MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu.
02
03
03
03
03
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
2. Thực trạng của việc dạy trẻ tính tự lập.
3. Các biện pháp giúp hình thành tính tự lập cho trẻ 5-6 tuổi.
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường và kế hoạch tác động kịp
04
05
06
07
thời.
3.2. Biện pháp 2: Thực hiện làm gương cho trẻ.
Ngày nay, xã hội chúng ta đang không ngừng phát triển, càng phát triển
bao nhiêu thì con người càng miệt mài vào công việc bấy nhiêu mà ít quan tâm đến
giáo dục con cái. Tôi đã có cơ hội tìm hiểu trên mạng xã hội và được biết những bà
mẹ nước Pháp chăm con rất tốt, dạy con với phương châm: “ Hãy buông tay con
bạn ra”. Đứa trẻ nào cũng có nhu cầu khẳng định mình. Họ dạy con bằng cách để
con tự lập trong mọi hoạt động vừa sức của con nên hầu như những đứa trẻ Pháp
có tính tự lập rất cao, ngoan ngoãn và đặc biệt ít dựa dẫm vào người khác.
Ở Việt Nam, giáo dục con cái đang là vấn đề đáng quan tâm của xã hội,
hầu như cha mẹ ít dành thời gian để dạy con kĩ năng sống, hay là có dạy nhưng
chưa thực sự đúng cách.
Với muôn vàn lý do, một số gia đình đã vô hình tạo cho trẻ thói quen dựa
dẫm cha mẹ và không có khả năng tự lập trong cuộc sống, làm cho trẻ tham gia các
hoạt động trong tập thể không được như những đứa trẻ được rèn luyện đúng cách.
Điều này ảnh hưởng đến nhận thức và tâm lý của trẻ.
Bên cạnh cha mẹ thì cô giáo mầm non cũng có vai trò vô cùng quan trọng
trong giáo dục kĩ năng tự lập ở trẻ tại môi trường tập thể. Giáo viên nếu không tác
động kịp thời cũng sẽ gây cho thế hệ tương lai sự phát triển chậm trễ.
Vì thế, để giúp cho những học sinh lớp tôi và tất cả những đứa trẻ khác có
được một tính tự lập tốt tôi đã nghiên cứu lựa chọn đề tài:“ Một số biện pháp
giúp hình thành tính tự lập cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi ” để chia sẻ cho đồng
nghiệp và đặc biệt là phụ huynh cách nuôi dạy con cái cũng như học sinh của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng tính tự lập ở trẻ 5 - 6 tuổi tại lớp Lá 2 từ đó
chọn lọc các biện pháp và hình thức tổ chức giáo dục trong nhà trường và gia đình
để tác động hình thành tính tự lập cho trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng là trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Sao Mai xã Tân
* Thuận lợi:
Nhà trường đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho hoạt động, phòng học
rộng rãi, thoáng mát, có đủ ánh sáng.
Bản thân tôi cũng có nhiều cố gắng trong quá trình tự học, tự rèn luyện. Sử
dụng vi tính thành thạo.
Các cháu có cùng độ tuổi, thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi
những điều mới lạ hấp dẫn.
Phụ trách chuyên môn năng nổ nhiệt tình, nắm vững chương trình mầm non
mới, luôn thường xuyên được đi dự giờ học hỏi đóng góp kinh nghiệm từ chuyên
môn và chị em đồng nghiệp tôi đã học hỏi được một số kinh nghiệm hay trong việc
giáo dục tính tự lập cho trẻ, được phụ huynh giúp đỡ trao đổi thường xuyên về trẻ
nên tôi có cơ hội tìm hiểu kĩ hơn về trẻ.
* Khó khăn:
Ngày nay một số gia đình và nhà trường cũng áp dụng việc giáo dục tính tự
lập cho trẻ nhưng hầu hết mới chỉ đi vào giáo dục hành vi, chưa chú trọng tới giáo
dục khía cạnh nhận thức và thái độ của trẻ.
Đầu năm học trẻ chưa quen nề nếp lớp học, trẻ chưa ý thức cao các hoạt
động tự phục vụ bản thân. Một số gia đình có trẻ là con một, con cưng nên thường
chiều chuộng, nên khả năng tự lập của bé đó không cao so với bé khác.
3. Các biện pháp giúp hình thành tính tự lập cho trẻ 5-6 tuổi:
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường và kế hoạch tác động kịp thời:
Giáo dục khả năng tự lập có ý nghĩa trong mọi giai đoạn hình thành nhân
cách, đặc biệt là lứa tuổi trước tiểu học.
Có thể khẳng định: Trẻ 5-6 tuổi là lứa tuổi cần thiết phải chuẩn bị cho trẻ
khả năng tự lập; giáo dục cho trẻ khả năng tự lập, giúp khả năng tự lập của trẻ phát
triển một cách đúng đắn nhất.
Đối với mọi phụ huynh và giáo viên cần phải sớm biết được khả năng tự lập
của trẻ, tôn trọng tất cả những biểu hiện tự lập của trẻ, song song với những biện
lên, đỡ bạn lại chỗ cô.
Bên cạnh đó, gia đình cũng phải xây dựng cho trẻ những ý thức tự lập ngay
từ sớm như: Trẻ tự chuẩn bị đồ để đi học, trẻ tự đi lấy sữa, trẻ... Hãy xây dựng môi
trường thân thiện cho trẻ.
Đối với những trẻ yếu, tôi sẽ cho trẻ thực hành nhiều hơn và hỏi trẻ nhiều
hơn. Cả giáo viên và gia đình nên xác định được kế hoạch tác động đến trẻ bằng
việc giáo dục cho trẻ những kĩ năng tự lập đó là kĩ năng tự phục vụ bản thân, kĩ
năng giữ gìn vệ sinh, kĩ năng hỗ trợ người khác.
Hãy kiên nhẫn với trẻ, đừng bao giờ có ý nghĩ thấy trẻ làm chậm rồi mình
làm giúp cho nhanh, đó là ý nghĩ và hành động sai lầm.
3.2. Biện pháp 2: Thực hiện làm gương cho trẻ:
* Cô làm gương: Hàng ngày trẻ đến lớp, phần lớn thời gian trong ngày trẻ
được sinh hoạt và học tập cùng cô. Vì vậy vai trò của cô giáo rất quan trọng trong
việc hình thành những thói quen, nề nếp cho trẻ, cô là tấm gương cho trẻ noi theo.
Ví dụ: Khi đến lớp cô giáo xếp xe máy của mình thẳng hàng lối, cất gọn gàng dép, túi
xách, mũ, khi trẻ đến thấy cô xếp gọn gàng trẻ sẽ xếp gọn gàng theo. Trong giờ học, khi học
xong cô cất gọn gàng đồ dùng của trẻ vào đúng nơi quy định.
Bé tự dọn đồ chơi và cất dép gọn gàng
Trong mọi hoạt động sinh hoạt, học tập cô luôn là tấm gương trong việc giữ
gìn sạch sẽ môi trường lớp học, không vứt rác bừa bãi, bỏ rác vào đúng nơi quy
định, thấy rác thì nhặt bỏ sọt rác xong rồi rửa tay.
Thường xuyên cùng trẻ làm những công việc như lau dọn đồ chơi, nhổ cỏ
nhặt rác sân trường. Tặng trẻ một số câu khen ngợi “ Con đã lớn thật rồi”.
Khi được giúp cô trẻ thấy mình đã lớn đã làm được việc có ích, thích được
làm việc, từ đó hình thành cho trẻ một thói quen, nề nếp giữ vệ sinh chung, khi
thấy những điều cần phải làm thì trẻ sẽ làm và không cần phải đợi người khác nhắc
nhở.
* Gia đình làm gương cho trẻ: Gia đình cũng cần phải làm gương cho trẻ,
thìa… giúp cô trải chiếu, lấy chăn gối, đệm chuẩn bị giờ ngủ. Cô thường xuyên
phân công và theo dõi trẻ trực nhật, nói rõ vai trò của người trực nhật. Người thực
hiện nhiệm vụ trực nhật phải làm chu đáo và có trách nhiệm với việc được phân
công. Tổ trực nhật trong giờ học sẽ lấy đồ dùng phát cho các bạn, học xong cả lớp
sẽ cùng nhau dọn dẹp và vệ sinh lớp. Rèn cho trẻ thói quen ý thức được tinh thần
trách nhiệm để trẻ không khỏi bỡ ngỡ, làm hành trang khi trẻ vào tiểu học.
Tự lập luôn đi kèm với tư duy của trẻ. Luôn luôn tạo ra cho trẻ những kiến
thức, kĩ năng mới để trẻ có thể thực hành, trải nghiệm những kĩ năng, kĩ xảo để
phát triển và rèn luyện tính tự lập cũng như tư duy hàng ngày cho trẻ.
Hãy để trẻ hiểu được trách nhiệm của mỗi người trong gia đình, từ đó trẻ
cũng ý thức được trách nhiệm của mình.
Ví dụ: Khi mẹ đi làm về xách theo đồ ăn, mỗi người một việc bố dắt xe cất
cho mẹ, chị cất giỏ xách giúp mẹ, bé sẽ xách đồ ăn vào bếp giúp mẹ, mẹ sẽ đi thay
đồ vào nấu ăn. Khi mẹ nấu ăn có thể nhờ bé lấy đồ giúp mẹ bằng các cách gợi hỏi
để thử trẻ chứ không yêu cầu trẻ làm ngay cho mẹ. Cần nhờ bé làm nhiều lần để
tập thói quen cho trẻ, nhưng chú ý khi trẻ mệt thì không nên ép trẻ vì tự lập dựa
trên sự yêu thích lao động, nếu ép trẻ quá sẽ có thể gây áp lực cho trẻ.
Do đó muốn giáo dục khả năng tự lập trước hết cần phải làm sao cho trẻ có
sự yêu thích lao động; phải thúc đẩy trẻ tham gia vào lao động, tập lao động trong
cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
4.4. Biện pháp 4: Rèn luyện mọi lúc mọi nơi và duy trì tính tự lập của
trẻ hàng ngày:
Muốn hình thành một hành động cho trẻ thì dễ nhưng việc hình thành thói
quen cho trẻ thì rất khó, người ta nói: Muốn có thói quen thì phải gieo hành động,
chính thói quen sẽ gieo lên tính cách và số phận con người. Đó là điều mỗi giáo
viên và cha mẹ cần thuộc làm lòng. Và muốn thói quen hình thành ở trẻ thì cha mẹ
và cô giáo cần: Rèn luyện cho trẻ nhiều lần, có những biện pháp khen thưởng,
khích lệ, động viên, không ép buộc trẻ.
- Chúng ta sẽ lau kệ như thế nào nhỉ ?
- Ai giỏi lên thực hiện lại công việc lau kệ nào ?
* Hình ảnh số 3 : Bé giúp cô lau lá và tưới nước cho cây.
- Bạn đang làm công việc gì đây ?
- Để tưới nước, lau lá cây thì cần có gì nào ?
- Mời một bạn lên thực hiện công việc
* Hình ảnh thứ 4: Bé xếp và lau bàn ăn
- Các bạn ấy đang làm công việc gì ?
- Các bạn ấy làm gì trước, sau đó bạn làm gì nữa nào ?
+ Cô mở rộng thêm một số hình ảnh về công việc trực nhật như : Trải chiếu,
gối khi đi ngủ, sắp xếp kệ dép…
* Giáo dục: Các bạn ơi trực nhật thường xuyên là đã góp phần bảo vệ môi
trường, giữ cho môi trường sống chúng ta luôn luôn sạch đẹp, đồ dùng luôn ngăn
nắp và gọn gàng hơn. Không những thế trực nhật là cùng nhau hợp tác, chia sẽ
công việc, giúp đỡ người khác và cũng thể hiện được những khả năng của bản thân
mình nữa. Vì thế các bạn phải thường xuyên tham gia vào công việc trực nhật, cố
gắng hoàn thành công việc mà các bạn đã đảm nhận và nhớ rửa tay sau khi trực
nhật nhé các bạn.
* Trò chơi : Pha nước chanh
* Hoạt động: Bé vui trực nhật
* Bảng phân công lịch trực nhật của bé
- Cô giới thiệu bảng theo dõi bảng phân công lịch trực nhật của các tổ.
- Cô cho trẻ quan sát và ghi nhớ nhiệm vụ ở bảng phân công trực nhật
- Cô giao nhiệm vụ trực nhật của tổ.
- Người thực hiện nhiệm vụ trực nhật phải làm việc chu đáo và có trách nhiệm
với những công việc được phân công
- Cô cho các tổ bàn bạc về công việc trực nhật của mình trong ngày hôm nay.
- Cô cùng làm với trẻ, vừa làm vừa trò chuyện với trẻ, giúp trẻ hiểu và hứng
còn yếu hơn các bạn nữa. Chú ý dạy trẻ càng sớm càng tốt, không nên sợ bé bị đau hay bé làm sẽ
hư cái này cái kia.
Bé tập nhặt rau
Một số trẻ được nuông chiều như: Bắt bố mẹ bế từ trên giường xuống khi
ngủ dậy, không bế thì khóc, không lấy đồ dùng và chải răng cho trẻ thì trẻ sẽ lăn ra
ăn vạ, ăn cơm phải bà đút mới chịu ăn… Những thói quen xấu này sẽ ảnh hưởng
xấu đến con bạn, hãy có biện pháp cứng rắn như ra điều kiện.
3.6. Biện pháp 6: Khuyến khích kết quả trẻ làm được:
Bé được cắm cờ
Người lớn chúng ta trong mọi hoạt động nếu có sự động viên khích lệ từ mọi
người thì chắc rằng ai cũng có được niềm tin và nghị lực. Trẻ nhỏ cũng vậy trong
mọi hoạt động trẻ luôn cần có sự động viên khen ngợi của cô và gia đình, khen
ngợi cần được xem như hành động công nhận trẻ đã hoàn thành công việc của
mình khi được giao cho dù chúng không được hoàn thiện, hãy đưa ra những nhận
xét tích cực sau mỗi việc trẻ làm để trẻ có cảm giác mình sẽ làm nhiều việc tốt hơn
nữa để mọi người khen ngợi mình.
Nhưng chú ý hạn chế việc dùng những từ khen ngợi quá nhiều cho một hành
động đơn giản, thay vào đó là những lời động viên tích cực như: Cô cảm ơn con,
con đã làm rất tốt… Ngoài ra nên tặng cho trẻ những lời khen như: “Nếu con ăn
giỏi cô sẽ cho con cắm cờ hay con ăn giỏi mẹ sẽ cho con đi chơi nhà bà ngoại”.
Bạn không nên dùng tiền hay điện thoại để thu hút trẻ.
4. Kết quả đạt được khi áp dụng các biệp pháp trên:
* Kết quả từ phía trẻ.
Sỉ số học sinh lớp Lá 2: 27 cháu. Trẻ đều được cô giáo và cha mẹ tạo mọi
điều kiện khuyến khích khơi dậy tò mò, phát triển trí tưởng tượng, mạnh dạn, tự
19
%
70
20
%
74
trong các hoạt động
4
tiết học
Ý thức của trẻ
trong mọi hoạt
KĐ
7
TL
26
8
%
30
7
0
27
%
100
0
0
0
0
%
9
33,3
%
%
27
100
%
động
Không yêu cầu trẻ phục tùng theo ý người lớn ngay lập tức vì sự phục tùng
một cách thái quá không tạo cho trẻ tính tự lập. Trẻ mất đi sự tự giác, và khi được
người lớn yêu cầu thì mới thực hiện.
2. Kiến nghị :
Nhà trường tạo điều kiện thêm các trang thiết bị hiện đại cho giáo viên phục
vụ việc giảng dạy cho trẻ.
Khuyến khích giáo viên đăng kí viết sang kiến kinh nghiệm để giáo viên
trong trường học hỏi lẫn nhau.
Cần trang bị đầy đủ vật chất, đồ dùng dạy học cho cô và trẻ.
Địa phương thường xuyên quan tâm tới những mặt hạn chế của nhà trường,
lớp học để có biện pháp giúp đỡ. Giáo viên cần yêu nghề, yêu trẻ, luôn nâng cao
tay nghề về chuyên môn và nghiệp vụ để thực hiện tốt việc nuôi dưỡng , chăm sóc,
giáo dục trẻ.
Tích cực học tập, học hỏi để nâng cao trình độ tay nghề.
Chịu khó sưu tầm, nghiên cứu để tìm hiểu các kĩ năng sống để có phương
pháp giáo dục phù hợp.
Kết hợp với phụ huynh để có biện pháp giáo dục trẻ một cách tốt nhất ở gia
đình và nhà trường.
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi đưa ra còn nhiều hạn chế mong được
các cấp lãnh đạo bổ sung và cộng nhận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tân Thành, ngày 1 tháng 10 năm 2016
Người viết
Trương Thị Huyền
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TRƯỜNG MẦM NON SAO MAI
………………………………………………………………………………………
TRANG
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu.
02
03
03
03
03
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
2. Thực trạng của việc dạy trẻ tính tự lập.
3. Các biện pháp giúp hình thành tính tự lập cho trẻ 5-6 tuổi.
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường và kế hoạch tác động kịp
04
05
06
07
thời.
3.2. Biện pháp 2: Thực hiện làm gương cho trẻ.
3.3. Biện pháp 3: Phân công công việc cho trẻ.
3.4. Biện pháp 4: Rèn luyện mọi lúc mọi nơi và duy trì tính tự lập
giáo dục con cái. Tôi đã có cơ hội tìm hiểu trên mạng xã hội và được biết những bà
mẹ nước Pháp chăm con rất tốt, dạy con với phương châm: “ Hãy buông tay con
bạn ra”. Đứa trẻ nào cũng có nhu cầu khẳng định mình. Họ dạy con bằng cách để
con tự lập trong mọi hoạt động vừa sức của con nên hầu như những đứa trẻ Pháp
có tính tự lập rất cao, ngoan ngoãn và đặc biệt ít dựa dẫm vào người khác.
Ở Việt Nam, giáo dục con cái đang là vấn đề đáng quan tâm của xã hội,
hầu như cha mẹ ít dành thời gian để dạy con kĩ năng sống, hay là có dạy nhưng
chưa thực sự đúng cách.
Với muôn vàn lý do, một số gia đình đã vô hình tạo cho trẻ thói quen dựa
dẫm cha mẹ và không có khả năng tự lập trong cuộc sống, làm cho trẻ tham gia các
hoạt động trong tập thể không được như những đứa trẻ được rèn luyện đúng cách.
Điều này ảnh hưởng đến nhận thức và tâm lý của trẻ.
Bên cạnh cha mẹ thì cô giáo mầm non cũng có vai trò vô cùng quan trọng
trong giáo dục kĩ năng tự lập ở trẻ tại môi trường tập thể. Giáo viên nếu không tác
động kịp thời cũng sẽ gây cho thế hệ tương lai sự phát triển chậm trễ.
Vì thế, để giúp cho những học sinh lớp tôi và tất cả những đứa trẻ khác có
được một tính tự lập tốt tôi đã nghiên cứu lựa chọn đề tài:“ Một số biện pháp
giúp hình thành tính tự lập cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi ” để chia sẻ cho đồng
nghiệp và đặc biệt là phụ huynh cách nuôi dạy con cái cũng như học sinh của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng tính tự lập ở trẻ 5 - 6 tuổi tại lớp Lá 2 từ đó
chọn lọc các biện pháp và hình thức tổ chức giáo dục trong nhà trường và gia đình
để tác động hình thành tính tự lập cho trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng là trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Sao Mai xã Tân
Thành huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông.
4. Phương pháp nghiên cứu: