngữ cảnh vĩ mô” hơn.
Han và Kim (1974) miêu tả các biến thể thanh điệu trong các từ song

14


tiết; cũng có thể tìm thấy một vài nhận xét về vấn đề này trong các bài nghiên
cứu của Hoàng Tuệ và Hoàng Minh (1975), Gordina và Bystrov (1984),
Hoàng Cao Cương (1985) và P. Seitz (1986). Đỗ Thế Dũng (1986, 1989) đưa
ra những miêu tả chi tiết trong bài báo cáo về mối quan hệ giữa trọng âm và
thanh điệu.
Nhiều tác giả quan tâm đến hiện tượng biến thanh hay còn gọi là hiện
tượng “sandhi” (chuyển âm theo ngữ cảnh) trong tiếng Việt, một hiện tượng
diễn ra trong các ngôn ngữ có thanh điệu khác như tiếng Trung Quốc, tiếng
Thái. Thanh điệu có thể chịu ảnh hưởng của thanh điệu xung quanh, song nó

Do những đặc điểm mang tính khác biệt, từ lâu, tiếng địa phương Nghệ
Tĩnh đặc biệt được nhiều người quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu. Năm 1912, H.
Maspéro đã đưa ra những nhận xét về thanh điệu Nghệ Tĩnh trong công trình
nghiên cứu lịch sử các âm đầu tiếng Việt: “Thanh 1 (bằng) và thanh 2 (huyền)
giống với tiếng Bắc, nhưng thanh 1 thường được phát âm với âm điệu hơi đi
xuống, còn thanh 2 Nghệ lại có mức âm điệu cao hơn thanh 2 Bắc, mặc dù vẫn
thuộc âm vực thấp, khác với thanh 1 thuộc âm vực cao. Thanh 5 (thanh sắc)
Nghệ thường có đường nét âm điệu gần giống thanh 4 (thanh hỏi) Bắc nhưng
thuộc âm vực cao. Thanh 4 thường có đường nét âm điệu giống thanh 6 Bắc và
thường có âm tắc thanh hầu ở cuối hoặc ở giữa [dẫn theo 169, 91]. Lần lượt các
nhà nghiên cứu Andreev & Gordina (1960), Hoàng Thị Châu (1989), Võ Xuân
Quế (1993), Hoàng Cao Cương (1989), Đinh Lê Thư - Nguyễn Văn Huệ
(1998), Trần Trí Dõi (2001)… cũng đã có các công trình miêu tả đồng đại hệ
thống thanh điệu Nghệ Tĩnh. Các tác giả Hoàng Thị Châu, Hoàng Cao Cương,
Trần Trí Dõi đã có những miêu tả khá chi tiết và đều cho rằng thanh điệu Nghệ
tĩnh có thể xem như tiêu biểu cho hệ thanh điệu của các phương ngữ Bắc Trung
bộ, gồm 5 thanh, không có thanh ngã. Theo Hoàng Thị Châu, đặc điểm cơ bản
của hệ thanh Nghệ Tĩnh là hệ thanh điệu trầm [22]. Hoàng Cao Cương cũng
nhận định, thanh điệu Nghệ Tĩnh có vùng âm vực chung hẹp, sự phân cắt các
vùng âm vực bộ phận không rõ ràng, tạo ấn tượng thẩm nhận giọng nặng, có
phần đơn điệu so với giọng Bắc và giọng Nam [32].
Trong bài viết “Thanh điệu một vài thổ ngữ Nghệ An: từ góc nhìn đồng
đại và lịch đại”, dựa trên kết quả phân tích thực nghiệm bằng máy tính, tác giả
Nguyễn Văn Lợi đã xác lập hai bộ tiêu chí nhận diện hệ thanh điệu Nghệ An
là các tiêu chí về cao độ và các tiêu chí về chất giọng. Những đặc trưng chung
về cao độ thanh điệu Nghệ An là “âm vực chung hẹp, và sự khác biệt không
lớn giữa âm vực bộ phận các thanh là đặc trưng quan trọng của hệ thanh tiếng
Nghệ An” [120, 9]. Đặc trưng về đường nét âm điệu cũng được tác giả chỉ rõ
“cả về lịch đại và đồng đại, các đặc trưng về cao độ (đường nét âm điệu và âm
vực) để nhận diện và khu biệt các thanh tiếng Nghệ An được thể hiện chủ yếu

khấu, văn hóa, văn học, ngôn ngữ... Những xu hướng tìm hiểu dân ca xứ
Nghệ và kết quả nghiên cứu thể hiện trên mấy phương diện cơ bản sau đây:
Về lĩnh vực sưu tầm: Việc sưu tầm dân ca Nghệ Tĩnh đã được tiến
hành bền bỉ, kiên trì từ những năm trước Cách mạng, những năm kháng chiến
chống Pháp, chống Mỹ và cho đến hiện nay, do các nhà nghiên cứu văn hóa
dân gian, các nhạc sỹ, nghệ sỹ thực hiện như: Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn
Đổng Chi, Nguyễn Chung Anh, Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh, Lê Hàm,
Trần Hữu Thung, Thanh Lưu, An Thuyên... Tính đến nay đã có nhiều tác giả,

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status