tác phẩm kinh điển sửa đổi lối làm việc và sự vận dụng của đảng ta trong tình hình mới - Pdf 47

QUY ƯỚC TÊN VIẾT TẮT:
Tên đầy đủ
VN
TCT
HĐQT
NXB
H
UBND

Tên viết tắt
Việt Nam
Tổng công ty
Hội đồng quản trị
Nhà xuất bản
Hà Nội
Ủy ban nhân dân

0


Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài:
Nhắc tới dân tộc Việt Nam người ta nghĩ tới một dân tộc với đặc trưng “
sắt và máu”, một dân tộc đầy đau thương mà anh dũng. Dân tộc đó đã vùng
dậy lật đổ ách thống trị Bắc thuộc suốt mấy nghìn năm đằng đẵng, đã kiên
cường chống lại sự đô hộ của bọn đế quốc, thực dân. Một dân tộc tuy nhỏ bé,
đất không rộng, người không đông nhưng không bao giờ chịu khuất phục
trước bất kì một kẻ thù nào, dù có hung tàn và lớn mạnh đến đâu. Sức mạnh
đó chính là ở lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và tình đoàn kết... quan trọng
không kém đó còn là từ những lãnh tụ, những người đứng đầu, yếu tố phát
huy những nhân tố trên. Họ là những người con mưu trí và dũng cảm, hội tụ

việc Đảng và Nhà nước ta, tùy theo những điều kiện thực tế của sự phát triển
đất nước đă chú trọng nghiên cứu, đổi mới mạnh mẽ chính sách đối với đội
ngũ cán bộ nói chung và cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở nói riêng.
Chúng ta đă bước đầu xây dựng được hệ thống chính sách đối với đội ngũ cán
bộ cơ sở làm căn cứ (cơ sở) cho các địa phương trên toàn quốc triển khai thực
hiện một cách đồng bộ, bài bản và tương đối sát hợp. Đội ngũ cán bộ của
Đảng ta hiện nay đa số đã được rèn giũa qua thử thách, quá trình đấu tranh
cách mạng đầy gian khổ, hi sinh. Cán bộ chủ chốt các cấp từ trung ương đến
cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu con đường xã hội
chủ nghĩa, năng động, sáng tạo, hăng hái thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, có phẩm chất chính trị và đạo
đức cách mạng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít cán bộ, Đảng viên đặc biệt là
những người lãnh đạo, quản lí đã dao động, giảm sút niềm tin, mơ hồ về chủ
nghĩa Mác- Lê Nin, về chủ nghĩa xã hội, về đường lối, chính sách của Đảng,
tha hóa biến chất về đạo đức, lối sống, làm phai nhạt lòng tin trong nhân dân
Chính vì nhận rõ vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ cũng như đánh giá
một cách nghiêm túc, đúng đắn về thành tựu, nhìn thẳng vào những hạn chế,
khuyết điểm mà chúng ta thấy được rằng, cần phải có một chính sách cán bộ
đúng đắn, phù hợp để làm sao đội ngũ cán bộ của chúng ta thật sự là những
người tiên tiến nhất, là “đầu tầu” dẫn dắt nhân dân ta , dẫn dắt con đường
2


cách mạng nước ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Đây cũng chính là lí do mà em
chọn đề tài “ tư tưởng Hồ Chi Minh về chính sách cán bộ trong tác phẩm sửa
đổi lối làm việc và sự vận dụng của Đảng ta trong tình hình mới”.
Trong quá trình làm, bài tiểu luận vẫn còn nhiều thiếu sót, mong thầy
(cô) góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”.
Năm 1947 năm toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Các cơ quan của
Đảng, chính phủ, đoàn thể chuyển lên chiến khu, hoạt động trong hoàn cảnh
có chiến tranh, phân tán. Ta tiến hành kháng chiến chống pháp trong điều kiện
tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Vì vậy, mọi cán bộ, Đảng viên
phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, nêu cao đạo đức cách mạng,
dám chấp nhận hi sinh, gian khổ, đặt lợi ích của tổ quốc, của nhân dân lên
trên hết. Quý một năm 1947, Người lại gửi hai bức thư: Gửi các đồng chí bắc
bộ và gửi ác đồng chí nam bộ. Nộ dung hai bức thư đó phê bình một cách
nghiêm khắc một số cơ quan Đảng, Nhà nước mắc bệnh: làm trái phép nước,
cậy thế hủ hóa, tư túng chia rẽ, kiêu ngạo...
Đối với Đảng ta: Sau cách mạng tháng 8/1945 Đảng ta trở thành Đảng
cầm quyền, thực hiện nhiệm vụ “kháng chiến kiến quốc”. Sau 2 năm cầm
quyền, Đảng ta đã lãnh đạo chính quyền đưa cách mạng Việt Nam vượt ra
khỏi tình trạng ngàn cân treo sợi tóc: củng cố xây dựng chính quyền non trẻ,
4


phát triển lực lượng cách mạng, đẩy lùi được giặc đói, giặt dốt; loại bỏ được
một số kẻ thù, phát động toàn quốc kháng chiến, chuyển trung ương, Chính
phủ và bộ đội chủ lực về chiến khu Việt Bắc an toàn… Nhưng một số căn
bệnh của đảng cầm quyền đã nảy sinh và phát triển.
- Nhân dân cả nước đang tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ ở giai
đoạn khó khăn, gian khổ nhất mà trước mắt phải đánh bại kế hoạch chiến lược
tấn công Việt Bắc của thực dân Pháp với trên 12.000 tên của cả 4 quân binh
chủng hiện đại bộ binh, pháo binh, không quân, thuỷ quân… với âm mưu:
tiêu diệt đầu não và phá tan căn cứ địa của cuộc kháng chiến.
Vào thời điểm lịch sử này, để hoàn thành trọng trách lãnh đạo của mình,
Đảng phải được xây dựng và chỉnh đốn để thực sự nâng cao năng lực lãnh
đạo, nâng cao uy tín đạo đức và sự gắn bó máu thịt của Đảng, chính quyền

phải là người đứng trên hoặc đứng ngoài nhân dân. Họ có trách nhiệm truyền
tải đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến
với nhân dân để nhân dân hiểu cho rơ và tổ chức, vận động nhân dân thi
hành. Đồng thời, cán bộ cũng là người có trọng trách phải gần gũi nhân dân,
nắm được tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc của quần chúng nhân dân
phản ánh với Đảng, Nhà nước để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường
lối, chính sách, pháp luật cho đúng, phù hợp với quy luật vận động, phát triển
3 Hồ Chí Minh toàn tập tập 5, NXB chính trị quốc gia- sự thật, Hà Nội – 2011, tr.309.

6


của xă hội và đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng
nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, quan niệm về cán bộ được mở rộng hơn, bao
gồm: Tất cả những người được bầu cử vào các cơ quan Nhà nước, Đảng, đoàn
thể; những người được bổ nhiệm đảm nhiệm một công tác quản lư hoặc được
giao một công tác chuyên môn nào đó (cán bộ giảng dạy, cán bộ khoa học kỹ
thuật ...); cán bộ khung từ tiểu đội trưởng trở lên trong lực lượng vũ trang.
Như vậy, quan niệm về cán bộ cho đến nay có rất nhiều ư kiến khác nhau. Các
ư kiến đó, thông thường, được hh́nh thành từ cách nhh́n trực tiếp đối với từng
loại cán bộ, theo phương pháp liệt kê các tiêu chí hoặc theo cảm tính, nên
chưa phản ánh được một cách đầy đủ về khái niệm cán bộ.
Theo từ điển tiếng Việt : “cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ
chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, người làm công tác có chức vụ trong một
cơ quan, một tổ chức”4. Một công tŕnh nghiên cứu của các nhà khoa học Việt
Nam đă đưa ra định nghĩa: “Cán bộ là một khái niệm dùng để chỉ những người
có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh
hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lănh đạo, chỉ huy, quản
lý, điều hành, góp phần định hướng cho sự phát triển của tổ chức” 5.

bộ, dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ và phê bình cán bộ.
2.2.1. Biết cán bộ:
Trước tiên muốn lựa chon cán bộ thật sự tốt, đử năng lực và trí tuệ để
gánh vác sự nghiệp của Đảng thì cần phải “ biết cán bộ”- tức là đánh giá đúng
phẩm chất và năng lực của cán bộ. Đánh giá cán bộ lại chính là khoa học tâm
lí về xem xét, nhìn nhận con người. Vì vậy nó rất hệ trọng đối với cuộc đời
người cán bộ. Đánh giá cán bộ chung quy lại được thể hiện trên hai mặt:
Đạo đức của người cán bộ: Đạo đức là một trong những hình tháu ý thức
xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con
người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, không loại trừ một lĩnh vực nào.
Uy tín đạo đức của cá nhân người cán bộ góp phần làm cho đảng thêm tong
sạch, vững mạn.
Đánh giá về đạo đức cuả người cán bộ thể hiện ở việc tán thành hay lên án
những hiện tượng khác nhau của đời sống và những hành vi của con người. Sự
8


đánh giá chung về đạo đức của người cán bộ thể hiện ở cái lòng nhân và cái bất
nhân, thiện và ác. Cơ sở của sự đánh giá về đạo đức của người cán bộ là việc
nhận thức được ý nghĩa xã hội khách quan của các hành vi của người cán bộ,
trên cơ sở đó có thể điều chỉnh hành vi cư xử của người cán bộ; đồng thời cũng
phải tính đến những hành vi cũng như những hậu quả của các hành vi đó.
Tài năng của người cán bộ: Đánh giá tài năng người cán bộ phải xem
các mặt lí luận gắn với thực tiễn, nói và làm, năng lực và quản lí, năng lực
chuyên môn, biết nhìn xa trông rộng, dám quyết và quyết đúng, biết cách thu
phục nhân tâm, có mối quan hệ lành mạnh và không vụ lợi trong quan hệ.
Những người có tài phải là người không cơ hội, sống trung thực, có năng lực
thực sự, có tâm, có đức; sống dựa vào chính năng lực của bản thân mình, chứ
không phải dựa vào cái bóng của người khác, tự phấn đấu vươn lên và tự
khẳng định được mình.

2. Đem lý luận dồn họ vào thế bí để biết phản ứng đúng sai.
3. Lấy mưu trí thử họ để dò biết kiến thức.
4. Cho họ biết những khó khăn để dò biết đức dũng.
5. Đưa họ vào lợi lộc để dò biết liêm chính.
6. Hẹn công việc với họ để đo lường chữ tín.
7. Cho họ uống rượu say để dò tâm tính.
Tới Lê Nin, ông nêu một vấn đề có tính nguyên tắc là, đánh giá và sử
dụng cán bộ, đảng viên chủ yếu phải dựa trên việc làm chứ không chỉ căn cứ
trên lời nói của họ, gắn với nhiệm vụ, cấp bậc và chức quyền họ đảm nhiệm
Người nghiêm khắc phê phán việc vì quan hệ chức vụ của mình mà thường
được nghe nhiều ý kiến phê bình không trung thực, theo Người, đó là những
lời "dối trá cộng sản chủ nghĩa" đường mật. Trên thực tế, Lê-nin đã thẳng thắn
và dũng cảm thừa nhận sai lầm về chính sách cộng sản thời chiến, không ít
lần tự nhận một cách công khai, minh bạch về sai lầm của mình trong công
tác cán bộ và đã sửa sai một cách khẩn trương để người tốt được minh oan, kẻ
xấu bị thải hồi.6 Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: “ Trong thế giới, cái gì
6 V.I Lê-nin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, tập 54, tr.235.

10


cũng biến hóa. Tư tưởng của người cũng biến hóa. Vì vậy cách xem xét cán
bộ quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hóa. Thí dụ: có người khi
trước tho cách mạng mà nay lại phản cách mạng. Có người khi trước không
cách mạng mà nay lại tham gia cách mạng. Thậm chí có người nay đang theo
cách mạng nhưng sau này lại phản cách mạng. Một người cán bộ khi trước có
sai lầm, không phải vì thế mà sai lầm mãi. Cũng có cán bộ đến nay chưa
phạm sai lầm nhưng chắc gì sau này không phạm sai lầm? Quá khứ, hiện tại
và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau.
Xem xét cán bộ không phải chỉ xem ngoài mặt mà còn xem tính chất của

người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường
chúng ta không biết tùy tài mà dùng người. Thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ,
thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tuỳ
tài mà dùng người, thì hai người đều thành công” 8. Xin kể một câu chuyện về
việc Bác dùng người:
Sau 1945, khi chính quyền mới được thành lập, để tập hợp nhân tài, Hồ
Chí Minh đề nghị cử ra một Ban cố vấn cho Chủ tịch gồm 10 người, trong đó
có những nhân vật rất đặc biệt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông vua cuối cùng của nhà Nguyễn, Bảo
Đại làm cố vấn tối cao cho chính phủ.
Rất xúc động về việc này, Bảo Đại đã viết thư về cho mẹ là bà Từ Cung:
“Cụ Hồ tốt lắm! Con ra đây được Cụ Hồ thương lắm! Cụ thương con như
con! Ả (tức mẹ) cứ yên tâm. Không phải lo chi cho con cả”.
Việc mời một người hoàng tộc làm cố vấn cho chính quyền đã ảnh
hưởng đến nhiều người trong hoàng tộc hăng hái tham gia việc nước.
Ban cố vấn có cụ Bùi Bằng Đoàn vốn là một thượng thư trong triều đình
Huế. Cụ Bùi Bằng Đoàn được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một bậc đại thần
“triều ẩn lập thân hành thiện”, làm quan lớn trong chế độ cũ nhưng một lòng
thanh liêm, yêu nước thương dân.

8 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG- sự thật, Hà Nội 2011, tr.274.

12


Khi đọc được bức thư “Tìm người tài đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đăng trên báo Cứu quốc (1946), với niềm hạnh phúc của một người “làm quan
từ thuở ngoài hai mươi tuổi của cái thời nước mất, ngoại bang đô hộ; hơn ba
mươi năm ở ghế quan trường dưới ba đời vua “An Nam” giờ đã được nhìn
thấy đất nước độc lập, tự do, cụ Bùi đã đồng ý ra "giúp thêm ý kiến trong

Hồ chí Minh cho rằng, việc” cất nhắc cán bộ phải vì công tác, tài năng,
vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế công việc nhất định
chạy”9. Như vậy, việc cất nhắc cán bộ phải xuất phát từ hiệu quả công tác
thực tế của cán bộ, và phải có tác dụng khuyến khích các cán bộ khác phấn
đấu vươn lên. Theo Hồ Chí Minh, trong việc sử dụng cán bộ, cần chú ý đến
việc cất nhắc đề bạt cán bộ một cách đúng đắn, sử dụng cán bộ phải đúng,
đảm bảo cả khoa học lẫn nghệ thuật. Người cho rằng “dụng nhân như dụng
mộc”. Người căn dặn rằng, ai có năng lực làm việc gì thì nên đặt đúng vào
việc ấy. Người khuyên người lãnh đạo phải tin tưởng, mạnh dạn giao việc lớn,
cất nhắc cán bộ, nhân tài đúng lúc, đúng chỗ. Khi cất nhắc rồi phải tiếp tục
giúp đỡ ủng hộ để họ làm việc tốt hơn “ cất nhắc cán bộ không nên làm như
giã gạo. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kĩ. Khi cất nhắc rồi không
giúp đỡ họ. Khi họ phạm sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất
nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Đối
với cán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi cất nhắc. Mà sau khi
đã cất nhắc phải giúp đỡ họ, khuyên gắng họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng
của họ”10. Đối với mỗi người lòng tự tin, tự trọng có một vai trò rất quan
trọng. Nó không chỉ là nguồn sức mạnh bên trong thôi thúc con người ta hành
động mà còn góp phần làm cho hành động đó đạt hiệu quả.Vì vậy, người lãnh
đạo cần phải tôn trọng và vun trồng cho lòng tự tin, tự trọng của các đồng chí
mình, “ nếu để sai lầm và khuyết điểm trở nên to tát rồi mới đem ra “chỉnh”
một lần, thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập” mất cả lòng tự tin, người hăng
hái cũng hóa thành nản chí, từ nản chí đi đến vô dụng”11.
9 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG- sự thật, Hà Nội 2011, tr.321)
10 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG- sự thật, Hà Nội 2011, tr.322.

11 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG- sự thật, Hà Nội 2011, tr.322.

14


triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”, Bác viết thêm: "Phải có tình
đồng chí thương yêu lẫn nhau". Đồng chí Vũ Kỳ- Thư ký riêng của Người
16


cho biết: "Cán bộ, đảng viên chúng ta từ Trung ương đến các chi bộ chắc sẽ
xúc động biết chừng nào khi biết rằng, sau một năm trời, Bác Hồ chỉ dặn
thêm chúng ta một câu như thế". Đó là bởi tình thương của Bác đã đành,
nhưng còn lí do nào nữa? – Còn bởi cán bộ, đảng viên là tài sản của Đảng,
của đất nước, là lực lượng nòng cốt của cách mạng, là những người sẽ giúp
Đảng hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là đem lại cuộc sống tự do, ấm no,
hạnh phúc cho nhân dân. Cán bộ thì có thể rất nhiều,cán bộ tốt cũng không ít
nhưng để giữ một người cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” mãi thật không
đơn giản chút nào, nên hãy trân trọng họ, rèn giũa họ, đừng để mất đi những
viên ngọc quý đó. Người nói rằng: “Không phải vài ba tháng, hoặc vài ba năm
mà đào tạo được một người cán bộ tốt. Nhưng cần phải công tác, tranh đấu,
huấn luyện lâu năm mới được. Trái lại, trong lúc tranh đấu, rất dễ mất một
người cán bộ. Vì vậy, Đảng phải thương yêu cán bộ”12 .
Tuy nhiên, thương yêu cán bộ không phải là bao che, vỗ về, luôn cho cán
bộ mình là tốt, là hoàn hảo, không có khuyết điểm gì, như thế chỉ khiến cho
cán bộ mình ngày càng xấu đi. Yêu thương cán bộ phải cho đúng nghĩa của
nó. Khi xưa ông bà ta có câu: “ yêu thì cho roi, cho vọt – Ghét thì cho ngọt
cho bùi”, nói như vậy không có nghĩa yêu cán bộ thì phải “cho roi”, dùng bạo
lực để huấn luyện, mà theo tư tưởng của Người: “Thương yêu là giúp họ học
tập thêm, tiến bộ thêm. Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh
hoạt, ngày thường thì điều kiện dễ chịu, khi đau ốm được chăm nom, gia đình
họ khỏi khốn quẫn,v.v...” và “thương yêu là luôn luôn chú ý đến công tác của
họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sữa chữa ngay, để vun
trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ
những ưu điểm, những thành công của họ”13.

phải ráo riết, triệt để, thật thà không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả
ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay”.
Tính triệt để trong tự phê bình và phê bình của Bác Hồ là ở đó; thể hiện tính
đấu tranh nhưng giàu lòng nhân ái, vì con người, trân trọng con người, đồng
chí mình. Trong thực hành phê bình, thái độ phê bình rất quan trọng. Nếu thái

18


độ không đúng thì người bị phê bình khó mà tiếp thu, tự phê bình cũng không
thấu đáo khách quan, do đó hiệu quả không cao.
Trong nhiều bài nói, bài viết Bác Hồ thường đề cập cách thức phê bình
thế nào cho tốt, đó là thực hành dân chủ. Việc phê bình phải được tiến hành
dân chủ rộng rãi trong Đảng. Phê bình từ trên xuống và từ dưới lên, cán bộ
cấp cao phải gương mẫu làm trước, cấp trên phê bình chưa đủ, đồng chí, đồng
sự phê bình chưa đủ mà cần hoan nghênh quần chúng phê bình, tự phê bình
và phê bình phải gắn liền với dân chủ chỉ có dân chủ mới có tự phê bình và
phê bình thật sự. Theo Bác Hồ, không phê bình tức là bỏ mất quyền dân chủ
của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng “ mục đích phê bình
cốt để giúp nhau sữa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sữa đổi cách làm việc
cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình
mình cũng như phê bình người, phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang,
không thêm bớt. Phải rạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ
dùng những lời mỉa mai, chua cay, thâm độc. Phê bình việc làm chứ không
phải phê bình người”14 .

14 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG- sự thật, Hà Nội 2011, tr.272.

19


16 V.I. Lê Nin: toàn tập, nxbTB, M, 1974, t4, tr 473.

20


của cả nước là 1.971.172 người, trong đó cán bộ, công chức từ cấp huyện trở
lên là 1.778.734 người (trong số này đội ngũ viên chức sự nghiệp công là
1.434.660). Ở cấp xã, cán bộ, công chức là 192.438 người (trong đó, cán bộ
bầu cử là 111.124 người; công chức chuyên môn nghiệp vụ là 81.314 người).
Đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đã tạo thành
một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, góp phần
tích cực đưa đất nước ta từ một nước nghèo, lạc hậu sang đất nước có nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Hạn chế: Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn
không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài
qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân
dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò
lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách
sau đây:
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên
giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý
tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi,
tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc.
Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng nhưng
chưa được xây dựng một cách cơ bản. Công tác quy hoạch cán bộ mới tập
trung thực hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến
sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí,
phân công cán bộ. Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công
tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường,

hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể.
Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và
có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế
người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém.
Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống
nhiều khi còn hình thức, chưa đủ sức động viên và thường xuyên nâng cao ý
22


chí cách mạng của cán bộ, đảng viên; một số nơi có tình trạng những việc làm
đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm
không được phê phán, xử lý nghiêm minh. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ
gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu
tranh với những vi phạm còn nể nang, không nghiêm túc. Vai trò giám sát của
nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa
được phát huy, hiệu quả chưa cao.
3.2. chính sách cán bộ Của Đảng.
Vì những lí do trên yêu cầu đặt ra là cần phải có một chính sách cán bộ
hợp lí để họ phát huy hết năng lực và trí tuệ, để người cán bộ có thể toàn tâm
toàn lực phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu của thời đại.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra và thực thi các chính sách
về cán bộ. Cụ thể:
3.2.1. Chính sách cán bộ trong tầm nhìn chiến lược
Để giải quyết có hiệu quả những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện
nay, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đề ra bốn nhóm giải pháp lớn. Trong
những nhóm giải pháp đó, có nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, mà quan
trọng hàng đầu là chính sách cán bộ.
Ý nghĩa sâu xa cũng như trực tiếp của nhóm giải pháp này là ở chỗ, đây
là giải pháp động lực, góp phần ngăn ngừa, phòng chống tham nhũng, lãng
phí, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận

Xưa nay, thế nước yếu và suy chỉ vì yếu kém hoặc lụi tàn nguyên khí
này. Đất nước, quốc gia dân tộc nếu trọng trí thức hiền tài thì hưng thịnh,
ngược lại, “phi trí bất hưng”. Ông cha ta, từ Thân Nhân Trung đến Lê Quý
Đôn đã tổng kết như vậy. Hồ Chí Minh ý thức rõ điều đó, Người có thư gửi
quốc dân đồng bào, đề nghị đồng bào giúp đỡ Chính phủ, phát hiện trọng
dụng người tài. Kháng chiến kiến quốc cần có rất nhiều nhân tài. Đảng cầm
quyền phải thường xuyên chăm lo tới điều hệ trọng đó.
Sự suy thoái nghiêm trọng như đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 4
của Đảng, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ sự bất ổn của
chính sách. Nếu có chính sách đúng lại biết thi hành cho tốt thì tình hình sẽ
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status