Luận văn: Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương - Pdf 30

B GIO DC V ĐO TO
TRƯNG ĐI HC SƯ PHM H NI
o0o
DÊu Ên cña chñ nghÜa hiÖn sinh
trong tiÓu thuyÕt NguyÔn B×nh Ph¬ng
Chuyên ngành: Lý luận văn học
LU(N VĂN THC SĨ KHOA HC NGỮ VĂN
H NI - 2015
LI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.
Nguyễn Thị Hải Phương, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em
trong quá trình hình thành, triển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đồng thời, cho phép em gửi lời cảm ơn tới các thầy, các cô trong Tổ bộ
môn Lý luận văn học, các thầy cô trong khoa Ngữ văn, phòng tư liệu thư viện
trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời
gian học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên,
khích lệ, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót, em kính mong nhận được sự chỉ dẫn góp ý của hội đồng
khoa học, các thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp.
Hà Nội, tháng 7 năm 2015
Người viết
Phạm Thị Thắm
MC LC
MỤC LỤC 2
PHẦN MỞ ĐẦU 1
2.1. Những công trình nghiên cứu về tác phẩm Nguyễn Bình Phương nói chung 2
2.2. Những nghiên cứu mang tính gợi mở về dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương 5
3.1. Đối tượng nghiên cứu 8
3.2. Phạm vi tư liệu khảo sát 8

PHẦN KẾT LUẬN 99
Phạm Thị Thắm
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu triết học nở rộ ở phương Tây
vào đầu thế kỉ XX và gây hiệu ứng mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực của đời sống
cũng như khoa học, trong đó có văn học. Franz Kafca, Jean-Paul Sartre,
Albert Camus… là những gương mặt tác giả tiêu biểu mà tên tuổi gắn liền với
văn chương hiện sinh. Trào lưu văn học này đã có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến
nền văn học của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Những tư
tưởng về nhân vị, tự do, về đời sống nhiều bề bộn, lo âu của chủ nghĩa hiện
sinh đã được các nhà văn Việt Nam thể hiện khá sinh động trong các tác
phẩm của mình.
1.2. Quan sát văn học Việt Nam hiện nay, chúng tôi nhận thấy bên cạnh
việc cách tân mạnh mẽ của thơ và truyện ngắn, thể loại tiểu thuyết đang có sự
chuyển mình và tìm tòi những hình thức nghệ thuật mới tuy có vẻ chậm hơn,
dè dặt hơn. Các nhà viết tiểu thuyết ý thức được rằng, bây giờ vấn đề quan
trọng không phải là viết cái gì mà là viết như thế nào, không phải là kể nội
dung mà là viết nội dung. Và các nhà văn đã nỗ lực tìm hiểu, vận dụng những
kỹ thuật tự sự để nhằm khai thác tiềm năng của thể loại, để cách tân tiểu
thuyết, góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam dần dần thoát khỏi quỹ đạo của
truyền thống, bước đầu hòa nhập với tiểu thuyết hiện đại của thế giới. Gương
mặt tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây nở rộ những tên tuổi mới, trong
số đó có nhà văn Nguyễn Bình Phương. Khởi nghiệp bằng tác phẩm đầu tay
“Bả Giời” (1991) như những bước chập chững đầu tiên vào làng tiểu thuyết
còn nhiều bỡ ngỡ, suốt những năm tháng đó cho đến ngày hôm nay Nguyễn
Bình Phương lần lượt cho ra đời hàng loạt các đầu sách gây ấn tượng trong
lòng công chúng. Đặc biệt với “Người đi vắng” (1999), tác giả vừa được vinh
danh bởi giải thưởng sách hay năm 2014 do viện nghiên cứu phát triển giáo

2
như nhận định bao trùm cho toàn bộ chủ đề tư tưởng trong các tiểu thuyết
của nhà văn Nguyễn Bình Phương.
Ngoài ra, Phạm Xuân Thạch với bài viết “Tiểu thuyết như là một trạng
thái tìm kiếm ý nghĩa của đời sống” đã mở ra nội dung đáng chú ý về tác
phẩm “Ngồi” như một nét độc đáo đưa sáng tác Nguyễn Bình Phương lên
hàng “hiện tượng tiêu biểu” của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Ông nhận
định: “Ngồi” là một cuộc mời gọi đặt vấn đề phản tư về đời sống và ý nghĩa
của đời sống.
Trên khía cạnh ngôn ngữ, Hoàng Quỳnh Nga trong báo cáo khoa học năm
2004 đã đi sâu tìm hiểu phương diện “Lời câm của nhân vật Tính trong tiểu
thuyết Thoạt kỳ thủy”. Đây là điểm khá ấn tượng và nổi bật xuyên suốt toàn bộ
sáng tác tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương. Tác giả chỉ ra hình thức của lời câm
là ngôn ngữ chắp dính, sự phá vỡ quan hệ logic giữa các câu, các câu ngắn, câu
đặc biệt, câu bị khuyết thành phần hoặc bị bẻ gẫy không theo trật tự nào.
Năm 2008, khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Trang Nhung bàn về “Ngôn
ngữ nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”. Từ việc nghiên cứu về đặc
điểm ngôn ngữ và các dạng thức tổ chức ngôn từ nghệ thuật trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương, tác giả phát hiện ra thủ pháp nhại ngôn ngữ gắn liền
với cảm hứng giải thiêng trong sáng tác của ông. Đặc biệt Trang Nhung đã
chạm tới vấn đề vô thức như là một bước đệm tạo sự độc đáo cho ngôn ngữ
nghệ thuật tác phẩm.
Trên khía cạnh kết cấu, Phùng Gia Thế trong bài đối thoại với báo điện
tử Tổ quốc “Một cái nhìn về thực tiễn văn chương hậu hiện đại” đã nhận xét:
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn có nhiều tuyến chạy ngược – xuôi
theo lối kết cấu song hành. Để minh chứng cho điều này ông lấy bốn cuốn
tiểu thuyết nổi bật của tác giả đó là “Những đứa trẻ chết già”, “Thoạt kỳ
thủy”, “Người đi vắng” và “Ngồi” làm ví dụ.
Phạm Thị Thắm
3

đó con người hiện lên với những tâm lý dị biệt như luôn mang nỗi ám ảnh sợ
hãi, trong trạng thái điên và bản năng tính dục. Đây được coi như biểu hiện của
việc chối từ quan niệm điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực, là đóng góp của
Nguyễn Bình Phương trong tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1975.
Bàn về giọng điệu trên trang sách Nguyễn Bình Phương, Hoàng Kim
Phượng có nghiên cứu khá ấn tượng “Chất giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương” (2011). Đi từ việc nhận định giễu nhại là tông giọng chủ đạo của
văn học sau 1975, tác giả đã phân tích một cách có hệ thống những biểu hiện
của nó khi hòa nhập với trang viết nhà văn họ Nguyễn. Từ đó, Hoàng Kim
Phượng đi tới kết luận đây là kiểu giọng điệu mang lại “tiếng cười hài hước”
[75], vạch trần bản chất nhân vật đằng sau tấm mặt nạ đẹp đẽ của con người.
Nhìn chung, việc nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương không
phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Những bài viết và công trình về nhà văn này
được đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau song tựu chung đều không tách
rời nội dung và hình thức. Việc lược sử như trên của chúng tôi tất nhiên
không thể bao quát hết các vấn đề trong sáng tác nhà văn, tất cả chỉ dừng lại ở
nhận định cá nhân người nghiên cứu. Tuy thế xét đến cùng, Nguyễn Bình
Phương đang thật sự thành công trên trên con đường khám phá nghệ thuật
tiểu thuyết.
2.2. Những nghiên cứu mang tính gợi mở về dấu ấn hiện sinh trong
tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Nhà văn Nguyễn Bình Phương trên lộ trình sáng tạo của mình ở thể loại
tiểu thuyết đã trở thành một hiện tượng văn học hết sức độc đáo. Bên cạnh
những công trình đi sâu tìm hiểu tác phẩm, đây đó các bài viết cũng bắt đầu
điểm diện biểu hiện gợi mở cho sự in dấu chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác
nhà văn dưới dạng những ý kiến, nhận định.
Phạm Thị Thắm
5
Thứ nhất, mảng hiện thực đời sống nhiều bề bộn trong sáng tác Nguyễn
Bình Phương được quan tâm chú ý.

Phương xuất hiện con người cô đơn, lo âu mang nhiều ám ảnh.
Phùng Gia Thế trong “Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” đã
đưa ra đánh giá: Nhân vật nơi sáng tác nhà văn họ Nguyễn “là một đám đông
những con người hao hụt nhân tính, méo mó, đầy bản năng, dục vọng, nhiều
thói tật, bệnh hoạn. Họ miên man trong cõi sống mà không có lấy một điểm
tựa. Họ không có thủ lĩnh, sống trong sợ hãi, cô đơn và đáng thương”, “ngụp
lặn miên man giữa hai bờ thực - ảo” [85].
Nguyễn Mạnh Hùng với “Người đi vắng, ai đọc Nguyễn Bình Phương
hay nỗi cô đơn của tiểu thuyết cuối thế kỷ” cho rằng: “Nguyễn Bình Phương
là tiểu thuyết gia đầu tiên ở Việt Nam có ý thức tạo dựng nhân vật bằng một
hệ thống ám ảnh”, “nhân vật không có tiểu sử (lí lịch) cụ thể, không gắn bó
với những sự kiện lịch sử, xã hội, không tồn tại trong một cốt truyện có đầu
đuôi, huyền thoại hóa đời sống sinh hoạt”, “nhân vật của Nguyễn Bình
Phương giấu kín những ám ảnh của mình và sống với nó” [35].
Trong “Tản mạn Nguyễn Bình Phương”, Phùng Văn Khai, một người bạn
văn chương của nhà văn lại nhận định: “… luôn có một nỗi lo mơ hồ nào đó, nỗi
lo về những tai họa bí truyền, phi lí nhưng có thật có thể bất thần đổ ập xuống
đầu” [36] con người đậm đặc trên trang văn tác giả Nguyễn Bình Phương.
Nguyễn Bình Phương là nhà văn rất “kín tiếng” cả trong đời sống riêng tư
lẫn đời sống văn học nhưng những sáng tạo của ông trong văn chương thì rất
giống với lời nói nổi tiếng của Aragon: “Tôi viết ra là để nói ngược lại tôi”-
mạnh mẽ và lôi cuốn, thu hút sự chú ý của dư luận, bạn đọc. Tác phẩm của ông
giống như một hiện tượng “lạ” trên văn đàn. Đó là hệ quả của quá trình nhà
văn không ngừng mạo hiểm cách tân tìm tòi và tiếp thu có chọn lọc ảnh hưởng
của các trào lưu ngoài nước nhằm hiện đại hóa văn học nước nhà.
Phạm Thị Thắm
7
Từ những gì đã trình bày, chúng tôi nhận thấy rằng vấn đề hiện sinh là vấn
đề có ý nghĩa với việc nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương bởi dấu ấn
của nó có một tần suất nhất định trong sáng tác nhà văn. Hơn nữa qua khảo sát

6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tư liệu tham khảo, mục lục,; luận văn
cấu tạo gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và sự biểu hiện của yếu tố
hiện sinh trong văn học Việt Nam.
Chương 2: Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương thể hiện ở cảm quan về hiện thực.
Chương 3: Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương thể hiện ở cảm quan về con người.
Phạm Thị Thắm
9
PHẦN NI DUNG
CHƯƠNG 1: KHI QUT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH V SỰ BIỂU
HIỆN CỦA YẾU TỐ HIỆN SINH TRONG VĂN HC VIỆT NAM
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trên thế giới trong tư cách là một trào lưu
triết học phương Tây hiện đại. Tư tưởng của nó tác động tới nhiều lĩnh vực
trong đời sống, đặc biệt là văn học. Phạm vi ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện
sinh không chỉ đóng khung ở châu Âu nơi nó ra đời mà còn bao quát toàn cầu.
Ngay cả khi đã thoái trào vào những năm 60 của thế kỷ trước thì những thuyết
lý mà chủ nghĩa hiện sinh mang lại vẫn luôn sống động cho tới tận ngày nay,
được tái sinh mỗi khi gặp bối cảnh phù hợp.
1.1. Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh
Cũng như các trào lưu khác, chủ nghĩa hiện sinh hình thành dựa trên
những điều kiện nhất định. Nhìn một cách tổng quan, nó là sản phẩm của ba
yếu tố sau: lịch sử xã hội, nhận thức và tư tưởng.
Thứ nhất, xét về mặt lịch sử xã hội, chủ nghĩa hiện sinh ra đời là hệ quả
tất yếu của hai cuộc đại chiến thế giới. Cuộc thế chiến I và II nổ ra khắp châu
Âu có sức tàn phá vô cùng ghê gớm mọi mặt của đời sống từ kinh tế tới xã
hội đã tạo nên chấn động mạnh trong tinh thần của con người. Khủng hoảng
cùng những hệ lụy chiến tranh đưa lại cảm giác bất an, tâm trạng bi quan,

Kafka… Trong đó, đáng chú ý hơn cả là nhóm nguồn ảnh hưởng thứ nhất bởi
nó có tác động chủ yếu và trực tiếp tới tư tưởng chủ nghĩa hiện sinh sau này.
Kierkegaard (1813 - 1855) và F. Nietzsche (1844 - 1900) là những triết
gia thuộc thế kỷ XIX được xem là nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh. Mặc dù
hoàn toàn đối lập nhau trong quan điểm về sự tồn tại của Thượng đế, dẫn tới
việc sau này chính hai ông đã mở đường cho hai nhánh triết học hiện sinh
Phạm Thị Thắm
11
khác nhau: Hữu thần (Kierkegaard) và vô thần (Nietzsche) nhưng các ông
cũng gặp nhau ở một số điểm chung. Đó là: Họ chú trọng vào con người với
những trải nghiệm chủ quan hơn là những chân lý khách quan của khoa học.
Họ quan tâm tới sự đấu tranh thầm lặng của mỗi cá nhân với sự vô nghĩa của
cuộc sống và việc sử dụng sự giải trí để chống buồn chán. Họ xem xét vai trò
của sự lựa chọn tự do và những lựa chọn đó theo đuổi bản chất của người lựa
chọn như thế nào. Với Kierkegaard, tư tưởng triết học của ông “là một suy
tưởng sâu xa về cuộc đời vì thế nó mang tên là triết học hiện sinh, triết học về
cuộc đời con người” (theo Trần Thái Đỉnh). Khái niệm “hiện sinh” mà triết
gia này đưa ra sẽ trở nên quan trọng về nguyên tắc trong triết học hiện sinh
thế kỷ XX. Với Nietzsche, tư tưởng triết học của ông là giá trị tính chủ thể
của con người “đời sống là giá trị cao nhất, hiện sinh là giá trị uyên nguyên
làm nền tảng cho các giá trị khác”. Bằng triết học của mình, ông đã chuẩn bị
đầy đủ hành trang về giá trị con người để một triết học mang tên chủ nghĩa
hiện sinh nhân vị ra đời.
Bên cạnh triết học Kierkegaard, Nietzsche, triết học đời sống của A.
Schopenhuaer cũng có một tầm ảnh hưởng nhất định tới sự sinh thành của chủ
nghĩa hiện sinh. Một số yếu tố như phương pháp chú giải học để nhận thức
cái tinh thần của Dilthey; thái độ hạ thấp coi thường khoa học và tư duy khoa
học khi nhận thức đời sống bất tận của Nietzsche… trong triết học đời sống
sau này đều tồn tại trong chủ nghĩa hiện sinh. Thậm chí, chủ nghĩa hiện sinh
còn đi xa hơn triết học đời sống khi khẳng định sự bất lực của tư duy khoa

không làm ảnh hưởng nhiều tới tư tưởng chung mà trào lưu triết học này hướng
tới khi cùng quan tâm tới hiện hữu cá nhân như một chân lý nền tảng. Nhìn một
cách tổng quan nhất, chủ nghĩa hiện sinh đặc trưng bởi những tư tưởng sau:
Một là, các nhà hiện sinh gặp nhau ở tư tưởng coi con người như một
“nhân vị”.
Phạm Thị Thắm
13
“Nhân vị của con người chính là hiện sinh của nó, mang bộ mặt riêng
biệt, đặc thù, xa lạ với mọi tính cách phổ quát.
Chủ nghĩa hiện sinh chỉ quan tâm đến cái gì hiện sinh, hay nói cách
khác về sự hiện sinh của cái gì hiện sinh, mà hiện sinh chỉ có ở con người,
không có ở bất cứ vật nào”. (Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở
Việt Nam, Nguyễn Tiến Dũng)
Cái mà chủ nghĩa hiện sinh hướng về là con người nhưng đó không phải
con người phổ quát, con người viết hoa của Aristot, mà là con người như một
nhân vị, là tôi, là anh, là ông A, bà B, chứ không phải con người vô danh, vô
vị. Đề cao chủ thể tính, con người tách khỏi loài vật, tự ý thức về sự hiện sinh
của mình, về thân phận mình trong thế giới hiện tại. Con người hiện sinh luôn
nhìn thẳng vào sự vật với nhãn quan của mình chứ không phải Thượng đế,
thần linh. Và để được hiện sinh, con người luôn tham vọng đạt tới cái mà
người ta muốn trở thành.
“Nhân vị”, theo các nhà hiện sinh bao giờ cũng gắn liền với “tự do”. “Tự
do” đó không ai ban bố cho con người mà con người tự lựa chọn khi hành động,
dám là mình. Cao hơn nữa, “tự do” còn là chọn lấy một lối sống riêng, không bắt
chước người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Sự
tự lựa chọn đó của con người cũng là một giá trị hiện sinh tạo nên một “nhân vị
độc đáo”, vượt khỏi một cuộc sống tầm thường, sống chỉ để sinh tồn.
Hai là, con người với vị trí trung tâm của sự khám phá luôn trở nên độc
đáo, thú vị đối với chính con người (ý của Empedocl, nhà tư tưởng Hy Lạp
cổ) vì vậy khi coi bản thân con người là một “nhân vị” xung quanh chủ nghĩa

mỗi cá nhân phải “tìm thấy cái tôi của mình” rồi sống theo nó.
Thứ sáu, chủ nghĩa hiện sinh còn hướng tới các phạm trù “vươn lên”, “nhập
cuộc” như một thái độ sống, hành vi đầy trách nhiệm không thể thiếu của con người
Phạm Thị Thắm
15
hiện đại. Tư tưởng này được Thánh Augustin, ông tổ triết học hiện sinh thể hiện rất
rõ: “Không tiến là lùi rồi!”. Còn Sartre chủ trương con người phải luôn tiến lên và
tiến lên mãi: “con người phải hành động, và chính nhờ hành động mà tự tác thành
lấy mình”, dừng lại ở một trạng thái nào đó là có nguy cơ trở thành sự vật.
Ngoài những phạm trù trên, chủ nghĩa hiện sinh còn nêu ra nhiều đề tài
khác nữa mang tính tư tưởng sâu sắc.
Như vậy chủ nghĩa hiện sinh với đối tượng hạt nhân là con người đã tập
trung khám phá bảng màu sặc sỡ xung quanh về vấn đề “nhân vị”. Những vấn
đề mà hiện sinh chủ nghĩa đề cập tới về cơ bản đều nằm trong tư tưởng, các
thuyết lý, quan điểm của các nhà triết học lớn. Dù mỗi nhà triết thuyết có một
cách lí giải, một cách biểu hiện nội dung của nó dưới những dạng thức khác
nhau, có khi là tiếp thu ảnh hưởng, có khi là phản đối không đồng tình nhưng
cuối cùng đều đem lại cho trào lưu triết học này một hệ thống khái niệm
tương đối thống nhất như đã trình bày ở trên.
1.3. Sơ lược về sự biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học
Chủ nghĩa hiện sinh về cơ bản là một trào lưu triết học nhưng sức lan tỏa
của nó thì vô cùng rộng lớn, ảnh hưởng và thấm sâu vào toàn bộ các mặt của
đời sống như tôn giáo, đạo đức… nhất là văn học. Triết học thường gắn liền
với văn học vì chúng cùng có một đối tượng chung nhất để hướng tới đó là
con người. Những tư tưởng mà triết học hiện sinh đề cập bởi vậy xâm nhập
vào văn chương một cách tự nhiên và lôi cuốn.
1.3.1. Trong văn học thế giới
Trên thế giới, ngay từ thế kỷ XX, các tác phẩm văn học như: truyện ngắn,
tiểu thuyết, kịch, nghiên cứu văn học đã được các nhà hiện sinh sử dụng để trình
bày quan điểm cá nhân. Điều này lí giải vì sao châu Âu, nơi là cội nguồn của

khi cho rằng tồn tại có trước bản chất, nó nhấn mạnh sự hoạt động tích cực
Phạm Thị Thắm
17
của mỗi cá thể. Con người không đứng yên bất động, tồn tại như cái gì đó đã
được xác định mà luôn sống động, phải lựa chọn và có ý thức chịu trách
nhiệm với bản thân. Nói cách khác, vũ trụ và con người chỉ là hữu thể . Vũ trụ
chỉ tồn tại khi có ý nghĩa đối với cuộc sống con người. Mỗi cá nhân chỉ hiện
sinh khi kinh qua việc thử nghiệm cuộc sống, bản thân ý thức được, lúc ấy họ
mới hiện hữu. Do vậy con người không chỉ như anh ta quan niệm, mà còn
như anh ta muốn sau khi đã ao ước sống; con người không là gì khác ngoài
cái mà bản thân anh ta tự làm nên (ý của Sartre). Đó là nguyên tắc đầu tiên
của thuyết hiện sinh. Đó cũng là cái mà người ta gọi là tính chủ thể.
Lịch sử văn học hiện sinh thế giới gắn liền với một loạt những tên tuổi lớn
hoặc đồng thời là những triết gia hiện sinh, hoặc tác phẩm của họ mang đậm tính
luận đề triết học hiện sinh như: J. P. Sartre, Simone de Beauvoir, Merleau Ponty,
Hermann Hesse, A. Camus, F. Kafka, Alfred Doeblin, Iris Murdoch, James
Baldwin, Abe Kobo, Norman Mailer, Samuel Becket, Ionexco… Trong đó, F.
Kafka là người đầu tiên sáng tác những tác phẩm mang đậm chất hiện sinh và J.
P. Sartre, A. Camus được coi là ba tác giả văn học hiện sinh “chính thống” nhất.
F. Kafka (1883 – 1924) được coi là con chim đầu đàn của văn học hiện
sinh Đức. Các sáng tác của ông đều thấm đẫm tư tưởng hiện sinh, nhưng biểu
hiện tập trung nhất qua hai cuốn “Vụ án”, “Lâu đài”. Cặp đôi tiểu thuyết này
phản ánh một đời sống hiện thực nhiều phi lý bao quanh con người. Ở đó, xã
hội không khế ước, không có sự đảm bảo, con người bị buộc tội bất kì thời
điểm nào, không có quyền được khiếu nại hay xét xử. Thậm chí, xã hội ấy
đường phố không tên, con người không tên hoặc chỉ là những chữ cái viết tắt
và hầu như chẳng nhân vật nào làm công việc của mình tất cả bao trùm bởi
bầu không khí ảm đạm và khó hiểu. Josef K và K là hình ảnh tượng trưng cho
thân phận con người trong thế giới phi lý ấy. Họ luôn sống trong bất lực và lẻ
loi, cô đơn và mang nặng tâm trạng lo âu, bất an khôn cùng trước bể đời dầy

19
tư tưởng hiện sinh triết học, là lời giải nghĩa xác đáng nhất cho hàng loạt
những lý thuyết mà Sartre nêu ra.
Với A. Camus, văn học cũng thực hiện nhiệm vụ của triết học. Viết “Kẻ
xa lạ” (tiểu thuyết, 1942) và “Dịch hạch” (tiểu thuyết, 1947) ông xây dựng
nhân vật Merseau và Bernard Rieux, Jean Tarrou để chỉ ra sự vô nghĩa của
cuộc sống, sự nổi loạn của con người, điều xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng
cũng như lý luận của chủ nghĩa hiện sinh mà ông theo đuổi. Merseau (“Kẻ xa
lạ”), coi tình mẫu tử, tình yêu đôi lứa, giết người, cái chết… chẳng có gì quan
trọng cả. Anh ta khước từ các chuẩn mực xã hội áp đặt lên hành vi của bản
thân và muốn sống đích thực với chính con người mình. Bởi thế, Merseau là
kẻ lạc loài, xa lạ với xã hội và anh ta bị xã hội kết án. Bernard Rieux (bác sĩ),
Jean Tarrou (trí thức) (“Dịch hạch”) cùng sống trong thành phố Oran bị dịch
chuột lan rộng, mất kiểm soát. Nhưng họ không giống như phần đông những
con người còn lại của thành phố vì sợ bệnh dịch mà hoặc sống trong hãi hùng,
hoặc tìm những thú vui quên nỗi lo âu, hoặc “thản nhiên lợi dụng cảnh khốn
chung” để làm giàu. Họ can đảm, không tuyệt vọng, bằng những phương tiện
ít ỏi mà chống lại sự hoành hành của bệnh. Rieux có suy nghĩ đơn giản nhưng
quyết liệt: “nếu không điên thì cũng mù, không mù thì cũng hèn nhát mới cam
chịu buông tay trước dịch hạch”, “sức lực tôi đến đâu thì tôi bảo vệ họ đến
đó…”. Những lời nói, hành động của Rieux đã thuyết phục được nhiều người,
trong đó có Jean Tarrou đã tình nguyện đứng lên chống lại bệnh dịch.
“Kẻ xa lạ”, “Dịch hạch” đã thể hiện rất rõ những tư tưởng của A. Camus
về cái “phi lý” và sự “nổi loạn”, nhân vật trong hai tiểu thuyết chính là con
người xa lạ trong xã hội phi lý, nhưng họ luôn có ý thức chống lại cuộc sống
máy móc, mờ nhạt, sống không mục đích, không nhận thức được cả ngay
chính bản thân mình. A. Camus một mặt tiếp tục Kafka là người đẩy quan
niệm về cái phi lý lên đến đỉnh điểm, mặt khác ông đề cập tới sự nổi loạn như
Phạm Thị Thắm
20

Trích đoạn Hiện thực mang màu sắc phi lý Hiện thực chứa nhiều bất trắc Con người lo âu, hoài nghi Con người cô đơn, lạc loài CON NGƯỜI VỚI KHÁT VỌNG DẤN THÂN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status