ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chương 1: Vai trò và ý nghĩa của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông
1.1. Vị trí, vai trò của công nghệ thông tin trong DHLS ở trường PT
Khi bộ môn Lịch sử (LS) được đưa vào giảng dạy trong nhà trường thì vấn đề sử dụng
các phương tiện dạy học cũng được các nhà giáo dục LS quan tâm nghiên cứu và không ngừng
cải tiến, phát triển. Các phương tiện dạy học truyền thống như tài liệu giáo khoa, bản đồ, tranh
ảnh, các loại sơ đồ, biểu bảng ...cũng như các thiết bị kỹ thuật hiện đại như máy chiếu phim,
đèn chiếu, máy ghi âm, TV, video, công nghệ thông tin-truyền thông (CNTT&TT)... được sử
dụng ngày càng phổ biến trong vài thập niên gần đây, đã được thực tiễn và lý luận dạy học
khẳng định là những phương tiện dạy học rất cần thiết trong việc góp phần nâng cao hiệu quả
bài học LS ở trường phổ thông (PT).
Trong xu thế phát triển của giáo dục hiện đại, các thiết bị điện tử là những phương tiện kỹ
thuật dạy học (PTKTDH) hỗ trợ đắc lực và không thể thiếu trong các hoạt động DHLS của GV
và HS. Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn cũng như nhận thức LS của HS và yêu cầu đổi mới
PPDHLS, các PTKTDH có nhiều ưu thế trong việc giúp HS "tiếp cận" với quá khứ một cách
cụ thể, sinh động, qua đó, giúp HS tích cực và hứng thú trong học tập LS.
Sử dụng phương tiện kỹ thuật trong DHLS không chỉ để minh họa LS mà còn là nguồn
thông tin làm phong phú bài học, là công cụ để GV tổ chức HS khai thác, tiến hành giờ học LS
một cách hiệu quả trong tất cả các khâu của quá trình dạy học.
Về ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin trong DHLS đã được đề cập khá cụ thể
trong các tài liệu lý luận dạy học về sự tác động tích cực đến những khả năng nhận biết, ghi
nhớ, thông hiểu, phát triển tư duy, ngôn ngữ, óc thẩm mỹ cũng như đối với năng lực thực hành
và tình cảm, sự hứng thú học tập của HS. Ở đây, chúng tôi chỉ làm rõ thêm một số ưu thế, khả
năng của PTKTDH và định hướng sử dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS, đảm
bảo mục tiêu dạy học về kiến thức, kỹ năng, thái độ.
Phương tiện kỹ thuật dạy học, đặc biệt là CNTT&TT được các nhà giáo dục đánh giá có
ưu thế về khả năng đa phương tiện, đa truyền thông (Multimedia). Các phương tiện này có thể
1
quan niệm cho rằng PTKTDH hiện đại có thể thay thế vai trò tổ chức học tập của GV cũng
2
như các phương tiện dạy học truyền thống khác như bảng đen, giáo án lên lớp, việc trình bày
miệng,...
Hiện nay, nhiều GV tiến hành bài giảng LS với sự hỗ trợ của PTKTDH nhưng chủ yếu
chỉ để minh họa LS, có khi còn lạm dụng hoặc không bám vào kiến thức cơ bản của bài học,
do đó, làm hạn chế khả năng nắm vững bài học cũng như việc phát triển tư duy của học sinh.
Nội dung LS được thể hiện nhờ các PTKTDH phải cơ bản, vừa đủ, đa dạng về thông tin và
nên được khai thác sử dụng như một nguồn kiến thức mới, như một công cụ để tổ chức HS
hoạt động (cá thể, nhóm...), tiến hành dạy học nêu vấn đề, thực hiện các bài tập so sánh, đối
chiếu, điền thế, ....
Sử dụng phương tiện kỹ thuật trong dạy học không nên là "độc quyền" của GV mà người
dạy cần phải quan tâm hơn việc tạo điều kiện cho HS phát huy những kiến thức về kỹ thuật,
đặc biệt là CNTT&TT, đã được học để vận dụng sáng tạo trong học tập LS. Trong Tuyên bố
chung của Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước thành viên tổ chức APEC lần thứ 2 về vấn
đề “ Giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ XXI” (07/4/2000) đã xác định một trong những
nhiệm vụ chiến lược sắp đến là phải xem “ CNTT&TT như là năng lực cốt lõi dành cho học
sinh, sinh viên trong tương lai. Tiếp cận và khai thác tiềm năng của CNTT&TT để nâng cao
chất lượng học tập và giảng dạy, khuyến khích học tập suốt đời.”. Chương trình quốc gia về
giáo dục lịch sử ở trường PT của nước Anh (1995) cũng đã xác định rõ: “Học sinh nên được
tạo cơ hội để phát triển và vận dụng năng lực công nghệ thông tin của mình vào học tập lịch
sử.” .
Bước đầu, GV có thể tổ chức cho HS luyện tập các kỹ năng thao tác với PTKTDH như
sử dụng Internet để sưu tầm các tư liệu viết, hình ảnh, video LS để biên tập lại trên giấy hoặc
đưa vào slide của những phần mềm trình diễn (PowerPoint., Impress,...) nhằm phục vụ các bài
tập thuyết trình ngắn trong dạy học bài nội khóa hay các hoạt động ngoại khóa. Khi lên lớp
với sự hỗ trợ của máy vi tính, GV nên lưu ý hướng dẫn HS sử dụng bàn phím, chuột để viết,
vẽ, đánh đấu lên các nội dung mà GV đang trình bày trên màn hình kết hợp với trình bày
phương tiện truyền thống trong nghiên cứu và giảng dạy LS (CNTT giúp tìm kiếm, lưu trữ,
sắp xếp, thống kê các thông tin tư liệu LS nhưng không thể làm tốt hơn nhà nghiên cứu trong
nhận xét, đánh giá các sự kiện LS; độ tin cậy, tính khoa học, chân thực của các thông tin trên
các tài liệu LS gốc thuyết phục hơn các thông tin trên Internet; CNTT không thay thế GV
trong việc tổ chức, điều khiển lớp học hoặc ở những nơi điều kiện trang thiết bị kỹ thuật còn
hạn chế thì các phương tiện dạy học truyền thống có ưu thế hơn,...) Các ứng dụng CNTT là
đa năng nhưng không vạn năng, tránh biểu hiện lạm dụng, tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố kỹ
4
thuật Cần kết hợp khai thác hợp lý các ứng dụng của CNTT với các phương tiện thông tin
truyền thống trong nghiên cứu và giảng dạy LS tùy theo yêu cầu, mục tiêu, điều kiện cụ thể.
1.2. Ý nghĩa của các ứng dụng CNTT
- Các ứng dụng CNTT là cầu nối lý tưởng giữa hiện thực LS trong quá khứ với nhận thức
LS của nhà khoa học, của GV - HS trong nghiên cứu, tìm hiểu LS. (Kho thông tin tư liệu vô
cùng đa dạng, phong phú dưới dạng đa phương tiện, và khả năng siêu liên kết )
- CNTT làm thay đổi cách dạy, cách học cũng như cách tiếp cận thông tin LS (Any Time;
Any Where; Any Way: Any One: Any Level:, Life Long). CNTT vừa giúp phát huy tốt năng
lực tự học, tự nghiên cứu của cá nhân vừa tạo điều kiện làm việc hợp tác theo nhóm.
- CNTT là phương tiện hỗ trợ đắc lực trong chia sẻ, trao đổi, tìm kiếm, sắp xếp,lưu trữ,
thống kê, xử lý,...thông tin và thăm dò ý kiến phản hồi của những người quan tâm.
- Thông tin LS do CNTT đem lại luôn được cập nhật kịp thời, sinh động tác động đến
nhận thức, tình cảm thúc đẩy động cơ nghiên cứu, học tập LS.
- Để đảm bảo hiệu quả ứng dụng CNTT trong NC & GD LS, cần tuân thủ những yêu
cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, Xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của công việc cụ thể để có sự lựa chọn phù hợp
các ứng dụng của CNTT giúp hỗ trợ hiệu quả hoạt động NC & GD LS.
Thứ hai, Cần nắm rõ những ưu điểm của CNTT để phát huy ưu thế của nó, đồng thời nhận
thức những mặt trái, hạn chế của CNTT để có biện pháp phòng tránh, khắc phục hợp lý.
Thứ ba, Khi sử dụng các thông tin mà CNTT đem lại, nhất là thông tin trên Internet cần có sự
2.2. Bài giảng điện từ trong DHLS
2.2.1. Về khái niệm “bài giảng điện tử”
Kể từ khi CNTT được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội thì các
thuật ngữ ghép với từ “điện tử” như: “thư điện tử” (E-mail), “sách điện tử” (E-book), “lớp học
điện tử” (E-learning), “giáo án điện tử”, “bài giảng điện tử” (E-lesson)…thường được nói đến
và sử dụng ngày càng phổ biến. Các thuật ngữ như E-mail, E-book, E-learning…về cơ bản,
sớm được người sử dụng thống nhất cách hiểu.
Riêng đối với thuật ngữ “giáo án điện tử” và “bài giảng điện tử” vẫn còn nhiều cách
hiểu khác nhau và thực tế hiện nay vẫn còn lẫn lộn trong cách gọi. Nhiều giáo viên phổ thông
và một số bài báo không phân biệt thuật ngữ “giáo án điện tử”, “bài giảng điện tử”, thậm chí
có ý kiến cho rằng hai thuật ngữ này gần như là một.
Hiểu theo nghĩa rộng, BGĐT là một “sản phẩm” điện tử, được số hoá (giáo trình điện
6
tử, giáo án điện tử, hồ sơ dạy học, học liệu điện tử…) được thiết kế, tổ chức theo ý đồ, mục
tiêu sư phạm nhất định. Sản phẩm này có thể được dùng một cách độc lập hoặc tích hợp với
các bài giảng truyền thống hiện nay” và là một “quá trình” dạy học được điện tử hoá, số hoá.
Quá trình dạy học “không truyền thống” này cho phép người học, người dạy và nội dung tri
thức tương tác với nhau trong một môi trường số hoá (thường là mạng Internet, đĩa CD-Rom)
ở mọi nơi, mọi lúc”.
BGĐT thường được thiết kế bằng phần mềm Ms FrontPage, Mm Dreamweaver, Flash…
để chạy trên các hệ thống mạng, còn để hỗ trợ dạy học lịch sử theo kiểu truyền thống trên lớp
ở trường phổ thông thì phần mềm PowerPoint là một sự lựa chọn khả thi và thích hợp với điều
kiện, yêu cầu dạy học cũng như khả năng tiếp cận của giáo viên và học sinh.
Một số nhà giáo dục cho rằng thực hiện “giáo án điện tử” và “bài giảng điện tử” là hai
khâu của quá trình dạy học có sự hỗ trợ của máy tính và phần mềm máy tính. Theo đó, hai
thuật ngữ này được phân biệt khá rõ: “Bài giảng điện tử là hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở
đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển
thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra”…và “Giáo án điện tử chính là bản thiết
cách đa dạng, trực quan và cụ thể bằng tranh, ảnh lịch sử, các đoạn phim, âm thanh tư liệu lịch
sử, bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, niên biểu, bảng so sánh…Yếu tố đa phương tiện của BGĐT sẽ kích
thích đa giác quan của học sinh trong qua trình tiếp thu, lưu giữ và xử lý thông tin và qua đó
làm tăng sự chú ý, hứng thú cũng như hiệu quả nhận thức.
- Tính tương tác cũng là một đặc trưng ưu thế của BGĐT. Trong quá trình thực hiện bài
học lịch sử, ngoài việc phải đảm bảo quy định chung của chương trình, sách giáo khoa và mục
tiêu của bài học còn yêu cầu giáo viên phải tính đến sự phù hợp với những đối tượng học sinh
khác nhau (trong cùng một lớp hay khác lớp) cũng như với những điều kiện, tình huống dạy
học khác nhau. Khả năng tương tác của BGĐT giúp giáo viên và học sinh có thể tác động lên
những nội dung trình chiếu khiến cho bài giảng trở nên linh hoạt, tuỳ biến cho phù hợp với đối
tượng và tình huống dạy học cụ thể, qua đó góp phần phát huy tốt tính tích cực học tập của
người học.
2.2.3. Một số hạn chế thường gặp trong thiết kế và tiến hành BGĐT
Từ những lý do chủ quan và khách quan, thực tiễn sử dụng BGĐT trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông hiện nay thường mắc phải những hạn chế khá phổ biến sau:
- Nhiều GV chưa chú ý chọn lọc các tính năng thích hợp của phần mềm PowerPoint để
xây dựng BGĐT, thậm chí có biểu hiện lạm dụng kỹ thuật. Chẳng hạn như: Tạo các hiệu ứng “
bay nhảy” kèm theo những âm thanh không cần thiết và có khi phản tác dụng giáo dục; lựa
8
chọn nhiều background, màu chữ , font chữ cầu kỳ, phức tạp, ít hài hoà, thiếu tính nhất quán,
và nhất là không thể hiện được ý tưởng sư phạm trong cả hình thức lẫn nội dung trình bày…
- Nhiều BGĐT chưa đảm bảo tính hệ thống của kết cấu bài giảng (cách trình bày bảng
đen của bài giảng truyền thống thường đảm bảo tốt yêu cầu này). Điều này dễ làm cho nhận
thức lịch sử của HS rơi vào sự tản mạn, thiếu hệ thống.
- Các dạng thông tin trình bày trên các slide còn nghèo nàn, chủ yếu là văn bản với câu
chữ ít cô đọng, chưa thể hiện rõ kiến thức cơ bản, trọng tâm. Ngược lại, có GV lại ôm đồm,
muốn đưa nhiều dạng thông tin Multimedia để trình chiếu trên cùng một slide khiến cho bố
cục trình bày rối rắm, làm HS dễ bị nhiễu loạn thông tin, khó nhận ra đâu là kiến thức cơ bản,
HS với màn hình hay bảng đen.
- Cần lưu ý xây dựng các dạng câu hỏi, bài tập phong phú, đa dạng, bảo đảm kiến thức
trọng tâm và có thể sử dụng linh hoạt cho các đối tượng HS khác nhau.
- Cần thiết đưa vào bài giảng những nội dung có tác dụng giáo dục tư tưởng tình cảm cho
HS ( nhất là những hình ảnh, đoạn phim tư liệu lịch sử)
- Sử dụng tốt các chức năng liên kết để tạo nên những khả năng mở, linh hoạt của BGĐT
trong việc mở rộng kiến thức, liên hệ, so sánh hay thực hiện các dạng bài tập… dành cho các
đối tượng HS khác nhau…
* Quy trình xây dựng BGĐT:
Việc tuân thủ quy trình xây dựng có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả
của BGĐT. Quy trình xây dựng BGĐT gồm các bước sau:
a/ Xác định rõ mục đích yêu cầu của tiết học
b/ Xác định những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà HS cần nắm vững trong tiết học
c/ Sưu tầm, chọn lọc các nguồn tư liệu viết, tranh, ảnh, phim tư liệu, băng ghi âm có liên
quan đến những kiến thức cơ bản đã được xác định .
d/ Xử lý số hoá các tư liệu đã chọn lọc. Các tư liệu tranh, ảnh, băng ghi âm, phim tư liệu
lịch sử sau khi đã được số hoá nên được “gói” trong một Folder và đặt file name phù hợp ( Ví
dụ: Data bai15 ) để dễ tìm kiếm và đưa kèm theo BGĐT khi ghi vào CD hoặc thẻ USB.
e/ Dự kiến số slide phù hợp với khối lượng kiến thức cơ bản và xây dựng kế hoạch thiết
kế nội dung cụ thể của các slide (kịch bản). Bảng kế hoạch có thể được trình bày như sau:
Đối tượng được trình bày trên các Slide
Thời
gian
Đồ
Văn bản
hoạ,
hình
đối với những nội dung, đơn vị kiến thức có cùng cấp độ, cùng mục đích sư phạm. Chọn lựa
các hiệu ứng và sắp xếp thứ tự trình chiếu hợp lý, đảm bảo thể hiện tốt nội dung kiến thức và ý
tưởng sư phạm. Biết tạo các nút liên kết linh hoạt, hợp lý để mở rộng nội dung, liên hệ, hoặc
so sánh các sự kiện lịch sử, thực hiện đa dạng các loại bài tập… mà không phá vỡ tính hệ
thống, logic của bài học.
- Đảm bảo tính tư tưởng: Màu sắc, các đối tượng trình bày phải thể hiện được tính tư
tưởng của nội dung lịch sử (Ta-địch, chính nghĩa- phi nghĩa…). Ngoài ra, khi sưu tầm, sử dụng
tranh, ảnh, phim, băng ghi âm cần lưu ý quan điểm giai cấp của các nguồn tư liệu. Khi đưa các
tư liệu Multimedia vào bài giảng, ngoài mục đích mở rộng kiến thức lịch sử còn phải lưu ý
khai thác ý nghĩa giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm cho học sinh.
- Đảm bảo tính sư phạm: thiết kế nội dung lịch sử, các dạng câu hỏi, bài tập trên các slide
phải dựa trên cơ sở sách giáo khoa, vừa sức với đối tượng HS; bảo đảm kết hợp nhuần nhuyễn,
hợp lý các phương pháp dạy học với việc trình bày bảng đen và sử dụng màn hình trình chiếu
để tổ chức tốt các hoạt động tương tác đa dạng trong giờ lên lớp nhằm phát huy cao độ tính
tích cực, chủ động học tập của HS. Các nội dung được trình bày trên slide phải rõ ràng, đủ
11
lớn, đủ độ sáng để HS cả lớp có thể quan sát tốt.
- Đảm bảo tính thẩm mỹ: Thiết kế giao diện thân thiện, màu sắc hài hoà, bố cục rõ ràng.
2.2.5. Giới thiệu cấu tạo một số BGĐT môn Lịch sử
Qua nghiên cứu các tài liệu và tìm hiểu thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ
thông, chúng tôi đề xuất một số cách thiết kế BGĐT cơ bản như sau:
- Cách thiết kế thứ nhất: Không đưa nội dung đề cương bài giảng mà chỉ thiết kế các nội
dung trực quan liên quan vào các slide trình chiếu và sắp xếp chúng theo trình tự bài giảng
gồm các dạng sơ đồ hoá văn bản, bản đồ, tranh, ảnh, phim tư liệu, biểu đồ, niên biểu, bảng so
sánh, các bài tập trắc nghiệm…để kết hợp sử dụng với phần trình bày bảng và việc tổ chức các
hoạt động trên lớp của GV và HS như khi tiến hành một bài học truyền thống. Cách thiết kế
này là khá phổ biến vì vừa đơn giản đối với GV khi xây dựng đồng thời cũng không làm thay
đổi nhiều các thao tác lên lớp của GV theo kiểu dạy học truyền thống.
Slide 1
Slide 2
Slide 1 trình bày khái quát niên biểu các triều đại phong kiến Trung Quốc, trong đó HS sẽ
được tìm hiểu chủ yếu về nhà Tần, nhà Hán (thời kỳ hình thành), nhà Đường, nhà Tống (thời
kỳ phát triển thịnh đạt) và nhà Minh, nhà Thanh (thời kỳ bắt đầu suy yếu và sụp đổ). Slide 2
giới thiệu bài mới và đặt câu hỏi nhận thức đầu giờ.
Slide 3 được sử dụng khi dạy mục 1. Sự hình thành xã hội phong kiến là sơ đồ sự hình
thành quan hệ phong kiến ở Trung Quốc. Ở slide3 học sinh có thể tự trình bày sơ đồ mà các
em đã chuẩn bị trước trên PowerPoint có tập tin được GV quy định tên là “HS” (học sinh cắm
USB vào máy tính và kích vào biểu tượng
HS
ở góc phải màn hình. Để thoát ra và trở lại bài
giảng của GV thì bấm phím Esc).
13
Slide 4
Slide 3
Khi dạy mục 2. Chế độ phong kiến thời Tần, Hán , GV sử dụng Slide 4 để làm rõ quá
trình nhà Tần thôn tính lục quốc thống nhất Trung Quốc và sau đó vẫn tiếp tục chính sách thôn
tính này đối với các nước xung quanh. Nếu có thời gian có thể cho HS xem đoạn phim truyện
lịch sử nhà Tần thôn tính lục quốc(kích chuột vào biểu tượng chiếu phim ở góc phải màn
Slide 7
thêm về bộ Sử ký với tranh chân dung Tư Mã Thiên.
Slide 8 được sử dụng khi tổ chức cho HS hoạt động nhóm tìm hiểu những vấn đề liên
quan đến Nho giáo.
Slide 9 là bài tập củng cố bài với 4 câu hỏi trắc nghiệm, tuy nhiên tuỳ tình huống, đối
tượng dạy học cụ thể để chọn tuỳ ý một hoặc hai câu trong đó bằng cách kích chuột vào các ô
C1 hay C2, C3, C4 ở góc phải màn hình và kích vào và ô H để liên kết đến Slide 10 với phần
bài tập về nhà. Slide 10 gồm nội dung câu hỏi nâng cao kiến thức bài vừa học và câu hỏi chuẩn
bị bài mới, trong đó có giới thiệu một số trang web tham khảo (nếu máy tính có nối mạng
Internet thì có thể kích vào để liên kết trực tiếp ngay trên lớp)
15
Slide 9
Slide 10
Đối với cách thiết kế thứ hai, chúng tôi chỉ minh hoạ một vài slide của bài 11 Cuộc
kháng chiến thắng lợi (tiết 1) lớp 12 theo chương trình không phân ban hiện hành chủ yếu để
tham khảo bố cục của thiết kế. Điểm cần lưu ý của cách thiết kế này là phải vừa đảm bảo tính
trình tự của nội dung bài giảng đồng thời đảm bảo tính hệ thống của các đề mục của bài giảng
mặc dù chèn giữa các slide đề mục là một số slide kênh hình.
Slide1
Slide2
1953-1954; về chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, trong đó đề cập đến chiến trường Đông
Xuân 1953-1954, diễn biến và kết quả chiến dịch Điện Biên Phủ.
17
…
…
…
Slide10
Slide16
Slide 20
Slide 19
Trong slide 20, ở mỗi đầu câu có biểu tượng
hợp với yêu cầu dạy học cụ thể. Biểu tượng
để GV kích chuột tuỳ chọn câu hỏi phù
ở cuối câu dùng để mở phần gợi ý HS làm bài
tập (nếu cần).
Trong cách thiết kế thứ ba chúng tôi cũng chỉ trích dẫn minh hoạ một vài slide của bài
30 Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ theo chương trình lớp 10
Slide11
Slide13
Slide 11 là bảng so sánh một số nội dung giữa Cách mạng tư sản Anh và Chiến tranh
giành độc lập ở Bắc Mỹ, qua đó rút ra những điểm giống, khác nhau và tính chất của các cuộc
đấu tranh này. Slide 13 nêu ý nghĩa và nhận định của Lênin sau khi GV và HS trao đổi, thảo
luận.
-----------------------------------------------------19
Lưu ý: Sử dụng một số phím nóng
Phím nóng Ctr +P cho phép GV và HS sử dụng rê chuột như ngòi bút màu để vẽ hay
đánh dấu trực tiếp lên các nội dung đang trình chiếu ( đánh dấu vào đáp án đúng; nối bài trắc
nghiệm ghép đôi; gạch chân, khoanh tròn các ý trọng tâm, vẽ đường đi của các cuộc hành
trình…). Gõ phím nóng Ctr +E để xoá nét vẽ sai hay gõ phím E để xoá toàn bộ nội dung vừa
vẽ và gõ phím Ctr +A để trở lại chế độ trình chiếu bình thường.
Để thực hiện kết nối máy tính với máy chiếu bấm tổ hợp phím: Ctrl +
+ P.
Khi xuất hiện hình sau thì chọn Duplicate
- Có những bài học không đòi hỏi sử dụng màn hình liên tục thì GV có thể gõ phím B để
tắt nhanh trình chiếu và gõ một phím bất kỳ để mở lại trình chiếu. Thao tác này giúp GV
hướng HS tập trung hơn vào các hoạt động khác trên lớp.
20