Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 4
1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................................. 4
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................................... 6
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................ 6
NỘI DUNG ........................................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ ........................ 7
1.1. Một số vấn đề về văn hóa ............................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm văn hóa............................................................................................. 7
1.1.2. Đặc điểm về văn hóa Nam Bộ........................................................................... 8
1.1.2.1. Nền tảng văn hóa Nam Bộ ............................................................................... 8
1.1.2.2. Một số nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ ..................................................... 10
1.2. Ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh sống ở Nam Bộ đến Hồ Biểu Chánh .............. 14
CHƯƠNG 2: DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ THÔNG QUA CHÂN DUNG CUỘC
SỐNG NAM BỘ ......................................................................................................................................15
2.1. Cảnh quê Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh ............................................ 15
2.1.1. Thiên nhiên gần gũi, thơ mộng ......................................................................... 15
2.1.2. Đời sống của người dân Nam Bộ...................................................................... 16
2.2. Tính cách của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh ........................... 17
2.2.1. Nét cần cù, chất phác ........................................................................................ 17
2.2.2. Nét bộc trực, thẳng thắn .................................................................................... 19
2.2.3. Trọng nghĩa khinh tài ........................................................................................ 21

2


2.3 Phong tục tập quán trong đời sống người dân Nam Bộ ................................................ 23
2.3.1 Lối sống của người dân quê ............................................................................... 23
2.3.2 Nếp sống của thị dân đầu thế kỉ XX .................................................................. 25
CHƯƠNG 3: DẤU ẤN VĂN HÓA NB QUA NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT HỒ

phóng dân tộc của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.
 Trong Chân dung Hồ Biểu Chánh (1974), Nguyễn Khuê cũng cho rằng: Hồ
Biểu Chánh viết tiểu thuyết phong tục "cũng chỉ nhằm đạt chủ đích luân lí"
 Năm 1989, khi viết lời tựa cho cuốn tiểu thuyết Tiền bạc bạc tiền, GS.
Nguyễn Huệ Chi đánh giá cao những giá trị mà tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đạt
được nhất là ở phương diện phản ánh hiện thực đời sống xã hội.
 Nhận xét về tác phẩm tiểu thuyết bằng thơ của Hồ Biểu Chánh là U tình lục,
Bùi Đức Tịnh trong công trình nghiên cứu Những bước đầu của báo chí, tiểu
thuyết và Thơ mới (1865 – 1932) đã khẳng định: “Mục đích chính của tác giả
4


là tiếp nối truyền thống luân lý của các truyện cổ điển: đề cao hiếu nghĩa và
chứng minh định luật làm lành gặp lành, làm dữ gặp dữ
 Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Thắng trong công trình nghiên cứu Văn học
Việt Nam nơi miền đất mới (2007) cũng đã cho rằng: “Hồ Biểu Chánh là một
nhà văn sung sức nhất ở Nam Bộ hồi đấu thế kỷ XX với một văn phong đậm
màu sắc “Miệt vườn Lục tỉnh Nam Kỳ”. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu này cũng
chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu một số tác phẩm mà chưa đi sâu làm rõ sắc
thái “miệt vườn Lục tỉnh” trong sáng tác của nhà văn Hồ Biểu Chánh.
 Khi nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh, nhà nhiên cứu Nguyễn Phong Nam đã cho
rằng: “Hồ Biểu Chánh cũng là nhà văn thể hiện rất thành công cái diện mạo
văn hóa Nam bộ xưa trong tác phẩm của mình. Hồ Biểu Chánh đã rất thành
công ở thể loại tiểu thuyết phong tục – điều không nhiều nhà văn đương thời
làm được. Đây cũng là nét độc đáo của văn chương Hồ Biểu Chánh”.
 Ngày 17 và 18 tháng 11 năm 1988, tại Tiền Giang, Hội thảo khoa học về cuộc
đời và văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh đã được tổ chức. Trong hội thảo này,
30 bản tham luận của các nhà nghiên cứu đã đề cập nhiều đến cuộc đời và sự
nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh; đặc biệt là đã chỉ ra nhiều giá trị mới
về nội dung tư tưởng cũng như những đặc sắc nghệ thuật trong các sáng tác

Chúa tàu Kim Quy, Ai làm được, Tiền bạc bạc tiền, Tân phong nữ sĩ, Cha con nghĩa
nặng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng kết hợp một số phương pháp:
phương pháp chọn mẫu, phương pháp hệ thống – cấu trúc, phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận văn học dưới góc độ văn hóa
học, dân tộc học.

6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ
1.1. Một số vấn đề về văn hóa
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rộng lớn với nhiều cách định nghĩa khác nhau. Theo số liệu
chưa thống kê đầy đủ, hiện nay có khoảng 500 định nghĩa về thuật ngữ này. Tuy nhiên,
chúng ta vẫn có thể tìm ra những định nghĩa chứa những hạt nhân hợp lý, phù hợp với mục
đích nghiên cứu của mình. Trong số các cách hiểu về khái niệm văn hóa, cách hiểu phổ biến
và gặp nhiều nhất là quan niệm coi văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này
khác dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập
quán, lối sống và lao động. Vào năm 1982, tại Hội nghị thế giới về các chính sách văn hóa
đã thông qua tuyên bố: "Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các
đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một
nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ
bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống, tín ngưỡng". Như vậy, theo nghĩa
rộng, văn hóa là toàn bộ hoạt động tinh thần – sáng tạo, tác động vào tự nhiên, xã hội và con
người nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao hơn để vươn tới sự phát
triển theo khát vọng chân, thiện, mỹ và góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển không
ngừng của đời sống xã hội. Đó cũng chính là quan điểm của các nhà văn hóa lớn Việt Nam

thấp với những thềm phù sa cổ. Nơi đây được nhìn nhận như diềm phía nam của đai khối
cao Tây Nguyên, từ đó các dòng Đa Nhim, Đa Dung hợp lưu lại thành sông lớn Đồng Nai,
tiếp nước của La Ngà rồi vượt qua Trị An tới gặp Sông Bé, sông Sài Gòn để đổ ra cửa Lòng
Tàu. Và Tây Nam bộ tức đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất tiếp nối địa hình bán sơn
địa ấy với một đồng bằng châu thổ phẳng và thấp. Đây là sản phẩm bồi tụ của sông Mê
Kông, con sông dài nhất, nhiều nước và nhiều phù sa nhất Đông Nam Á trên một khuôn
vịnh nông kéo dài từ bồn địa Tông-lê-sáp của Campuchia tới khu vực đồng bằng Sông Tiền
và sông Hậu. Những cứ liệu về mặt địa lý trên giúp chúng ta xác định vấn đề cụ thể về địa văn hóa Nam Bộ ở đây chính là nói về khu vực Tây Nam bộ (chúng tôi gọi tắt là Nam Bộ).
Khi nghiên cứu về nền tảng địa - văn hóa Nam Bộ, việc đặt trong mối tương quan với
các đặc điểm về sinh thái và xã hội của vùng văn hóa này là điều kiện cần thiết. Lịch sử
Nam tiến nói riêng và lịch sử Nam Bộ nói chung là lịch sử của vùng đất mới với độ dài thời
8


gian hơn ba thế kỷ hình thành và phát triển. Đặc tính “mới” là nét bao trùm lên cả hai
phương diện địa lý và lịch sử của vùng đồng bằng sông Cửu Long. So với cả nước, đây là
khu vực có lịch sử khai phá trẻ nhất. Vì vậy văn hóa vùng miền của khu vực này cũng chính
là văn hóa của vùng đất mới với những nét tiếp thu và bảo tồn truyền thống dân tộc và
những nét đặc sắc riêng biệt phù hợp với những điều kiện tự nhiên và xã hội trên địa bàn.
Quá trình Nam tiến được phản ánh rất rõ trong văn học từ những sáng tác dân gian cho
đến văn chương bác học. Trong kho tàng văn học dân gian đồng bằng Sông Cửu Long, ca
dao, thành ngữ, truyền thuyết, giai thoại về đất và người trong quá trình khai phá mở đất
chiếm số lượng khá lớn và được xem là đặc sắc, hấp dẫn nhất. Đa số truyện kể, truyền
thuyết dân gian Nam Bộ đều thể hiện những đặc tính mới của vùng miền trên nhiều biểu
hiện khác nhau của văn hóa. Văn chương bác học cũng đã có không ít những tác phẩm tập
trung khai thác mảng đề tài này một cách thành công. Qua đây càng chứng tỏ được đặc
trưng của các sáng tác văn học trong việc tái hiện cuộc sống và vai trò của nó trong việc lưu
giữ và truyền tải những giá trị văn hóa dân tộc. Xem xét nguồn gốc của những người đầu
tiên đặt chân đến Nam Bộ đã chứng tỏ cho chúng ta thấy nền văn hóa của khu vực này một
mặt phát sinh từ những điều kiện địa lý nhân văn mới, mặt khác lại liên quan mật thiết đến

một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện qua một tập hợp các đặc trưng văn hóa về cách
thức hoạt động sản xuất; về ăn, mặc, ở, đi lại, vận chuyển; về cách tổ chức xã hội cổ truyền
và giao tiếp cộng đồng; về vui chơi giải trí; về các sắc thái tâm lý của cư dân,… từ đó có thể
phân biệt với các đặc trưng văn hóa của vùng khác. Những đặc trưng văn hóa đó hình thành
và định hình trong quá trình lịch sử lâu dài, do cư dân các dân tộc trong vùng thích ứng với
một điều kiện môi trường, có sự tương đồng về trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là giữa họ
có mối quan hệ giao lưu văn hóa mật thiết. Trong mỗi vùng như vậy lại có những tiểu vùng
có những đặc trưng riêng lẻ. “Vùng văn hóa Nam Bộ, xét trên cả phương diện địa lý và lịch
sử, đều là vùng thứ bảy và nó có ba tiểu vùng Đông Nam bộ, Tây Nam bộ và tiểu vùng Sài
Gòn - Gia Định”.
Những đặc trưng của vùng văn hóa Nam Bộ được xác định trên các phương diện cơ bản:
Nam Bộ là một vùng đất mới; vùng đất giao hòa chủng tộc và văn hóa; là vùng văn hóa với
nhiều sắc thái đặc trưng. Sở dĩ gọi Nam Bộ là vùng đất mới bởi những lý do liên quan trực
tiếp đến những vấn đề về lịch sử của vùng miền. Với tính chất “mới” như vậy, Nam Bộ vừa
là nơi lạ lẫm, xa vời, lại vừa thu hút, vẫy gọi con người đến đây. Tuy vậy, đây không phải là
10


mảnh đất vô chủ vì tính chất “mới’ ở đây có nghĩa đối với những người Khmer, Việt,
Chăm,… hiện cùng đang sinh sống, tiếp tục khai thác vùng đất này. Đất mới với những con
người cũng mới, trên vai họ không còn nặng trĩu những lề thói, cổ tục của hàng ngàn năm
nên con người nơi đây cũng năng động, mạnh bạo và cởi mở hơn. Người Việt, người Chăm,
người Hoa và sau đó là những người tứ xứ khác đặt chân đến vùng đất Nam Bộ sớm nhất
cũng chỉ từ thế kỷ thứ XVI lại đây, còn người Khmer thì có thể sớm hơn, khoảng thế kỷ
XIII .
Những yếu tố văn hóa từ ngoài du nhập vào đồng bằng sông Cửu Long rất rõ nét: văn
hóa Ấn Độ qua người Khmer, văn hóa Trung Quốc qua người Hoa, văn hóa Hồi giáo qua
người Chăm. Sự hỗn hợp dân cư thuộc nhiều nguồn gốc địa phương, nhiều tôn giáo tín
ngưỡng khác biệt, nhiều trình độ phát triển về mặt xã hội cũng là điều hiển nhiên. Song tất
cả sự đa dạng, khác biệt đó đều được liên kết lại trong một nền văn hóa Việt Nam phong

thôn Nam Bộ không gắn chặt trong mối quan hệ kiểu tự cấp tự túc như Bắc bộ trước đây mà
phần nhiều cũng gắn với nền kinh tế thị trường của các khu vực lân cận như Sài Gòn và các
đô thị khác trong vùng.
Thứ hai, mô hình tụ cư của cư dân Nam Bộ vẫn theo phương thức chung của cư dân
nông nghiệp nước ta, tuy nhiên, do môi trường và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
vùng nên cách tổ chức dân cư và xã hội nông thôn ở đây cũng có những sắc thái riêng. Kiểu
tụ cư phân tán theo kênh rạch, theo địa hình canh tác được người dân Nam Bộ ưa thích nhất
vẫn là “tiền viên hậu điền”, nhiều khuôn viên tụ lại thành ấp, xóm với phương tiện đi lại
phổ biến vẫn là những chiếc ghe xuồng quen thuộc. Vốn là nơi đất mới, dân cư tứ xứ đến
khai phá vì vậy không có sự ràng buộc chặt chẽ giữa con người với địa bàn mới, nếu thích
hợp sinh sống họ sẽ ở lại, bằng không họ lại ra đi tìm nơi phù hợp hơn. Chính vì lẽ đó quan
hệ cộng đồng làng xã ở đây cũng không gắn bó quá chặt chẽ.
Thứ ba, những sắc thái riêng trong nếp sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại của người dân Nam
Bộ: Nếp sống và cách ăn uống thường không đi vào cầu kỳ, tỉ mỉ, thưởng thức cái tinh tế
của lối sống, cách ăn mà thiên về sự dư dật, phong phú. Nếu người Hà Nội, người Huế thích
ăn uống trong khung cảnh gia đình, thì ở một chừng mực nào đó, nhất là trong quan hệ bạn
bè, người Nam Bộ lại ưa ăn uống nơi hàng quán. Về nơi ở, cư dân trong vùng thường chọn
nhà kiểu ba gian hai chái, làm bằng tre nứa, lợp bằng lá dừa, phân vách, khá đơn giản nhằm
tiện di chuyển khi cần thiết. Nét đặc sắc trong trang phục của người Nam Bộ rất dễ nhận
12


thấy, đó chính là bộ bà ba đen và tấm khăn rằn, hình ảnh đặc trưng của nông dân Nam Bộ
qua nhiều thăng trầm của thời gian đến nay vẫn còn được duy trì, phát huy và đã có những
cách tân đáng kể. Môi trường sinh thái ở đây là sông nước vì vậy kênh rạch, sông ngòi cũng
chính là đường giao thông, là đầu mối giao lưu và thuyền bè chính là phương tiện đi lại,
chuyên chở chính yếu, bởi thế từ lâu dân gian Nam Bộ đã có câu “sắm xuồng để làm chân”.
Ngoài ra, nói tới sắc thái văn hóa Nam Bộ, chúng ta không thể không nói tới ngôn ngữ tiếng Nam Bộ. Đó chính là phương ngữ Việt, được hình thành trong quá trình người Việt
đến khai thác đồng bằng Nam Bộ. Nó thu hút vào mình ngôn ngữ của những con người từ
muôn nơi lưu lạc đến, nhưng đồng thời cũng sản sinh và phản ánh thế giới tự nhiên và con

nơi ông sinh ra và lớn lên. Sự nghiệp của Hồ Biểu Chánh mở ra một hướng đi lớn đầy hứa
hẹn trong sự vận động và phát triển của văn học hiện đại Việt Nam ở khu vực phía Nam.
Ông là một nhà văn tiên phong của miền Nam và là một trong những tiểu thuyết gia đầu
tiên ở Nam Bộ mở màn cho thể loại tiểu thuyết hiện đại. Nội dung tiểu thuyết của ông, dù là
tác phẩm nào, cũng đều xoay quanh vùng đồng bằng sông Cửu Long, đô thị Sài Gòn và đất
Nam Bộ. Sống ở đô thị hơn nửa cuộc đời, lại là người có vốn hiểu biết sâu rộng nhưng chất
nông dân của miền đồng bằng sông nước vẫn in đậm trong tâm trí và cả những sáng tác của
Hồ Biểu Chánh.
Có thể nói ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh sống ở Nam Bộ đến Hồ Biểu Chánh
được thể hiện khá rõ nét qua tìm hiểu sự nghiệp của nhà văn này. Hồ Biểu Chánh xuất thân
trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi
vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, Hồ Biểu
Chánh thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ. Ông làm ký lục, thông ngôn, thăng dần
đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Trong cuộc đời
làm quan của mình quan của mình Hồ Biểu Chánh có điều kiện đi nhiều nơi, có điều kiện
tiếp xúc với nhiều hạng người khác nhau trong xã hội: từ giới quan chức, trí thức, những kẻ
giàu có phong lưu đến những hạng người bình dân khốn khổ. Xuất thân từ một gia đình
nông dân nghèo, bản thân đã trải qua cảnh hàn vi, lại từng bôn ba chốn thị thành nên Hồ
Biểu Chánh có dịp chứng kiến sự tấn công ồ ạt của lối sống tư sản vào xã hội Nam Bộ
những năm đầu thế kỉ XX. Vốn sống phong phú đã giúp ông thành công trong miêu tả hiện
thực xã hội một cách chân thực, sinh động, đa dạng, cụ thể. Đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
chúng ta như đang được trở về với những gì đã hiện hữu ở Nam bộ thời bấy giờ, để chứng
kiến cuộc sống cực khổ của nhân dân ta, để ngậm ngùi đau xót trước những vết thương lở
loét của xã hội Miền Nam thời thuộc địa.

14


Ngoài ra, vì quê ông là miền đất Tiền Giang nên ngay từ khi còn nhỏ, ông đã được tiếp
xúc với cảnh sắc, con người nơi đây. Nơi quê cha đất mẹ với những con người chân chất

chúng

nó".

Quang cảnh thiên nhiên trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh tuy xuất hiện không nhiều
nhưng nó phần nào giúp người đọc hình dung, lí giải nét văn hóa truyền thống sông nước
của người dân Nam Bộ. Chỉ bằng vài dòng văn miêu ta không hề bóng bẩy, cầu kỳ, vẻ đẹp
của cảnh quan nơi đây hiện lên mộc mạc, chân chất, hệt như con người của vùng đất Nam
Bộ.
2.1.2. Đời sống của người dân Nam Bộ
Với đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc và thông qua câu chuyện của các nhân vật, đời sống
của người dân Nam Bộ dần hiện lên trước mắt người đọc. Cảnh sống lam lũ, cực nhọc của
người dân nghèo. Từ cách ăn mặc của người nông dân "một cái áo đen nhùn nhục, một cái
quần vắn lại đứt tả tơi, đầu bịt trùm một cái khăn rằn", cho đến căn nhà lá trống hoác, không
có gì "Nhà lá ba căn xịch xạc, phía ngoài mà chính giữa có dọn một bàn thờ, trước bàn thờ
có lót một bộ ván dầu, lại có một cái ghế nghi bên tay mặt thấy có một cái cối xay lúa, còn
dựa vách thì dựng nào là giằng xay nào là chuôi cày, nào là cần câu, nào là cuốc, phảng
16


bên tay trái thấy có một cái chõng tre nhỏ, còn trên vách thì móc nào là thúng rổ, nào là giỏ,
nào là vòng hái", bữa cơm cũng chỉ là "một chén cơm, chan ít muỗng nước cá vô" (Cha con
nghĩa nặng) ta đã phần nào cảm nhận được sự nghèo đói, cơ cực của người dân nghèo. Đặc
biệt là cách thức miêu tả cuộc sống, sinh hoạt của họ. Anh Sửu sau khi cày cuốc về phải tắm
cho đàn con, thổi lửa nấu cơm, trông con. Chỉ thế thôi đã hết cả một ngày. Sau những mùa
vụ, gặt xong đồng mình, anh còn kiếm thêm bằng cách đi gặt thuê cho người ta nhưng công
xá nhận được cũng chả là bao. Không chỉ tập trung vào lớp dân nghèo, Hồ Biểu Chánh còn
dùng khéo léo dùng ngòi bút của mình để đề cập đến cuộc sống của những tầng lớp thống
trị, những kẻ tham lam, độc ác, luôn tìm mọi cách để ức hiếp, bóc lột dân nghèo. Đó là
những con người tiêu xài xa hoa, trên người lúc nào cũng lụa là gấm vóc, có kẻ hầu người

nghĩa mà người nông dân trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thường làm là những việc rất
bình thường nhưng có nhiều ý nghĩa, không phải ai cũng có thể làm được. Ba Thời vì
thương một đứa trẻ bị bỏ rơi – thằng Được mà cưu mang nó mặc dù lúc đó, cuộc sống của
chị không mấy dư dả, lại còn phải chịu điều tiếng từ người ngoài, đến người chồng sau
nhiều năm trở về nhà cũng không tin, nghi đó là con mà chị ăn nằm với trai mà sinh ra. Nhờ
có ơn cứu mạng và dưỡng dục của chị mà sau đó, thằng bé côi cút ấy cũng tìm được họ
hàng, người thân ruột thịt, giải tỏa được nỗi oan khuất cho người mẹ đáng thương. Hay như
bà Sáu bán cháo đậu đã cho Bạch Tuyết và Băng Tâm ở cùng nhà trong lúc hai cô bơ vơ
giữa đất khách quê người, không nơi nương tựa (Ai làm được).
Đối với người nông dân Nam bộ, chữ “nghĩa” không được hiểu một cách chung chung,
trừu tượng, khô cứng như chữ “nghĩa” của Nho giáo, nó được giải thích một cách cụ thể,
hàm chứa cái gần gũi, mà cũng được ứng dụng phổ biến. Nó không chỉ thể hiện trong mối
quan hệ giữa người với người, mà còn ở những mối quan hệ khác. Nó có thể toát lên từ tình
cảm gắn bó thuỷ chung với xóm làng, mảnh vườn, thửa ruộng hay công việc lao động sản
xuất vốn đã quen thuộc đối với người nông dân. Nông dân Nam bộ thường lấy “đạo nghĩa”
làm phương châm sống và hành động. “Đạo” ở đây được hiểu là ăn ở cho phải đạo, hợp lẽ
phải ở đời. Còn “nghĩa” là nghĩa khí, là ăn ở thuỷ chung, dám xả thân vì việc lớn, không ức
hiếp người thế cô, không phân biệt sang hèn trong cách ứng xử. Biết đạo nghĩa thì mọi tranh
chấp đều có thể được giải quyết trong quan hệ anh em, bè bạn, không cần sự can thiệp của
luật pháp nhà nước. Như cách hành xử của Bà Hội Đồng trong "Cay đắng mùi đời" quả
khiến người ta nể phục cái tâm, cái đức của bà. Dù chị vợ lẽ hợp sức với em trai chồng,
mưu toan hãm hại con bà nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng bà không hề trừng phạt gì nặng
nề, chỉ nhẹ nhàng khuyên giải: "Bây giờ bà con làng tổng mới biết, chớ vợ chồng tôi biết đã
lâu rồi, nhưng vì tôi muốn làm lành đặng để đức cho con ngày sau, nên tôi không muốn làm
hại ai hết. Vậy tôi khuyên chú nó với dì nó đừng có cãi lẫy với nhau nữa; miễn là từ rày sắp
về sau đừng có ở quấy như vậy nữa thì thôi". Về sau, bà còn "biểu Thị Sảnh với thằng Hà
22


qua ở chung một nhà với bà đặng cho anh em nó trìu mến nhau, rồi chừng khôn lớn biết

hết

và

luôn

tìm

cách

bắt

chẹt

dân

nghèo

"Bà Phủ Khánh Long ở trong nhà hễ mở miệng nói với tôi tớ thì lời nào cũng đều đắng cay
hỗn ẩu, bởi vậy từ con Lại ở hầu hạ tới chị Thìn ở nấu ăn, từ thằng sốp-phơ cho tới chú làm
vườn, mỗi ngày chẳng có người nào mà khỏi bị bà chửi một hai lần." . Đối với em dâu,
cháu mình, bà cũng không nể nang gì "hễ nói lời chi, hoặc làm việc chi sai ý bà, thì bà rầy
la om sòm, lấy làm khó chịu lắm" (Tiền bạc bạc tiền). Nhưng cũng chính vì lẽ đó mà bà
khiến cho nhiều người ghi thù, và kết cục, bà bị chính thằng phu lái xe của mình vì căm tức
nên khiến bà phải vong mạng. Trái ngược với cuộc sống của tầng lớp thượng lưu, những
25


người lao động nghèo phải sống trong cảnh chật vật, nghèo khổ, rách rưới, túng thiếu. Tuy
nhiên, bản thân họ vẫn cần cù, chịu khó làm ăn (như đã nói ở trên) và sau đó, chính nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status