TÀI LIỆU THAM KHẢO lý LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG dư TRONG tác PHẨM tư bản của các mác, ý NGHĨA đối với NHIỆM vụ PHÁT TRIỂN KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 47

1
LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG TÁC PHẨM TƯ BẢN
CỦA CÁC MÁC VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY
LỜI MỞ ĐẦU
“Tư bản” là tác phẩm đồ sộ, vĩ đại của C.Mác. Tác phẩm thiên tài này của
Mác không chỉ là một công trình nghiên cứu kinh tế hết sức vĩ đại, mà còn có ý
nghĩa to lớn về mặt triết học. Có thể coi “Tư bản” là tác phẩm kinh điển, chủ yếu
của chủ nghĩa Mác, có giá trị lịch sử nhất, hàm chứa nhiều nội dung và gắn bó
với Mác suốt 40 năm từ năm 1843 đến năm 1883.
Các nội dung Mác nghiên cứu đề cập trong bộ “Tư bản” đã để lại cho
nhân loại nói chung và đặc biệt là giai cấp vô sản trên toàn thế giới một kho tàng
tri thức khoa học, đồ sộ. Điều đó, đòi hỏi các thế hệ sau Mác cần phải tiếp tục
nghiên cứu bổ sung, làm cho học thuyết kinh tế của Mác ngày càng hoàn thiện
và đáp ứng ngày càng tốt hơn những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Trong các nội
dung của tác phẩm, chúng ta thấy: Học thuyết giá trị thặng dư có một vị trí đăc
biệt quan trọng, là một trong những phát kiến vĩ đại của Mác. Chính học thuyết
giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đưa học thuyết chủ nghĩa chủ
nghĩa xã hội trở thành một khoa học thực sự. V.I Lê-nin chỉ rõ: “Học thuyết giá
trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác”.
Tuy nhiên, từ khi lý luận giá trị thặng dư của Mác ra đời cho đến nay các
thế lực chống Mác luôn luôn tìm mọi cách tấn công vào lý luận này. Đăc biệt,
hiện nay có một số quan điểm cho rằng học thuyết giá trị thặng dư của Mác
không còn giá trị nữa, họ phê phán, hoài nghi thậm chí có người phủ nhận học
thuyết giá trị thặng dư không chỉ về phương pháp nghiên cứu mà cả những luận
điểm cơ bản trong lý luận này. Do đó, việc đánh giá một cách khách quan, khoa
học và khẳng định những giá trị lý luận - thực tiễn to lớn của học thuyết này là
việc làm hết sức cần thiết nhằm đập tan những luận điểm sai trái phản động,
khẳng định sức sống của chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết giá trị thặng dư
nói riêng trong thời đại ngày nay.



3
Tác phẩm thiên tài này của Mác là một công trình nghiên cứu hết sức vĩ
đại. Chúng ta biết, “Tư bản”ra đời là sự nối tiếp, phát triển các tác phẩm nghiên
cứu kinh tế trước đó như: Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850, Ngày 18 tháng
sương mù của Lui Bonapacte, Cách mạng ở Trung Quốc và ở châu Âu, Sự thống
trị của Anh ở Ấn Độ, Tình cảnh của công nhân công xưởng… Trong đó Bản
thảo kinh tế 1857 tuy không được xuất bản, nhưng có thể coi đó là di bản đầu
tiên của bộ Tư bản. Cuối năm 1859, C.Mác xuất bản tác phẩm: Góp phần phê
phán khoa kinh tế chính trị. Đến tháng 7- 1863, Mác đã hoàn thành một bản thảo
lớn: Phê phán kinh tế chính trị học, với 23 quyển vở, gồm 1472 trang. Tác phẩm
có thể coi là bản thảo thứ 2 của bộ “Tư bản”
Bản thảo lần thứ ba của bộ “Tư bản” được viết năm 1864-1865. Lần này,
Mác đã thay đổi cơ cấu của tác phẩm và có dự kiến viết bộ “Tư bản” gồm 4
quyển. Trong đó, 3 quyển đầu trình bày hầu như toàn bộ các học thuyết kinh tế
của Mác.
Bộ “Tư bản” được C.Mác trình bày bao gồm 4 quyển (hay 7 tập từ tập 23
đến tập 26 phần III – C.Mác và Ăng ghen toàn tập ), được khái quát bằng kết
cấu như sau:
Quyển I: Quá trình sản xuất của tư bản, gồm 8 phần, 32 chương, và có
thể khái quát thành 4 nội dung quan trọng đó là: Lý luận giá trị, lý luận giá trị
thặng dư, lý luận về tiền công, lý luận về tích luỹ tư bản và tích luỹ nguyên thuỷ
tư bản. Mác mở đầu công trình của mình bằng việc nghiên cứu hàng hoá. Bởi,
“trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của
cải biểu hiện ra là một “đống hàng hoá khổng lồ”, còn từng hàng hoá một thì
biểu hiện ra là hình thái nguyên tố của của cải ấy”1. Nhưng vấn đề trung tâm của
quyển I bộ “tư bản” là giá trị thặng dư. Mác nghiên cứu, vạch rõ thực chất của
giá trị thặng dư và sự chuyển hoá giá trị thặng dư thành tư bản…nghiên cứu bản
thân tư bản được sản xuất ra như thế nào trong lịch sử.

thống nhất ấy.
Quyển III: Toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, gồm 7 phần,
52 chương, với 7 nội dung đó là: Sự chuyển hoá giá trị thặng dư thành lợi nhuận
và tỷ suất giá trị thặng dư thành tỷ suất lợi nhuận, sự chuyển hoá lợi nhuận thành
lợi nhuận bình quân,quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân có xu hướng giảm
xuống, sự chuyển hoá tư bản hàng hoá thành tư bản kinh doanh hàng hoá và tư
bản kinh doanh tiền tệ( thương nghiệp và ngân hàng), Sự phân chia lợi nhuận
2

C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 1059


5
thành lợi tức và thu nhập của chủ xí nghiệp. Tư bản cho vay, sự chuyển hoá của
lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô, các loại thu nhập và những nguồn của chúng.
Mác quay trở về điểm xuất phát khi bắt đầu nghiên cứu, tức là quay về với hiện
thực tư bản chủ nghĩa như nó đã trực tiếp biểu hiện ra. Quan hệ giai cấp biểu
hiện ra một cách xuyên tạc và bị che dấu nhất, nhưng đồng thời cũng cụ thể
nhất, và do đó cũng hiện thực nhất.
Đặc điểm của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa
không phải là quan hệ giai cấp, sự bóc lột giai cấp nói chung, mà là quan hệ giai
cấp nằm cái vỏ tư bản chủ nghĩa. Do đó, Mác nghiên cứu mối quan hệ giai cấp
ấy bắt đầu trong quyển I và kết thúc việc nghiên cứu đó ở quyển III bộ “tư bản”.
Quyển IV: Phê phán lịch sử lý luận giá trị thặng dư. Đến năm 1865, bản
thảo hoàn chỉnh với ba quyển đầu đã viết xong, chỉ còn bản thảo quyển IV đang
ở giai đoạn tài liệu ban đầu.
Năm 1867, quyển I bộ Tư bản được xuất bản bằng tiếng Đức, số lượng
1000 bản. Ngay từ khi C.Mác còn sống, nó đã được tái bản tới 138 lần, bằng 14
thứ tiếng với khối lượng 5- 6 triệu bản. Quyển I bộ Tư bản ra đời đánh dấu bước
ngoặt thực sự trong khoa kinh tế chính trị và được đánh giá như là “tiếng sét nổ

Phương pháp Mác sử dụng để nghiên cứu kinh tế chính trị nói chung, giá
trị thặng dư trong xã hội tư bản nói riêng là phương pháp trừu tượng hoá khoa
học. Đây là phương pháp này đòi hỏi phải loại bỏ khỏi quá trình và hiện tượng
được nghiên cứu những cái đơn nhất, ngẫu nhiên, tạm thời; để tách ra những
hiện tượng và quá trình phổ biến, vững chắc để nắm lấy cái bản chất, tất yếu của
các hiện tượng và các quá trình kinh tế ấy. Phương pháp trừu tượng hoá đi từ
hiện tượng để lần mò tìm bản chất của nó, bên cạnh đó, Mác còn sử dụng
phương pháp kết hợp giữa lôgic và lịch sử.
Chính nhờ phương pháp trừu tượng hoá khoa học mà Mác đã làm cho học
thuyết giá trị thặng dư của mình trở thành một trong hai phát kiến vĩ đại. Các
nhà kinh tế học tư sản thời Mác cũng đã phải thừa nhận phương pháp của Mác
và nhờ đó, Mác đã được đặt lên ngang hàng những trí tuệ có năng lực kiệt xuất.
Lý luận giá trị thặng dư của C.Mác được C.Mác trình bày tập trung trong
quyển I bộ “Tư bản”, được kết cấu từ phần thứ hai đến phần thứ năm, với 13
chương. Cụ thể là:
Phần thứ hai: Nghiên cứu sự chuyển hoá của tiền thành tư bản đồng thời
với sự chuyển hoá sức lao động thành hàng hoá.
Phần thứ ba: Nghiên cứu sự sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối, vạch rõ
bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản là sản xuất giá trị thặng dư, cơ sở tồn tại
và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Phần thứ tư: Phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư tượng đối
Phần thứ năm: Phân tích tổng hợp hai hình thức sản xuất giá trị thặng dư
tương đối, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và mối quan hệ của chúng.


7
Các phần trên C.Mác đã vạch rõ bản chất bóc lột, mục đích và phương
tiện bóc lột của chủ nghĩa tư bản là sản xuất giá trị thặng dư, nhưng Mác chưa
nói đến quy luật giá trị thặng dư. Chỉ đến chương XXIII, khi phân tích quy luật
phổ biến của tích luỹ tư bản chủ nghĩa, Mác mới nói đích danh quy luật giá trị


8
mua. Nhưng bên cạnh đó, lại xuất hiện sự vận động của công thức (T - H - T),
tức là sự chuyển hoá của của tiền thành hàng hoá, và sự chuyển hoá ngược lại
của hàng hoá thành tiền, tức là mua để mà bán. Và C.Mác chỉ rõ: “trong sự vận
động của chúng, những đồng tiền nào đi theo vòng lưu thông cuối cùng này đều
được chuyển hoá thành tư bản, trở thành tư bản, và do mục đích của chúng cũng
đã là tư bản rồi”6. So sánh hai công thức trên giúp chúng ta nhận thấy sự giống
và khác nhau giữa lưu thông hàng hoá giản đơn và lưu thông hàng hoá tư bản
chủ nghĩa, nhưng đồng thời thông qua đó nó phản ánh trình độ phát triển khác
nhau trong từng giai đoạn của kinh tế hàng hoá. Mác nhận thấy trong công thức
này nó có mâu thuẫn. Đó là, nhìn bề ngoài sự vận động của tư bản qua công thức
(T - H - T) thì dường như tiền lớn lên trong lưu thông (lớn hơn so với số tiền đã
ứng ra lúc ban đầu). Số tăng thêm đó hay số dư so với giá trị lúc ban đầu, C.Mác
gọi đó là giá trị thặng dư và ký hiệu là (m). Mâu thuẫn này được C.Mác làm rõ
khi phân tích chúng.
Sự vận động của công thức chung của tư bản nhìn bề ngoài dường như
mâu thuẫn với các quy luật của sản xuất hàng hoá, dường như giá trị thặng dư do
lưu thông hàng hoá tạo ra. Thực tế nhiều người đã lầm tưởng rằng cả sản xuất và
lưu thông hàng hoá đều tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Bàn về vấn đề này,
C.Mác viết: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất
hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời
không phải trong lưu thông”7.
Giá trị thặng dư không thể xuất hiện từ lưu thông. Xét các trường hợp:
Trao đổi ngang giá; mọi người đều bán cao hơn giá trị hoặc mọi người đều mua
thấp hơn giá trị; hoặc có trường hợp chuyên mua rẻ, bán đắt. Các trường hợp
trên đều không làm tăng thêm giá trị hàng hoá. Do đó, lưu thông không tạo ra
giá trị và giá trị thặng dư. Song, nếu không lưu thông, tức là tiền để trong tủ sắt,
hàng hoá để trong kho, trong bãi thì cũng không thể có được giá trị thặng dư.
Như vậy, giá trị thặng dư vừa sinh ra trong quá trình lưu thông lại vừa không thể

sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình” 10. Thứ hai, người chủ
sức lao động không có khả năng bán cái gì ngoài sức lao động chỉ tồn tại trong
cơ thể của anh ta, Mác viết: “...và mặt khác, anh ta không còn có một hàng hoá
nào khác để bán, nói một cách khác là trần như nhộng, hoàn toàn không có
những vật cần thiết để thực hiện sức lao động của mình”. 11 Sức lao động trở
thành hàng hoá thì nó cũng giống như các hàng hoá khác, có hai thuộc tính là
giá trị và giá trị sử dụng. Nhưng nó là một hàng hoá đặc biệt, đặc biệt ở chỗ,
8

C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb,CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 251
C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 251
10
C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 251
11
C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 253
9


10
trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động để sản xuất ra
một hàng hoá nào đó thì sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị
của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư.
Đây chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động.
Đặc điểm này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của
tư bản. Để làm rõ hơn giá trị thặng dư được tạo ra như thế nào? C.Mác tiếp tục
nghiên cứu về quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Từ việc Mác nghiên cứu và đi đến kết luận: hàng hoá có hai thuộc tính là
giá trị sử dụng và giá trị; lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt là lao
động cụ thể và lao động trừu tượng, nên quá trình sản xuất hàng hoá nói chung
và sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa nói riêng cũng có tính chất hai mặt. Một

vật ngang giá với giá trị sức lao động của mình, được gọi là thời gian lao động
tất yếu (hay cần thiết). Phần ngày còn lại được gọi là thời gian lao động thặng
dư, trong đó người công nhân tạo ra một bộ phận giá trị mới dư ra ngoài giá trị
sức lao động. Như vậy, ngày lao động được chia làm hai phần; thời gian lao
động tất yếu và thời gian lao động thặng dư. Đến đây, chúng ta đi đến kết luận :
giá trị thặng dư là giá trị mới do lao động của người công nhân tạo ra ngoài giá
trị sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản.
Mác viết: Bí quyết của sự tăng thêm giá trị của tư bản, quy lại là ở chỗ tư bản
chi phối được một số lượng lao động không công nhất định của người khác.
Nguồn gốc của giá trị thặng dư là lao động không được trả công của người lao
động làm thuê và được tạo ra trong quá trình sản xuất.
Tiếp tục làm rõ vai trò của mỗi bộ phận tư bản trong quá trình làm tăng
thêm giá trị. C.Mác phân tích tư bản bất biến và tư bản khả biến. Để sản xuất giá
trị thặng dư, nhà tư bản phải ứng tư bản ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao
động, tức là chuyển hoá tư bản tiền tệ thành hai hình thái khác nhau của tư bản
sản xuất. Một bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất trong quá
trình sản xuất. Giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công
nhân chuyển vào sản phẩm mới không tăng lên hay giảm đi. Bộ phận tư bản ấy
được gọi là tư bản bất biến (c). Bộ phận tư bản này không tạo ra giá trị thặng dư,
Mác viết: “ Trong quá trình sản xuất bộ phận tư bản biến thành nguyên liệu, vật
liệu phụ và tư liệu lao động, không thay đổi đại lượng giá trị của nó. Vì vậy tôi
gọi nó là bộ phận lao động bất biến của tư bản hay vắn tắt hơn là tư bản bất
12

C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 291-292


12
biến”13. Đối với bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì lại khác. Sau quá
trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một


C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23 Nxb CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 311
C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 31
C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 458


13
Phương pháp này ứng dụng ở thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản khi kỹ thuật còn
thủ công (nhưng nó gặp phải giới hạn ngày lao động có 24h). Để xây dựng
phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Mác cũng xây dựng giả thiết đo
độ dài ngày lao động và việc phân chia thành lao động cần thiết và lao động
thăng dư là đã cho sẵn, phân tích và rút ra kết luận: “Giá trị thặng dư có được do
rút ngắn thời gian lao động cần thiết và do sự thay đổi tương ứng trong tỷ lrệ các
đại lượng của hai bộ phận cấu thành ngày lao động, thì tôi gọi đó là giá trị thặng
dư tương đối”16. Vậy là muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải hạ thấp
giá trị hàng hoá sức lao động, tức là hạ thấp giá trị tư liệu sinh hoạt của công
nhân và con cái họ. Việc đó chỉ diễn ra trong lĩnh vực sản xuất, điều quyết định
là tăng năng suất lao động trong hai nghành cơ bản: Nghành sản xuất ra tư liệu
sinh hoạt và nghành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt
cần thiết cho người công nhân và con cái họ. Phương pháp này áp dụng phổ biến
ở thời kỳ sau của chủ nghĩa tư bản khi kỹ thuật công nghệ phát triển ngày càng
tăng lên. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản không gạt bỏ phương pháp sản xuất giá trị
tuyệt đối, mà trái lại nó vận dụng gắn bó chặt chẽ với nhau. Đồng thời C.Mác
cũng chỉ ra giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp
dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị
trường của nó.
Khi nghiên cứu phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối, Mác
cũng đã phân tích ba giai đoạn phát triển, cũng là ba nấc thang tăng năng suất
lao động, để tạo ra giá trị thặng dư tương đối trong chủ nghĩa tư bản. Đó là: hiệp
tác lao động giản đơn, sự phân công trong công trường thủ công, máy móc và

bản trả cho cái công dụng mà công nhân đã cung cấp cho nhà tư bản. Đối với
công nhân thì lao động là phương tiện để sinh sống và phải lao động trong cả
ngày mới nhận được tiền công. Do đó, công nhân tưởng rằng mình bán lao động.
Nhà tư bản bỏ tiền ra là để có lao động nên họ tưởng rằng cái mình mua là lao
động. Bề ngoài, tiền công được nguỵ trang rất kín đáo che dấu sự bóc lột tư bản
chủ nghĩa. Nó đã biểu hiện quan hệ bóc lột thành một quan hệ thuận mua vừa
bán, bình đẳng giữa công nhân và nhà tư bản. Nó đã xoá nhoà mọi dấu vết của
sự phân chia ngày lao động thành lao động tất yếu và lao động thặng dư. Ngay
trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác đã chỉ rõ: “Giá cả trung bình của
lao động làm thuê là số tiền công tối thiểu, nghĩa là tổng số những tư liệu sinh
hoạt cần thiết cho công nhân duy trì đời sống với tính cách là công nhân. Cho
nên cái mà người công nhân làm thuê chiếm hữu được bằng hoạt động của mình
cũng chỉ vừa đủ để tái sản xuất ra đời sống mà thôi”17
17

C.M¸c vµ Ph.¡nghen Toµn tËp, TËp 4, Nxb CTQG, H, 1995, Tr: 617


15
Tiền công này được trả theo những hình thức cơ bản là: tiền công theo thời
gian và tiền công theo sản phẩm. Thông qua hai khái niệm tiền công danh nghĩa
và tiền công thực tế Mác tìm ra xu hướng hạ thấp tiền công và Mác không đồng
tình với một số kết luận của các học giả tư sản khi cho rằng ở các nước tư bản
phất triển thì tiền công cao hơn những nước nghèo. Đồng thời mác còn đề cập đến
tiền công dân tộc và tiền công quốc tế, mối quan hệ của hai loại tiền công này gắn
với xuất nhập khẩu. Như đã trình bày, tiền công là giá cả của hàng hoá sức lao
động nên nó cũng chịu ảnh hưởng của những nhân tố: Giá trị của sức lao động,
quan hệ cung cầu trên thị trường (cung và cầu về sức lao động), giá trị của tiền
hay sức mua của tiền. Tóm lại, tiền công là giá cả hàng hoá sức lao động chứ
không phải là giá cả của lao động như lập luận của một số học giả tư sản.

đại của Mác về khoa học xã hội ở thế kỷ XIX, làm cho học thuyết kinh tế của
C.Mác trở thành một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác mà lý luận này
cho đến ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị và có ý nghĩa cả về lý luận và thực
tiễn.
Lý luận giá trị thặng dư đã được các nhà kinh tế học cổ điển tiền bối trước
Mác đi vào đề cập nhưng họ chỉ mới nghiên cứu những hiện tượng và biểu hiện
của giá trị thặng dư. Trái lại Mác đã đi sâu tìm nguồn gốc và bản chất của giá trị
thặng dư, không ngừng hoàn thiện học thuyết đó mà còn làm cho học thuyết đó
trở thành hòn đá tảng của khoa kinh tế chính trị. Cái tạo ra giá trị thặng dư là sức
lao động của công nhân làm thuê, chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị, trong
đó có giá trị thặng dư. Mọi sự bí mật là ở chỗ quá trình sản xuất giá trị mới dài
hơn thời gian tái sản xuất sức lao động. Như vậy, quá trình này chia thành quá
trình tái sản xuất sức lao động và quá trình tái sản xuất giá trị thặng dư; đồng
thời nguồn gốc của giá trị thặng dư là sự tiêu dùng sức lao động kéo dài ngoài
thời gian tái sản xuất ra giá trị của nó. Mác viết: “Nếu chúng ta so sánh quá trình
tạo ra giá trị với quá trình làm tăng giá trị, thì chúng ta sẽ thấy rằng quá trình
làm tăng giá trị chẳng qua cũng chỉ là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài quá
một điểm nào đó mà thôi” 18. Như thế, rõ ràng là khối lượng giá trị mới do công
nhân làm thuê tạo ra lớn hơn giá trị sức lao động của anh ta. Người công nhân
chỉ được tiếp tục làm thuê cho nhà tư bản chừng nào mà còn tạo ra khối lượng

18

C.M¸c vµ Ph.¡ngghen: Toµn tËp, tËp 23, Nxb, CTQG, Hµ Néi, 1995, Tr: 291


17
giá trị mới lớn hơn hẳn giá trị sức lao động mà nhà tư bản trả cho họ dưới hình
thái tiền công.
Lý luận gía trị thặng dư của C.Mác luôn luôn là vũ khí tư tưởng sắc bén


18
giáo điều, xơ cứng cũ. Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta
càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất
và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp
nhận sự hiện diện của nó.
Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và
xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách,
cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời
thực tế và không thể thực hiện được. Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là
quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng luật. Đường lối chủ trương chính
sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóa thành luật và các bộ luật
thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy
luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả
hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận
và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ
bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội
thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một
mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối
thông qua Nhà nước và bằng các "kênh" phân phối lại và điều tiết thu nhập xã
hội. Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh
được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như
việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản
xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công với nền
kinh tế quốc tế.
Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người
lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể
mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích

hiện khẩu hiệu “để mặc cho người ta làm”. Do vậy Mác cho rằng người công
nhân làm thuê chỉ được hưởng phần tư bản khả biến chứ không tham gia vào
phần phân chia giá trị thặng dư.
Ngày nay với sự điều tiết của nhà nước, “chế độ tham dự” đã có sự thay
đổi. Người công nhân đã được tham dự dù là một lượng rất nhỏ so với nhà tư
bản về phần GTTD thông qua quỹ phúc lợi xã hội và lợi tức cổ phần. Tuy nhiên
với tỷ lệ nhỏ chưa làm thay đổi về bản chất của GTTD phân chia.


20
Trong quá trình phát triển của CNTB, sản xuất ra GTTD được tiến hành
thông qua nhiều phương pháp thích ứng với từng giai đoạn và trình độ phát triển
của LLSX, NSLĐ, tương quan lực lượng giữa các giai cấp, trong đó “sự sản
xuất ra GTTD tuyệt đối tạo thành cái cơ sở chung của chế độ TBCN và là điểm
xuất phát của sự sản xuất ra GTTD tương đối”. Điều đó có nghĩa là sự xuất hiện
của CNTB và của GTTD tương đối phải dựa trên cơ sở NSLĐ xã hội đạt tới một
trình độ nhất định, cho phép ngày lao động của người công nhân đã có thể chia
làm hai phần: lao động tất yếu tạo ra giá trị ngang bằng với giá trị nhà tư bản trả
cho anh ta dưới hình thức tiền công – tiền lương hay giá cả lao động và lao động
thặng dư, tạo ra GTTD cho nhà tư bản để được nhà tư bản thuê. Khi năng suất
lao động còn thấp, thời gian lao động còn chiếm phần khá lớn, muốn có nhiều
GTTD CNTB phải kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động để bòn rút
được nhiều lao động không công của công nhân làm thuê. Nhưng phương thức
bóc lột GTTD tuyệt đối, do bị hạn chế cả về mặt tự nhiên – sinh lý, xã hội,
GCTS không thể đáp ứng nhu cầu thu GTTD tối đa của GCCN. Cho nên khi
luật công xưởng được ban hành, CNTB không còn sử dụng phương pháp bóc lột
GTTD tuyệt đối như là phương pháp chủ yếu nữa. Khi đó, nhằm mục đích kéo
dài lao động thặng dư, người ta rút ngắn lao động cần thiết bằng những phương
pháp cho phép sản xuất ra vật ngang giá với tiền công, trong một thời gian ít
hơn, tức là sản xuất GTTD tương đối. Vì thế, nếu việc sản xuất ra GTTD tuyệt

Với đại công nghiệp cơ khí, ưu thế của hiệp tác và phân công lao động đã được
vật hoá bằng hệ thống máy móc và hệ thống máy móc là sự “nối dài” của các
giác quan và “khuyếch đại” năng lực của con người lên gấp bội, tạo nên bước
phát triển nhảy vọt về NSLĐ xã hội. Sự phát triển của máy móc như vậy đã làm
phát sinh GTTD tương đối bằng cách trực tiếp làm cho sức lao động giảm giá,
gián tiếp làm cho sức lao động rẻ đi nhờ tăng NSLĐ xã hội, làm cho những hàng
hoá cấu thành giá trị sức lao động giảm xuống. Do đó, người ta chỉ cần dùng
một phần ít hơn của ngày lao động để bù đắp lại giá trị sức lao động; làm cho
việc sản xuất GTTD tương đối trở thành phương pháp chủ yếu trong việc tăng
GTTD cho nhà tư bản.
Bằng những thành tựu của cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ
hiện đại nắm giữ được, CNTB đã thực hiện sự bóc lột tinh vi gắn quyện và rất
hiệu nghiệm ở cả 3 phương pháp. Nhưng chủ yếu là bóc lột GTTD tương đối và
bóc lột GTTD siêu ngạch. Ở các nước tư bản phát triển, nhờ áp dụng khoa học


22
và phương tiện kỹ thuật hiện đại một cách phổ biến trong tất cả các ngành sản
xuất và dịch vụ mà NSLĐ xã hội tăng cao. Do đó, làm cho giá trị các hành hoá
đều giảm xuống và giá trị hàng hoá sức lao động cũng giảm xuống, vì nó do giá
trị các hàng hoá liên quan đến tái sản xuất sức lao động quyết định. Cho nên,
trong các nước này động lực trực tiếp, thường xuyên thúc đẩy các nhà tư bản
chăm lo cải tiến tổ chức sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật mới là
GTTD siêu ngạch..
Trong điều kiện của cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện
đại, các nước tư bản phát triển, nhất là các công ty độc quyền xuyên quốc gia và
đa quốc gia, có ưu thế hơn hẳn trong việc áp dụng những thành tựu mới nhất của
cuộc cách mạng khoa học – công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Do đó các
nước tư bản phát triển và các công ty độc quyền đó có nhiều khả năng sản xuất
GTTD siêu ngạch. Đây là nguồn rất to lớn và khá ổn định của lợi nhuận siêu

* Khuyến khích và thu hút đầu tư:
Cải thiện môi trường kinh doanh trong nước. Thực hiện sự bình đẳng giữa
các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư
nhân, đặc biệt là trong lĩnh vực vay vốn ở các ngân hàng.
Tiếp tục tiến hành cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu các thủ tục cho
các doanh nghiệp, vì trong kinh doanh cơ hội tốt chỉ xuất hiện trong thời gian
ngắn.
Tăng cường khả năng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước. Băng cách
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với các kỹ thuật sản xuất tiên tiến,
hiện đại thông qua các buổi thuyết trình, giới thiệu sản phẩm của các công ty
nước ngoài. Xây dựng một hệ thống thông tin về tình hình khoa học kỹ thuật của
thế giới cho các doanh nghiệp. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở
rộng thị trường cho các doanh nghiệp trong nước.
Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cần thông qua các hoạt động ngoại
giao, thuyết phục các nước công nhận rằng hiện nay Việt Nam đang thực hiện
kinh tế thị trường, thông qua các buổi thuyết trình hay triển lãm tại nước ngoài
để giới thiệu về môi trường đầu tư tại Việt Nam, các chính sách ưu đãi đầu tư
đối với đầu tư nước ngoài cho các doanh nhiệp, doanh nhân nước ngoài, cũng
như với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài.
* Không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư:


24
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá hoạt
động đầu tư. Khi nói đến hiệu quả đầu tư là không chỉ nói đến hiệu quả kinh tế
mà còn phải nói đến hiệu quả xã hội (tức là việc đầu tư đó, có thể thu hút được
bao nhiêu lao động; ảnh hưởng đến môi trường ở mức độ nào…). Việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phụ thuộc vào mục đích của hoạt động đầu tư là
hiệu quả kinh tế hay hiệu quả xã hội. Vì vậy, khi đầu tư phải xác định rõ mục
đích đầu tư và không được thay đổi mục đích đó trong quá trình tiến hành hoạt

Nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp. Cải cách phương pháp đào tạo, gắn việc dạy lý thuyết với
thực hành, khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học. Nhằm tăng
lao động lành nghề, lao động có tri thức để tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ mới.
Tăng nhanh tỷ lệ lao động chất xám, lao động có kỹ thuật.
Thường xuyên đào tạo mới và đào tạo lại lao động, để đáp ứng nhu cầu
trên thị trường sức lao động, đồng thời phải đảm bảo cơ hội bình đẳng về việc
làm cho người lao động. Khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp với nhà
trường trong việc đào tạo.
Đối với các doanh nghiệp cần phải thực hiện nghiêm túc việc tổ chức
khám chữa bệnh định kỳ cho công nhân, đặc biệt là với những ngành nghề lao
động trong môi trường độc hại.
Để phát triển thị trường sức lao động ở nước ta còn cần phải nhanh chóng
cải cách chế độ tiền lương, chế độ tiền lương mới cần phải có sự phân biệt đáng
kể về thu nhập trên cơ sở lấy hiệu quả lao động làm chính, phân biệt giữa người
làm ít với người làm nhiều, giữa lao động phức tạp với lao động giản đơn. Sự
phân biệt này góp phần thúc đẩy quá trình tự nâng cao chất lượng lao động đối
với mỗi người lao động, khuyến khích người lao động bán sức lao động của họ ở
những nơi có mức tiền lương cao. Mặt khác vẫn phải duy trì những ưu đãi xã hội
và thực hiện tốt vấn đề bảo hiểm xã hội…
3.3. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế và giữ vững
định hướng XHCN
Cần tiến hành phân cấp quản lý nhà nước, đặc biệt là việc phân cấp quản
lý nhà nước về kinh tế. Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước,
tránh sự quản lý chồng chéo, gây ra sự phiền hà đối với việc kinh doanh của các
doanh nghiệp. Nhất là, trong việc quản lý đăng ký kinh doanh của các doanh
nghiệp, hiện nay còn có nhiều cơ quan thuộc các cấp khác nhau quản lý việc




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status