LÝ LUẬN CHUNG VỀ TINH THẦN NỮ QUYỀN TRONG TIỂU THUYẾT - Pdf 47

1

MỞ ĐẦU
Văn học và một tiến trình luôn vận động và biến đổi không ngừng. Ở mỗi giai
đoạn nhất định văn học luôn đạt được những thành tự nhất định và tạo dấu ấn
cho nèn văn học thời kì đó. Xét riêng ở Việt Nam, thành tựu của văn học qua
các thời kì có nhiều thay đổi, nếu như ở giai đoạn 1932 – 1945 là Thơ Mới;
1945 – 1975 là thơ và kí thì sau 1975 là sự lên ngôi của tiểu thuyết; đặc biệt là
giai đoạn sau đổi mới tiểu thuyết ngày càng chứng tỏ được sức ảnh hưởng của
“thể loại cái” của văn học với các khuynh hướng nổi trội, bao trùm lên các vấn
đề mới và cấp bách của con người hiện đại. Tiểu thuyết Việt Nam đầu TK XXI
là sự cách tân triệt để trong xu thế hội nhập với văn học toàn cầu với việc ngấp
nghé bước vào kĩ thuật viết hậu hiện đại, được gọi là tiểu thuyết Việt Nam hậu
hiện đại. Theo đó, tiểu thuyết xuất hiện với bốn khuynh hướng chính sau: Tiểu
thuyết tân lịch sử; Tiểu thuyết hiện sinh; Tiểu thuyết tính dục và Tiểu thuyết nữ
quyền. Trong đó, tiểu thuyết nữ quyền bắt nguồn từ tinh thần nữ quyền xuất
hiện ở Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX và dần lên ngôi, trở thành một
khuynh hướng văn học nổi bật từ sau năm 1986. Đây là một bước đi tất yếu của
văn học bởi lẽ trong thời kì hội nhập, vấn đề về quyền phụ nữ ngày càng được
quan tâm và trở thành chủ lưu trong dòng chảy chung của văn học ở các nước
phương Tây. Điều này đã cuốn các tác giả nữ Việt Nam vào con đường cần phải
đưa vấn đề về quyền phụ nữ ra xem xét để từ đó hướng đến giải phóng phụ nữ
trên nhiều phương diện. Tiểu thuyết nữ quyền ở Việt Nam gắn với tên tuổi của
những tác giả nữ như: Y Ban (Xuân Từ Chiều, Trò chơi hủy diệt cảm xúc); Lý
Lan (Tiểu thuyết đàn bà); Đoàn Minh Phượng (Mưa ở kiếp sau); Võ Thị Xuân
Hà (Trong nước giá lạnh)... Mỗi tác giả, mỗi tác phẩm đều có những cách tiếp
cận vấn đề nữ quyền khác nhau và tạo nên được chỗ đứng riêng cho dòng văn
học này. Có thể nói, tiếng nói nữ quyền là một làn sóng mới tạo nên diện mạo
của
tiểu
thuyết

nhằm mục đích xác định, xây dựng và bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, văn
hóa và xã hội bình đẳng cho phụ nữ”.
Chủ nghĩa nữ quyền chính là sản phẩm của phong trào cách mạng tư sản
cận đại, với bề dày lịch sử hơn 200 năm. Có sự xuất hiện của chủ nghĩa này là
do sự bất bình đẳng về giới, vì nữ tính từ xưa đến nay luôn bị áp bức về chính
trị, và luôn bị xã hội chèn ép, nhấn chìm, không có tiếng nói trong mọi mặt. Về
kinh tế thì cam chịu nghèo khổ, phải chịu phụ thuộc vào đàn ông; về văn hóa bị
nam tính tước đoạt; ngay cả trong vấn đề hôn nhân – gia đình phụ nữ cũng
không có quyền định đoạt.Tất cả những điều này đã trở thành nguyên nhân làm


3

dấy lên các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi cho người phụ nữ từ mô hình nhỏ cho
đến bùng phát dữ dội. Tiêu biểu có thể kể đến là: cuộc đấu tranh ở Pháp vào
tháng 10 năm 1789 một nhóm phụ nữ Paris xông thẳng vào trụ sở Quốc dân đại
hội đòi quyền nam nữ bình đẳng là cuộc đấu tranh khởi đầu cho sự vùng lên của
phụ nữ; hay là sau đại chiến thế giới thứ 2 hàng loạt các nước trên thế giới đều
xác nhận nam nữ bình quyền trong Hiến pháp,...
Chủ nghĩa nữ quyền là một hiện tượng hết sức phức tạp, mang tính lịch sử, dân
tộc và tùy thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi dân tộc mà vấn đề nữ quyền ở mỗi nơi
lại khác nhau. Theo các nhà nghiên cứu thì quá trình phát triển của chủ nghĩa nữ
quyền được chia làm ba làn sóng nữ quyền đó là:
Làn sóng nữ quyền thứ nhất (The first Wave of feminism) diễn ra vào
cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, đây là giai đoạn nổi bật với phong trào quyền
bầu cử của người phụ nữ. Và ở giai đoạn các chị em phụ nữ còn đấu tranh đòi
các quyền lợi khác như: Được tăng lương, được giảm giờ làm, được quyền tham
gia nhiều ngành nghề khác nhau,...
Làn sóng nữ quyền thứ 2 (The second Wave of feminism) đây là giai
đoạn vận động cho bình đẳng pháp lý và xã hội đối với phụ nữ. Diễn ra từ 1918

táo bạo về việc tìm hiểu bản sắc của nữ giới, xác định một thứ mỹ học riêng của
nữ giới,... Tác phẩm " Một căn phòng cho riêng mình" (1929) của Virginia
Woolf được coi như " sách vỡ lòng " của phê bình nữ quyền, tác phẩm đã cho ta
thấy được tầm quan trọng của nữ quyền. Và đặc biệt tác phẩm “Giới tính thứ
hai” của Simone de Beauvoir đây được coi là tác phẩm đánh dấu sự hiện diện,
mở đầu chính thức thật sự cho phong trào phê bình nữ quyền. Đây chính là tác
phẩm kinh điển của chủ nghĩa nữ quyền, với sự phân tích về nhiều mặt bị áp
bức và với những yêu cầu cao hơn về việc giải phóng phụ nữ, tác phẩm còn có
tác dụng đẩy phong trào phụ nữ chuyển sang một giai đoạn mới.Và thông qua
tác phẩm của mình, nữ nhà văn Pháp đã kêu gọi các nhà văn sĩ khác hãy dùng
ngôn từ làm vũ khí đấu tranh chống lại sự khống chế của nam giới. Hưởng ứng


5

tinh thần này, đến đầu những năm 60 của thế kỉ XX hàng loạt bài viết ra đời
đánh dấu sự xuất hiện mạnh mẽ và tiếp diễn sôi nổi của phong trào phê bình nữ
quyền.
Phê bình nữ quyền tuy là một trường phái khá mới mẻ, nhưng đã phát
triển hết sức mạnh mẽ và chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong đời sống tư
tưởng nhân loại.
1.1.4. Văn học nữ quyền và tiếng nói nữ quyền trong tiểu thuyết Việt Nam
thế kỉ XXI
Văn học nữ quyền là trường phái văn học chỉ do tác giả nữ sáng tạo ra là
chính, các tác phẩm này lấy người phụ nữ làm trung tâm của tác phẩm văn học,
nói về phụ nữ,phục vụ cho một ý kiến hay lí lẽ nào đó của phụ nữ. Các tác phẩm
trong trường phái này như đều nhằm bộc lộ tư tưởng đấu tranh vì sự tự do, bình
đẳng và quỳên lợi của người phụ nữ trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, ngay cả vấn đề bị cấm kỵ như vấn đề tình dục. Nó khẳng định nữ giới là
một cá nhân tự mình, cần sống cho mình, tự công nhận mình như đàn ông đang

bút nữ tài năng cho dòng văn học này có thể kể đến như : Võ Thị Xuân Hà, Y
Ban, Dạ Ngân, Lý Lan, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thị Thu Huệ,...họ đã khám phá
những góc cạnh mới mẻ về người phụ nữ, chạm đến những ngõ ngách về đời tư
người phụ nữ từ chính cái nhìn của người phụ nữ để qua đó đấu tranh,... đánh
thức cái quyền phụ nữ trong mỗi “người đàn bà bình thường”.
Đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết thì sự tác động của chủ nghĩa nữ quyền
cũng khá mạnh mẽ. Sau 1986, các tiểu thuyết mang tiếng nói nữ quyền ra đời
rất nhiều, cứ hễ nhà văn nữ nào cầm bút thì ít hay nhiều các sáng tác đó đều
mang cảm hứng nữ quyền và trong đó nhiều tác phẩm vang dội, đem lại nhiều
giá trị. Nhưng phải nói là đầu thế kỉ XXI mới chính là giai đoạn ta ghi nhận sự
bùng nổ mạnh mẽ của hàng loạt tiểu thuyết nữ quyền xoay quanh đè tài về bi
kịch đời tư của người phụ nữ sau chiến tranh, về những giá trị và quyền lợi,
quyền bình đẳng của người phụ nữ. Các biểu hiện ý thức về giá trị nữ giới;
khẳng định cái tôi; khẳng định sự độc lập phụ nữ; công khai tuyên chiến đả phá


7

phụ quyền và tính dục nữ thể hiện cái bản ngã,sự chủ động trong tình dục...chưa
bao giờ được quan tâm, khai thác nhiều và xoáy sâu, chạm tới cả những vùng
kiêng kỵ như bây giờ cả. Và chính sự đổi mới trong việc thay đổi mạnh mẽ về
tư duy, cách nhìn nhận và cách tân nghệ thuật của các tác phẩm tiểu thuyết trong
giai đoạn này, đã cho ta thấy được sự vươn mình, “làm mới” chính mình không
ngừng của tiểu thuyết. Và ta còn thấy rằng tính dân chủ ngày càng được thể hiện
rõ nét cho nên nền văn học cũng ngày càng đa sắc và mạnh mẽ hơn bao giờ nhờ
tiếng nói nữ quyền. Các tiểu thuyết tiêu biểu về tiếng nói nữ quyền trong đầu
thế kỉ XXI có thể kể đến như: Xuân Từ Chiều của Y Ban, Gia đình bé mọn của
Dạ Ngân, Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan, Mưa ở kiếp sau của Đoàn Minh
Phượng,...
1.2.

của Lý Lan năm 1978. Tập truyện ngắn đầu tay Cỏ Hát , năm Tập truyện thiếu
nhi Ngôi Nhà Trong Cỏ năm 1984, tập thơ Là Mình năm 2005 được giải thưởng
thơ Hội Nhà Văn TP HCM. Tùy bút Cổng trường mở ra của Lý Lan được in
trong Sách giáo khoa lớp 7, tập 1 của Việt Nam.Truyện ngắn con ma, đêm
không chiến,...Trong số đó, nổi bật hơn hết, tác phẩm Tiểu thuyết đàn bà của Lý
Lan gây tiếng vang lớn trong giới văn học.
1.2.1.2. Tiểu thuyết “Đàn bà”
“Tiểu thuyết đàn bà” là một tiểu thuyết gồm 17 chương. Trước đó
nó đã nằm im lìm suốt 16 năm trong chồng bản thảo của chị. Tiểu thuyết được
Lý Lan viết năm 1992, khi đất nước còn chưa có những cái nhìn thông thoáng
như bây giờ. Vì thế mà chị chưa cho xuất bản vì lo ngại thiếu nhận được sự
đồng cảm của người đọc. Cho đến khi Lý Lan nhận được suất học bổng đi Mỹ
đúng vào dịp xảy ra vụ khủng bố 11.9 và chị có cảm giác như là cuộc chiến
tranh thế giới lần thứ 3 đang đến với những gì khủng khiếp mà cuộc chiến đã
qua từ 30 năm trước như đang tái hiện . Mãi đến năm 2001, khi sang Mỹ học,
trong nỗi khắc khoải của một người xa sứ, Lý Lan đã viết lại cuốn sách. Trong
bối cảnh ấy, chị đã có một cái nhìn khách quan hơn, tỉnh táo hơn về vấn đề chị
nhìn nhận khai thác về số phận người phụ nữ sau chiến tranh.


9

Tiểu thuyết đàn bà xoay quanh viết về những nỗi niềm và thân phận của
những người đàn bà trong cùng một dòng họ. Tác phẩm chủ yếu xoay quanh 3
nhân vật, ba thân phận đàn bà: Thoa, Liễu, Không Bé. Những nhân vật phụ nữ
có mặt trong tác phẩm đều là những số phận bất hạnh. Cuộc sống của họ không
có lấy một ngày bình yên, trái tim của họ không có chỗ cho những tình cảm
đầm ấm. Những cảnh huống không ai muốn có như sự chia cắt, sự rủi ro, sự mất
mát gắn liền với những người đàn bà trong Tiểu thuyết đàn bà. Với cuộc đời
những nhân vật đàn bà trong tiểu thuyết của Lý Lan, hạnh phúc là một cái gì rất

2000, Lục bình mải miết - tập ký – 2002, Nhìn từ phía khác - tập truyện –
2002,...Đặc biệt là tiểu thuyết Gia đình bé mọn năm 2005 là một trong tác phẩm
ghi dấu ấn thành công trong sự nghiệp của bà.
1.2.2.2. Tiểu thuyết “Gia đình bé mọn”
Tiểu thuyết gia đình bé mọn ra đời vào tháng 7 năm 2005, tác
phẩm gồm hai trăm chín mươi lăm trang xoay quanh cuộc đời và số phận của
nữ nhà văn Mỹ Tiệp, vốn là người miền tây có nhan sắc, đầy cá tính, có khát
vọng mãnh liệt trong tình yêu và mưu cầu hạnh phúc. Cuộc chiến tranh chống
Mỹ ác liệt đã dàn xếp cuộc hôn nhân giữa cô với anh chồng Hai Tuyên, một con
người chỉ biết cương vị phó phòng tuyên truyền, là một kẻ lạnh lùng, vô tâm bỏ
mặc vợ nằm trong phòng phụ sản một mình. Càng sống với Tuyên nỗi đau trong
Tiệp ngày càng tăng lên, sự không tương hợp giữa cô với Tuyên càng ngày càng
lộ diện. Và Tiệp cũng không thể chấp nhận người chồng không đùa giỡn với con
nhưng lại “thích săm sắn với lũ heo”, không hoà hợp được với người chồng coi
công danh là mục đích phấn đấu và bắt vợ phải đồng hành với mình trên con
đường chính trị “lên nữa, lên mãi”. Vì thế Tiệp đã quyết tâm từ bỏ vỏ bọc hào
nhoáng về mái ấm hạnh phúc bề ngoài để tìm đến hạnh phúc thực sự mà trái tim
mình mong muốn. Sự xuất hiện của anh nhà báo từ thành phố lớn, khiến Tiệp
nhanh chóng rơi vào một tình yêu đơn phương mà dịu ngọt. Sau những cuộc


11

tình chớp nhoáng, đầy tinh thần dâng hiến của Tiệp, “chú công” bỏ về thành
phố, để lại cho Tiệp bao điều tai tiếng và cuộc hôn nhân sắp tan vỡ. Phải đến khi
Đính - nhà văn người xứ Nghệ, sống và viết tại Hà Nội xuất hiện và chi phối
cuộc sống của Tiệp thì hành trình kiếm tìm hạnh phúc thực sự trỗi dậy. Nhưng
tình yêu của họ lại gặp phải quá nhiều ngăn trở. Hành trình gần hai mươi năm
trời khổ cực, có niềm vui sướng, có hạnh phúc khi được sống bên người yêu
nhưng cũng có nỗi buồn, cũng có đầy nước mắt chua xót khi phải đối mặt với sự

Đó là số phận long đong trước dòng họ, trước những quy chuẩn đạo đức
khắc khe mà nữ nhà văn Mỹ Tiệp trong Gia đình bé mọn phải gánh chịu. Ở
Tiệp, ta thấy nàng thật bất hạnh khi phải chịu đựng nỗi đau trong tinh thần đến
từ phía dư luận, những lời bàn luận ác ý nhưng ta thấy rằng, Tiệp là một người
phụ nữ cam chịu rất giỏi. Đọc Gia đình bé mọn ta mới thấy được quá trình đi
đến một hạnh phúc không phải là một con đường bằng phẳng mà chỉ cần nhắm
mắt là ta có thể tưởng tượng ra ngay, đó là những bước chân trĩu nặng mang
chiều kích của xã hội và gia đình, của kẻ lạ và người thân, người mà ta dành yêu
thương. Quá trình hạnh phúc của Tiệp là sự truân chuyên trong cả cuộc đời, là


13

những bước chân gian khổ khi nàng có đến ba gia đình trong suốt chuyến hành
trình của mình. Gia đình đầu tiên chính là gia đình mà Tiệp đã sinh ra và lớn lên
từ đó, gia đình của những người đàn bà góa chồng hoặc không chồng, cái gia
đình luôn phải gồng mình lên để gánh chịu nỗi bất hạnh và cả sự kiêu hãnh của
một mái nhà thiếu hơi ấm người đàn ông. Gia đình thứ hai được gọi là “gia đình
hạt nhân”, gia đình mà Tiệp và người chồng tên Tuyên là những vật liệu xây
dựng tỏ ra đã chẳng có chút kết dính nào ở những phẩm chất nhân tính cơ bản,
để rồi tan vỡ là kết cục tất yếu của cuộc hôn nhân không có ràng buộc, không có
những yêu thương. Đích đến chính là mái ấm hạnh phúc của Tiệp cùng “gã” nhà
văn lãng tử có tên Đính, người đã cùng Tiệp đi qua cái “đích lịch trình khổ nạn”
là 11 năm yêu đương trong cảnh người Bắc kẻ Nam, trong cái nghèo đói đáng
rùng mình của một thời bao cấp, trong cả những điều tiếng tàn nhẫn của dư luận
xã hội, đây được xem như là “tập hai” trong “lịch sử đời sống vợ chồng”, là
đích đến hạnh phúc Tiệp đã gian khổ đi tìm. Để có được gia đình lý tưởng của
mình, Tiệp đã phải chịu nhiều trả giá: trước hết là sự từ bỏ - có giấy trắng mực
đen làm chứng - từ những người đàn bà góa ở gia đình 1; tiếp đến là sự lên án,
công kích và xa lánh của bộ phận xã hội còn giữ khư khư thứ luân lý cổ hủ; và

đâu có chờ con vào đại học, nàng đã ra khỏi cái nhà ấy vì cuộc sống lâu dài của
mình với cái rơ moóc các con, lúc đó nàng đâu có thấy Đính, thậm chí anh đã
muốn hẹn nàng ở kiếp sau, Đính xa vời, mất hút, nhưng nàng vẫn cứ bước đi vì
chính mình, phía trước”. Chối bỏ cuộc hôn nhân ấy, Tiệp chẳng những từ chối
luôn cả những quy hoạch, dự nguồn của tổ chức với mình, nàng còn phải chịu
đựng bao nhiêu sự gièm pha của xã hội, thậm chí cả “roi vọt” của giới chức
trong tỉnh. Nhưng tất cả những điều ấy, Tiệp không phải bận tâm nhiều. Khó
khăn hơn đối với Tiệp là những trì kéo của gia tộc. Tiệp là ngôi sao của dòng
họ. Cuộc hôn nhân của Tiệp không được phép chỉ sống một mình. Bởi vì “vòng
vây của nàng là những bà goá, cô goá, má goá, chị goá, cô út cũng goá, bốn bức
tường gương mà nếu nàng soi vào thì nàng phải ngay lập tức quên tuổi trẻ và và
khát vọng của mình đi để nhớ rằng không thể so sánh nỗi bất hạnh nào với nỗi
bất hạnh của những người goá bụa”. Dù vậy, nàng vẫn quyết tâm đi con đường
mình chọn bởi khác những người phụ nữ goá bụa trong gia đình, Tiệp là một
nhà văn mà trái tim lúc nào cũng cần dào dạt để sống và để viết. Dạ Ngân đã


15

khắc hoạ nhân vật trung tâm - Tiệp hiện lên với bao nỗi bất hạnh mà lẽ ra Tiệp
là một người đáng để thừa hưởng hạnh phúc.
Còn trong Tiểu thuyết đàn bà thì Lý Lan đã vẽ nên một bức tranh với
những gương mặt phụ nữ chịu những tấn bi kịch, mỗi người mỗi khác nhưng lại
kết nối thành một sợi dây quyện chặt vào nhau, thông cảm và giúp đỡ nhau
bước qua những khó khăn của cuộc sống thời hậu chiến. Đó là số phận kém
may mắn của 4 thế hệ đàn bà trong một gia đình. Bắt đầu từ bà ngoại - một
người đàn bà không tên đã sống gần một thế kỷ cuộc đời nhưng chưa từng có
ngày vui vì phải lo lắng cho 10 người con. Rồi đến những cô con gái, mỗi người
một số phận, nhưng mẫu số chung là không một ai có hạnh phúc trọn vẹn. Đến
đời cháu ngoại cũng không thoát khỏi, Đen theo các cậu đi làm cách mạng rồi

lì lợm, sắt đá trong bản lĩnh của những người phụ nữ bất hạnh.
2.2. Ý thức về giá trị bản thân
Một phương diện biểu hiện cần phải chú trọng trong quá trình làm rõ về
tinh thần nữ quyền trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI đó chính là hình
ảnh của những người phụ nữ luôn có nhận thức đúng đắn và ý thức sâu sắc về
giá trị của bản thân trong mối quan hệ với cuộc đời và với mọi người xung
quanh. Các nhà văn nữ đã khai thác, đã xây dựng nên những nhân vật nữ có ý
thức rất cao về vai trò, về ý nghĩa tồn tại, vị trí của thân phận nữ giới trong đời
sống xã hội. Họ là những người phụ nữ độc lập, họ có ý thức, có ý chí, có quyền
cá nhân và họ dám khẳng định cái tôi trước xã hội.
Đọc tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan ta có thể bắt gặp những nhân vật nữ
đầy mạnh mẽ, quyết liệt, luôn sẵn sàng đối diện với mọi vấn đề, họ như bước từ
đời thực vào trang sách vậy. Một cô Không Bé dám thẳng thắn với cảm xúc của
mình, dám thể hiện cái tôi đầy tổn thương của mình khi bị chính người chồng
mình chà đạp: “Tại sao tôi phải câm miệng lại? Tại sao tôi phải ra vẻ yêu kính
một kẻ lang chạ, ích kỷ, dối trá?”. Không Bé đã ý thức được giá trị của mình, tại
sao cô lại phải nhẫn nhịn, phải chấp nhận xuống nước trong khi người sai lại là
một tên chồng khốn đản chứ! Chính vì vậy bây giờ cô mặc kệ cái tư cách một


17

người vợ hiền lành, nhún nhường truyền thống trước đó cô đã từng cư xử với
chồng mà sẵn sàng quay lại chất vấn, hét to, thể hiện cái thái độ bất cần đầy
giận dữ và đáp trả tất cả sự sĩ nhục của người chồng đối với mình. Những lời lẽ
tụi tĩu, đay nghiến lần lượt từ miệng Không Bé vung ra : “Xúc phạm cái đéo gì!
Tôi ghê tởm anh.” Hay khi nghe chồng miệt thị phụ nữ Việt Nam, cô đã ném
thẳng cái ly nước vào mặt Ted và hét lên: “Tôi ngu, lấy phải anh. Nhưng không
phải anh đéo được tôi thì anh có quyền miệt thị chị em tôi”. Hay dì Thoa, một
người phụ nữ luôn độc lập trong tư duy, luôn giữ cho mình những tư tưởng quan

Trong tiểu thuyết “Gia đình bé mọn” của Dạ Ngân, Mỹ Tiệp cũng là một
nhà văn luôn ý thức rất cao về những hành vi, lời nói và trách nhiệm của mình.
Trước hết, ta thấy rất rõ sự ý thức của cô trong cuộc tình với Đính, hơn ai hết,
cô hiểu rằng mối tình của mình là nỗi xấu hổ của dòng họ, với một gia đình luôn
đặt danh dự lên trên hết thì việc cô ngoại tình với một người đàn ông chẳng
khác nào cô là một tội đồ, một kẻ phải chịu sự khinh miệt, chê cười và ghét bỏ
của mọi người như một lẽ bình thường mà mình phải nhận lấy. Qua đó cho thấy,
cô đã rất ý thức về tình cảnh mà mình đang đối mặt và phải chịu đựng trong
những quãng thời gian tiếp theo.
Mỹ Tiệp hoài nghi và có sự nhận thức sâu sắc về nghề nghiệp của chính
mình, cô thấy rằng "Công việc viết lách của mình thật dị thường, những suy
nghiệm của mình thật phù phiếm, những việc khiến mình đau khổ hoặc khát
thèm thật vô bổ... những bài báo của nàng còn có thể hiểu được, thứ văn chương
mà nàng lọm cọm hàng đêm kia thật đáng hoài nghi vì nó không có hình thù,
không có quyền lợi, suy ra nó hư vô và không quan trọng". Không phải ai cũng
đủ lí trí để nhìn nhận những mặt tiêu cực trong công việc của mình, Mỹ Tiệp
nhận thức được những mặt trái đó, song thực tế cuộc sống mưu sinh buộc cô
phải chấp nhận những điều vô ích, vô bổ đó.
Trong cách cư xử với những người thân trong gia đình, mặc dù bị mọi người
tra khảo, gay gắt và giận dữ nhưng Mỹ Tiệp lại ứng xử một cách rất ôn tồn,
nhường nhịn bởi đối với cô họ là những con người đã chịu nhiều bất hạnh, đó là
những bà góa, cô góa, má góa, chị góa, em góa, do đó không thể so sánh nỗi bất
hạnh nào với nỗi bất hạnh của những người góa bụa. Dù không nói ra, nhưng
qua cách nghĩ đó của Mỹ Tiệp đã cho thấy rằng cô nhận thức được nỗi đau của


19

mình không bằng những người thân bởi hiện tại cô có gia đình và đặc biệt có
hai đứa con mà cô hết mực yêu thương. Chứng kiến những người thân cãi nhau


tiến bộ trong nhận thức và hành động, cô đã có những suy nghĩ vô cùng sâu sắc
và đầy văn hóa, văn minh. Khi đề nghị ly hôn, trước phản ứng gay gắt của
chồng. Tiệp nhận thức được cả hai đã chạm vào cõi thiêng của nhau. Chính vì
vậy mà cô không tiếp tục đôi co, cô chủ động đưa hai con vào giường, đề nghị
Tuyên bình tĩnh rồi sẽ giải quyết mọi chuyện sau. Trước cách ứng dụng xử đó,
Mỹ Tiệp được khắc họa là một người phụ nữ rất dữ dội và quyết liệt, song cô
cũng rất bình tĩnh trong những tình huống cần thiết để hướng đến giải quết vấn
đề một cách tốt đẹp nhất.
Trong mối quan hệ với Đính, dù chưa danh chính ngôn thuận là vợ Đính
nhưng Tiệp vẫn luôn giữ cho mình sự tự tin, cô khẳng khái rằng mình sẽ tìm
cách nhận diện vợ của Đính, cho dù phải đi vào hang cọp cũng phải đối thoại,
khám phá và tự mình quyết định hay khi được Sếp báo tin rằng vợ của Đính viết
thư tố cáo mình, Tiệp không hề lo lắng mà ngược lại cô càng cảm thấy mình
thật gan lì và đối với cô, mọi thứ sau lưng rất đáng để cô vượt qua. Nếu những
người phụ nữ khác có thể sẽ rất dè chừng, trốn tránh và lo sợ về mối quan hệ mà
tất cả mọi người đều xem là tội lỗi đó thì đối với Tiệp, cô lại rất quả qu yết, bản
lĩnh, nhắn nhủ bản thân phải đối mặt một cách đàng hoàng, rõ ràng. Qua thái độ
đó, hình ảnh của Tiệp thực sự là một người phụ nữ mạnh mẽ, chủ động, dám
làm và chịu trách nhiệm với mọi hành động, lời nói của mình.
Trong mối quan hệ với các con, Mỹ Tiệp luôn ý thức được vai trò và trách
nhiệm làm mẹ của mình. Đã nhiều lần cô muốn phản ứng gay gắt với chồng
nhưng chính hình ảnh của những đứa con đã khiến cô dịu đi, cô luôn tự nhủ
mình phải dằn lòng, mình phải mạnh và giỏi để ôm lấy các con. Những lần cãi
nhau với Tuyên hay khi được người khác báo tin mình bị viết thư tố cáo, điều
mà cô quan tâm trước hết đó chính là sự chứng kiến của các con. Cô lo sợ
chúng sẽ bị tổn thương, sẽ đau buồn và mất niềm tin. Cô luôn nung nấu suy
nghĩ phải để cho Thu Thi, đứa con gái của mình phải khác với thế hệ thua thiệt
của mình, nó phải có nhiều bằng cấp, phải lấy chồng muộn, phải lấy một người
thực sự cầm cương được nó. Từ những nỗi đau và sự bất hạnh của cuộc đời

minh họ lại càng cảm thấy lạc lõng, bất an hơn và chưa bao giờ ý thức tìm kiếm
bản ngã, “tôi đi tìm tôi” lại dâng cao như vậy.


22

Đọc tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan, ta bắt gặp một thế hệ đàn bà trong một dòng
họ chất chứa nhiều nỗi niềm bất an, những người đàn bà ấy họ đều “đang đánh
mất mình, thất lạc nhau trong cuộc đời rộng lớn hay thất lạc nhau dưới cùng
một mái nhà. Và có khi thất lạc mình ngay trong cuộc đời của riêng mình”. Một
bà Tổ, một bà Ngoại, một Liễu, một Thoa, một Không Bé những người phụ nữ
ấy họ chưa bao giờ có sự đầm ấm trong trái tim, họ sinh ra cho những ngăn
cách, rủi ro trớ trêu, bất hạnh,... Chính vì vậy từ lúc nào cái hạnh phúc đơn
thuần mà họ khao khát trở thành một thứ xa xỉ, xa tầm với của họ.
Không Bé, người phụ nữ tưởng chừng như đã nắm lấy được cánh cửa của
hôn nhân thật sự tại nơi đất quê hương người, nhưng hóa ra cô không hề biết
rằng chỉ cần một phút bất cẩn tất cả mọi thứ đã tan tành như bong bóng xà
phòng.” Đã từng, có những ngày chị rong ruổi mưu sinh nơi đất khách quê
người chỉ với một niềm tin giản dị về hạnh phúc trọn vẹn cho gia đình nhỏ của
mình và cho cả má: “Kế hoạch cuộc đời mà Không Bé từng vạch ra sao đơn
giản: đón má về ở chung rồi sanh một hoặc hai đứa con cho má chăm sóc hủ
hỉ”. Đó, ước mơ của người phụ nữ sao mà giản dị quá đỗi, đó là ước mơ của
thiên tính đàn bà chảy mãnh liệt từ bao đời nay. Nhưng cuộc đời nhiều khi lại
quá trêu ngươi. Hành trình trở về của Không Bé cũng đồng thời đặt ra cho
chúng ta một câu hỏi về hạnh phúc gia đình hay hạnh phúc của bản thân mới là
điều quan trọng. Nhưng sáu năm qua giấc mộng ấy vẫn chưa thực hiện, trong
khi từ lúc nào không hay cô cũng đã không còn là Không Bé, không còn là
chính mình khi ở bên chồng. Sáu năm bên cạnh chồng, cô cứ ngỡ nó đủ khiến
hai người thật sự đồng cảm, siết chặt lại với nhau hơn nhưng cuối cùng sự cách
biệt giữa hai nền văn hóa, cái tư tưởng hám công danh của người đàn ông cũng

mấy năm kể từ ngày anh dìu chị ra khỏi nhà tù giữa biển khơi ấy, sao tâm hồn
chị vẫn còn tù tùng và ngột ngạt sau những chấn song vô hình?”. Niềm khát
khao được giải thoát khỏi những tù túng và ngột ngạt cũng đồng thời là nỗi khát
khao về một hạnh phúc trọn vẹn khi sống trên đời dường như được dồn nén hết
vào câu hỏi ấy. Thoa không trả lời được và không ai trong chúng ta đủ tự tin để
trả lời điều đó nhưng việc nhân vật sống với một câu hỏi đầy ám ảnh ấy suốt


24

bao nhiêu năm cũng đủ cho chúng ta thấy được nỗi khát khao được hạnh phúc
của chị là quá mãnh liệt. Hành trình đi tìm kiếm câu trả lời đó, tìm kiếm lại bản
ngã của Thoa là một quá trình thật sự dài, thật sự gian nan,... Nhưng may thật,
đến cuối Thoa dù day dứt,ân hận nhưng vẫn nhẹ lòng vì đã có câu trả lời cho
mình suốt bao nhiêu năm: “ Chị Đen, chị không biết đó là án tử hình của chị
sao? Chị Đen, không biết đó là án tử hình của chị sao? Hay chị biết và chị cứ
đi lên đoạn đầu đài? Có thai năm tháng (...). Chị mở cửa, đi vào đúng ba bước,
đứng lại không hề quay lại, không hề ngờ rằng người đứng ngay sau cánh cửa
cầm súng chỉa thẳng vào lưng chị.” Lại là Thoa cả.
Tiệp cũng không phải trường hợp ngoại lệ. Chính cuộc sống nhiều tủi cực
và bất hạnh càng tăng thêm trong cô khao khát tìm kiếm tình yêu thật sự của
mình. Đó là điều thôi thúc cô, là điều khiến cô mạnh mẽ và dám đấu tranh vì
bản thân mình. Cuộc sống với Tuyên một người cô không hề yêu và ngay cả
những đứa con cũng chẳng thể nào trở thành mối ràng buộc giữa hai người. Đôi
khi chính những bộn bề của cuộc sống lại khiến “Tiệp có cảm giác mình đang
dắt tay một người thanh niên trong giấc mơ người thiếu nữ và cả hai đang đi
ngược thời gian, ngược cả quá khứ và lịch sử để tìm lại những thứ mà mình đã
để quên ở đâu đây”. Khao khát tình yêu cháy bỏng đến với cô và dường như
thật khó để cưỡng lại được sự cám dỗ ấy. Dánh khát vọng và dám đấu tranh vì
tình yêu là một điều táo bạo mà nhà văn Dạ Ngân đã xây dựng cho nhân vật của

đối với người phụ nữ, thực hiện sự bình đẳng giới trong mọi hoạt động kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội.
Một khía cạnh khác về tiếng nói nữ quyền được Lý Lan khai thác là thái độ
của phụ nữ đối với những sự trói buộc bởi bổn phận – thứ bổn phận được gán
cho phụ nữ từ xưa đến nay là phải phục vụ chồng. Không khó để tìm thấy
những số phận phụ nữ mà Lý Lan đề cập đến trong tác phẩm đều đã từng bị chế
độ phụ quyền áp bức. Không chỉ ở đất nước phương Đông như Việt Nam mà
còn cả ở những nước phương Tây văn minh. Trước hết phải kể đến nhân vật
Liễu, một người phụ nữ mang những đặc điểm điển hình của người phụ nữ Việt
Nam thế kỉ trước. Hiền lành, nhẫn nhục chịu đựng và có tình yêu thương con cái



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status